Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát

          Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni

 Đời Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma dịch

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng thuật tại Phật Giáo Giảng Đường, San Francisco, Hoa Kỳ, năm 1969  

 

(tiếp theo)

KINH VĂN:

Âm: PHẬT CÁO A-NAN: “NHƯỢC HỮU QUỐC ĐỘ, TAI NẠN KHỞI THỜI, THỊ ĐỘ QUỐC VƯƠNG, NHƯỢC DĨ CHÁNH PHÁP TRỊ QUỐC, KHOAN TÚNG NHÂN VẬT, BẤT UỔNG CHÚNG SANH, XÁ CHƯ HỮU QUÁ, THẤT NHẬT THẤT DẠ, THÂN TÂM TINH TẤN, TỤNG TRÌ NHƯ THỊ ĐẠI BI TÂM ĐÀ-LA-NI THẦN CHÚ, LINH BỈ QUỐC ĐỘ, NHẤT THIẾT TAI NẠN TẤT GIAI TRỪ DIỆT, NGŨ CỐC PHONG ĐĂNG, VẠN TÁNH AN LẠC.”

Nghĩa: Đức Phật bảo ngài A Nan: “Nếu có đất nước nào khi tai nạn nổi lên mà vị quốc vương của nước đó biết lấy Chánh Pháp để trị quốc, khoan túng với người và vật, không làm oan uổng chúng sanh, ân xá những kẻ có tội, và bảy ngày bảy đêm thân tâm luôn tinh tấn tụng trì thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni này; thì sẽ khiến cho trong đất nước ấy tất cả tai nạn đều tiêu tan, ngũ cốc được dồi dào, dân chúng được an lạc.”

LƯỢC GIẢNG:

Đức Phật bảo ngài A Nan. Sau khi thuyết phần kinh văn trên xong, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn giả Khánh Hỷ, tức là Tôn giả A Nan, vị tổ thứ hai của Ấn Độ, rằng: “Nếu có đất nước nào khi tai nạn nổi lên…”

Thế nào gọi là “tai”? Thế nào gọi là “nạn”? “Tai” thì có tam tai, tức là ba thứ tai ương-thủy tai, hỏa tai và phong tai. “Nạn” thì có bát nạn, tức là tám sự khó khăn. Thật ra, “nạn” không phải chỉ có tám mà là rất nhiều loại. Phàm gặp những sự việc mà mình không dễ gì vượt qua được, thì đều gọi là “nạn”; và lúc bấy giờ trong lòng thường cảm thấy rất buồn bực, khó chịu. Cho nên, có khi người ta ghép chung với chữ “kiếp”, thành ra “kiếp nạn”.

“Kiếp” là tiếng Phạn, vốn đọc là “kiếp-ba”; dịch sang tiếng Trung Hoa là “kiếp”. Chữ kiếp () này gồm có chữ khứ () và bên cạnh có thêm chữ nhận ( lưỡi dao); ý nói là đi tới chỗ lưỡi dao. Chữ “kiếp” lại ngụ ý rằng không dễ gì mà vượt qua, cũng ví như lưỡi dao đi xuyên qua người của quý vị thì quý vị sẽ bị giết chết vậy. Cho nên, đây gọi là “kiếp nạn”. Thật ra, những trận thủy tai, hỏa tai, phong tai, hoặc động đất, mưa gió bão lụt, đại hồng thủy, hay dịch bệnh truyền nhiễm… đều được gọi là “tai nạn” cả.

Khi trong một nước có xảy ra tai nạn, “mà vị quốc vương của nước đó biết lấy Chánh Pháp để trị quốc…” Giả sử rằng vị vua của đất nước này là người sùng bái Phật Pháp, hoặc thọ trì Ngũ Giới, tu hành Thập Thiện, thực hành Bồ Tát Đạo; và có thể “khoan túng với người và vật.” “Khoan” là rộng lượng; “túng” là phóng thích, thả ra. Không giam giữ người dân trong ngục tù thì gọi là “khoan túng”. Không bắt nhốt cầm thú trong lồng hay trong chuồng cũng gọi là “khoan túng”.

“Không làm oan uổng chúng sanh.” Chữ “uổng” ở đây được hiểu là “uổng sát” (giết oan). “Bất uổng” tức là không tùy tiện sát hại chúng sanh một cách oan uổng; và cũng hàm ý là đoạn trừ tâm hiếu sát, không giết hại chúng sanh.

“Ân xá những kẻ có tội.” Bất luận người dân có phạm những tội lỗi gì, nhà vua đều tha thứ cho họ, buông tha họ, không trách phạt họ.

“Và bảy ngày bảy đêm thân tâm luôn tinh tấn.” Trong suốt bảy ngày bảy đêm, vị quốc vương đó thân tinh tấn, tâm cũng tinh tấn--cả thân lẫn tâm đều tinh tấn; tinh tấn làm việc gì? Đó là tinh tấn “tụng trì thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni này.” Lại nữa, nếu cả ngày lẫn đêm vị quốc vương ấy đều siêng năng trì niệm Chú Đại Bi, tu pháp môn Tổng Trì Đà-La-Ni, “thì sẽ khiến cho trong đất nước ấy, tất cả tai nạn đều tiêu tan.” Chính bản thân vị quốc vương trông mong điều gì? Đó là mong sao tất cả tai nạn, bất luận là đại nạn hay tiểu nạn, tam tai bát nạn hay tam tai cửu nạn, thậm chí là tam tai thập nạn đi nữa, thì tất cả đều bị tiêu trừ, không còn xảy ra cho đất nước của mình nữa.

“Ngũ cốc được dồi dào.” “Ngũ cốc” là năm loại cây lương thực—thóc lúa, cao lương (kê), ngô (bắp), lúa mạch, và các thứ đậu. Đây là tất cả những cây lương thực mà đất nước này trồng trọt. “Phong” là phong túc, tức là dồi dào, đầy đủ; “đăng” có nghĩa là được mùa, ngũ cốc đầy kho.

“Dân chúng được an lạc.” “Vạn tánh” là “lão bá tánh,” tức là muôn dân, nhân dân trong nước. Bấy giờ, người dân ở đất nước đó sẽ không gặp phải tai họa, thảy đều được sống trong sự an lạc. Nếu ăn không được no, mặc không đủ ấm—tức là còn chịu khổ sở, là chưa được an lạc vậy.

Lần này, về phương diện tên gọi và thứ lớp của năm người xuất gia này—ba vị Tỳ-khưu, hai vị Tỳ-khưu-ni—đều là bất khả tư nghì! Trong số năm người này, người xuất gia trước nhất là Quả Tiền; khi chú ấy thọ quy y thì được tôi đặt tên là “Quả Tiền,” và quả nhiên chú đã xuất gia trước những người khác. Có kẻ muốn tranh đua, chạy tới giành đứng phía trước chú, nhưng rồi cũng không qua mặt được, bởi vì chú đã ở đằng trước rồi!

Còn Quả Ninh, vì trước đây trong lòng thường cảm thấy bứt rứt bất an; bất an về điều gì? Tự trong tâm mình dằn vặt, trăn trở rất lâu: “Làm thế nào mới phải?” Do đó, khi quy y, tôi đặt tên cho chú ấy là Quả Ninh, và tự là Hằng Tịnh, vì muốn cho chú ấy luôn được “an ninh”. Quả Tiền thì tự là Hằng Khiêm, tức “khiêm hư” (khiêm tốn, khiêm nhượng).

Người thứ ba là Quả Hiện, tôi cũng không hiểu vì sao lại đặt cho Quả Hiện cái tên này! Vốn là Quả Tiền xuất gia trước và thọ giới Sa Di trước Quả Hiện; nhưng tôi lại không nói cho rõ ràng mà chính chú ấy cũng không hiểu rõ cho lắm.

Lần này đi thọ giới, Quả Hiện không được đi, vì chú ấy đã nổi nóng và tự cầm dao chặt đứt một ngón tay của mình; thiếu mất một ngón tay thì đành phải thọ giới trễ một chút vậy. Lúc chặt ngón tay, chú ấy không cho tôi biết; nếu chú thưa với tôi trước, hỏi tôi một tiếng, rằng: “Con muốn chặt ngón tay có được không?”, thì có lẽ đã không bị tụt lại đằng sau như thế. Chú ấy đã không nói rõ với tôi, mà âm thầm chạy tới nhà bếp tự chặt đứt một ngón tay, và làm cho tấm thớt cắt rau cải bị ô uế. Tôi nói là cũng còn dùng được, cho nên không cần phải thay tấm thớt mới! Ây da, như thế vẫn dùng tấm thớt đó để cắt rau cải thì ăn vào có thể bị thành tinh không? Cũng chẳng hề chi, thì thành yêu tinh thôi! Quả Hiện vì thế mà phải nằm bệnh viện mất mấy hôm, nay thì Quả Tiền đã đi Đài Loan trước rồi!

Trong số các Tỳ Khưu Ni, Quả Dật xin xuất gia trước cho nên sẽ đứng trước Quả Tu; Quả Tu thì xin xuất gia sau, cho nên xếp theo thứ tự thọ giới mà tính thì cô ta đứng hàng thứ tư trong số các Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni.

Chuyến này sang Đài Loan, quý vị nhất định phải giữ gìn đạo phong của Phật Giáo Giảng Đường chúng ta! Không nên đến Đài Loan rồi thấy người ta ai nấy đều một ngày ăn hai, ba bữa—sáng sớm ăn, chiều tối ăn, giữa trưa cũng ăn nữa—thì mình bèn cũng ăn chút đỉnh. Quý vị muốn ăn ư? Được thôi, có điều là như thế thì e rằng đối với nền Phật Giáo của đất nước Hoa Kỳ sẽ không được tốt đẹp cho lắm! Nếu quý vị nhất định nói rằng: “Tôi muốn làm đảo lộn Phật Giáo Hoa Kỳ một phen, không để cho nó phát triển theo chiều hướng tốt!”; thì quý vị có thể tuỳ ý, muốn ăn ngày hai bữa hay ba bữa đều được cả! Đây là vì quý vị sang Đài Loan rồi bị ảnh hưởng của nơi đó, chứ không phải vì nghe theo lời giáo hóa của Sư Phụ, không phải vì học pháp của Sư Phụ—mà là do học các pháp tu của Đài Loan. Tôi không ép buộc quý vị phải miễn cưỡng nghe lời tôi.

Có câu:

Sư phụ lãnh tiến môn,

Tu hành tại cá nhân.

(Sư Phụ dẫn tới cửa,

Tu hành do mỗi người!)

Hiện tại đã vào trong cửa của Phật Giáo, có thể nói rằng tôi đã đưa quý vị bước vào bên trong cửa rồi. Khi quý vị còn mê muội thì tôi dẫn dắt quý vị tới tận cửa; nay quý vị khai ngộ rồi, thì quý vị phải làm gì là đều do chính quý vị tự định đoạt. Sau khi thọ giới rồi, quý vị thích làm gì thì đó là chuyện riêng của quý vị!

Hôm nay tôi đem tên mà tôi đặt cho quý vị ra để sắp xếp, trong sự âm thầm lặng lẽ có một thứ cảnh giới bất khả tư nghì. Tên mà tôi đặt cho quý vị—không riêng gì quý vị mà đối với mọi người cũng vậy—tất cả đều có nhân duyên của nó. Việc này tuy không phải là to tát cho lắm, song cũng không phải là chuyện nhỏ nhặt, bởi nó có liên quan đến vấn đề tiền nhân hậu quả.

Lúc Đại Sư Liên Trì thọ giới, Ngài đến trước bàn thờ Phật, lạy Phật, niệm Phật, lạy sám hối và được Phật đến rờ đỉnh đầu, truyền giới; đồng thời Đại Sư Trí Giả cũng đến truyền giới cho Ngài. Do đó, Đại Sư Liên Trì không đến Đài Loan, cũng chẳng tới Hương Cảng, mà vẫn đắc được Cụ Túc Giới!

Hiện nay, nếu Quả Hiện thành tâm một chút, có thể siêng năng lạy Phật, niệm Phật, thì không chừng sẽ đắc được Cụ Túc Giới ngay tại đây; tuy nhiên, chú ấy có đắc giới hay không thì tôi đều biết rõ. Nếu đắc giới, thì càng tốt; nếu chưa đắc giới, thì cứ từ từ lại càng tốt hơn nữa. Đắc hay không đắc thì đều nên từ từ mà thỉnh cầu, thế nào cũng được Bồ Tát đến gia trì cho!

Quý vị đến Đài Loan thọ giới, cần ghi nhớ là phải dũng mãnh tinh tấn, chớ nên chẳng có chút tinh tấn gì cả. Nếu Quả Hiện, người ở lại, không được đi Đài Loan, thật sự “hiện thân thuyết pháp,” đắc được giới rồi; còn quý vị sang tận Đài Loan mà lại không đắc giới, thì quý vị thật là uổng công phí sức vậy! Ôi……..!

(còn tiếp)