Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát

          Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni

 Đời Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma dịch

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng thuật tại Phật Giáo Giảng Đường, San Francisco, Hoa Kỳ, năm 1969  

 

(tiếp theo)

KINH VĂN:

 

Âm: “HỰU NHƯỢC VI Ư THA QUỐC OÁN ĐỊCH, SÁC LAI XÂM NHIỄU, BÁ TÁNH BẤT AN, ĐẠI THẦN MƯU PHẢN, DỊCH KHÍ LƯU HÀNH, THỦY HẠN BẤT ĐIỀU, NHẬT NGUYỆT THẤT ĐỘ, NHƯ THỊ CHỦNG CHỦNG TAI NẠN KHỞI THỜI, ĐƯƠNG TẠO THIÊN NHÃN ĐẠI BI TÂM TƯỢNG, DIỆN HƯỚNG TÂY PHƯƠNG, DĨ CHỦNG CHỦNG HƯƠNG HOA, TRÀNG PHAN BẢO CÁI, HOẶC BÁCH VỊ ẨM THỰC, CHÍ TÂM CÚNG DƯỜNG...”

Nghĩa: “Lại nếu bị nước thù nghịch khác rất nhiều lần xâm lấn, quấy nhiễu khiến dân chúng không được yên ổn; đại thần mưu phản; dịch bệnh lan tràn; mưa lụt, hạn hán bất thường; mặt trời và mặt trăng mất điều độ; khi các loại tai nạn như thế xảy ra thì nên tạo tượng Thiên Nhãn Đại Bi Tâm day mặt về hướng Tây, rồi đem các thứ hương, hoa, tràng phan, bảo cái, hoặc trăm món đồ ăn thức uống mà chí tâm cúng dường…”

 

LƯỢC GIẢNG:

Oai lực của Chú Đại Bi là bất khả tư nghì; sự vi diệu của Chú Đại Bi là bất khả tư nghì; và sự cảm ứng của Chú Đại Bi cũng là bất khả tư nghì.

 [Đức Phật nói tiếp:] “Lại nếu bị nước thù nghịch khác” “Hựu” tức là lại thêm nữa; lại có một lực lượng khác, lực lượng nào? Không phải của nước mình mà là của nước oán địch khác. “Oán địch” có nghĩa là có cừu oán, thù nghịch.

“Rất nhiều lần xâm lấn, quấy nhiễu” Tiếng Trung Hoa, chữ “số”「數」vốn được đọc là “shù” (音樹), nhưng ở đây thì đọc là “shuò”(音朔)và có nghĩa là rất nhiều. Đây là chữ trong Luận Ngữ, nằm ở câu “sự quân sác, tư nhục hỹ!” Cho nên, quý vị nào đã từng đọc sách Luận Ngữ, thì sẽ biết đây là chữ “sác” (âm shuò); nếu chưa hề xem qua sách Luận Ngữ, thì quý vị sẽ cho đây là chữ “số” (âm shù). Thật ra, đọc là “số” thì cũng được, vì cũng có nghĩa là “nhiều”; thế nhưng, đọc là “sác” thì hàm ý là “rất nhiều lần”-rất nhiều lần bị nước thù nghịch khác xâm lấn, nhiễu loạn.

Thế nào gọi là “học thức”? Như trường hợp chữ “sác” này chẳng hạn, nếu là người không có học thức thì sẽ đọc là “số”; nhưng nếu quý vị có học thức thật sự thì cho dù không được ai chỉ bảo, quý vị vẫn biết và đọc là “sác”. Có người sẽ thắc mắc: “Thế chẳng hay Thầy có học thức chân thật chăng?” Tôi không có học thức chân thật, vẫn còn là thứ học thức “giả thật” mà thôi! “Vậy thì tại sao Thầy lại biết mà đọc như thế?” Chẳng qua là có nhiều người đọc như thế, cho nên tôi cũng cứ thế mà đọc theo thôi!

 “Dân chúng không được yên ổn.” Dân chúng trong quốc gia đó đều sống trong sự lo sợ, bất an; vì sao? Vì có bọn thổ phỉ thường tới cướp bóc.

“Đại thần mưu phản.” “Đại thần” là những người làm quan. “Mưu phản” tức là có người trong số đó âm mưu tạo phản, thành ra cuộc “tạo phản hữu lý”.

“Dịch bệnh lan tràn.” “Dịch” tức là ôn dịch. Giống như hiện nay, có những lúc xuất hiện bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh lan tràn khắp nơi. Ban đầu, bệnh dịch chỉ xuất hiện ở một địa phương, sau đó thì lan rộng cả thành phố. Thứ dịch bệnh này, quý vị đừng tưởng nó chỉ là một thứ dịch bệnh đơn thuần mà thôi đâu—đó đều là do bọn dịch quỷ làm ra. Dịch quỷ phóng ra dịch độc, người nào hít phải khí độc thì liền sanh bệnh, sẽ bị lây truyền bệnh cảm cúm.

 “Mưa lụt, hạn hán bất thường.” Thế nào là mưa lụt bất thường? Ví dụ đáng lẽ trời mưa một tháng thì lại mưa dầm dề suốt cả ba tháng, khiến cho các thứ hoa màu đều bị ngập úng vì nước ứ đọng quá nhiều. Tôi nghĩ rằng quý vị không thể không hiểu được điều này.

Còn hạn hán là thế nào? Vốn dĩ phải có mưa nhưng trời lại không đổ mưa, cả ngày từ sáng đến tối không có giọt nước mưa nào cả.

Bây giờ, nhân Trương Quả Huệ và Đàm Quả Thức đều có mặt ở đây, tôi sẽ kể về vận may của tôi, mong hai vị hãy làm chứng để mọi người tin tưởng lời tôi, đây không phải là tôi nói khoác lác. Ở Hương Cảng, cứ cách một khoảng thời gian là bị nạn hạn hán; và có một năm nọ, suốt hơn nửa năm trời mà không có một giọt mưa nào cả, khiến dân chúng toàn Hương Cảng hằng ngày đều phải hạn chế lượng nước sử dụng trong sinh hoạt, không có đủ nước để uống.

Trước kia, ở Tây Lạc Viên vốn không có nước, nhưng từ khi xây cất thành Chùa Tây Lạc Viên thì nơi đây lại có nước–nước từ trong khe đá chảy ra! Ban đầu, lúc mới có nước chảy ra, thì tôi gặp rất nhiều chuyện phiền phức. Phiền phức thế nào ư? Hàng xóm láng giềng đều đổ xô đến để giành lấy nước! Vừa thấy ở chỗ tôi có nước là lập tức hết người này đến người kia đem thùng đến giành nhau hứng nước, họ xếp cả hàng dài có hơn hai mươi mấy cái thùng chuẩn bị để đựng nước. Về sau, không còn cách nào khác, tôi đành phải dùng lưới sắt rào lại; nhờ đó mà không còn ai đến tranh giành lấy nước nữa. Này Trương Quả Huệ, sự việc lúc đó có phải là như thế không?

Bấy giờ, có một dạo suốt cả sáu tháng không có mưa, nguồn nước trong Tây Lạc Viên của tôi cũng khô cạn, lượng nước từ trên núi chảy xuống rất ít ỏi và lại nồng nặc mùi lưu huỳnh, không thể dùng để nấu ăn hay uống được. Lúc đó có Lưu Quả Quyên, mọi người còn nhớ không? Bấy giờ, tôi đã ra lệnh cho Lưu Quả Quyên rằng: “Nội trong ba ngày con phải cầu xin cho được mưa xuống! Con phải ngày ngày niệm Phật cầu nguyện, nếu cầu mà không được thì đừng đến gặp mặt Sư Phụ nữa!” Tôi đã nói với bà ta như vậy đấy. Lưu Quả Quyên nghe tôi ra lệnh như vậy thì hoảng hốt, bởi vì điều làm bà ta lo sợ nhất là không được gặp Sư Phụ. Vì thế cho nên việc gì bà ta cũng chấp nhận, miễn sao bất cứ lúc nào cũng có thể được gặp Sư Phụ! Người đệ tử lão thành này do hoang mang, lo sợ nên ngày ngày đều cầm xâu chuỗi trong tay chăm chỉ niệm Phật, bận rộn niệm Chú Đại Bi, khoảng ba hôm liền quên ăn quên ngủ, cứ lo là không cầu được mưa!

Trong thời gian hơn nửa năm ấy, tất cả các Phật Đường, chùa chiền, am miếu, trai đường, Đông Phổ Đà, Tây Phổ Đà… ở Hương Cảng đều cầu mưa, song cầu xin ròng rã suốt mấy tháng trời mà trời vẫn chưa đổ mưa. Ở chỗ tôi, sau khi tôi kỳ hạn cho Quả Quyên nếu nội trong ba ngày mà cầu không được mưa thì đừng đến gặp mặt tôi, thì chỉ khoảng hai ngày rưỡi sau là trời bắt đầu đổ mưa. Trời vừa đổ mưa thì tất cả các Phật Đường đều rầm rộ đăng báo “quảng cáo”—nơi này thì nói rằng: “Cơn mưa này là nhờ chúng tôi cầu nguyện mà được đấy!”; nơi khác lại đưa tin: “Cơn mưa này là do Phật Đường chúng tôi cầu xin đấy!” Ái chà! Tất cả các Phật Đường đều có công lao, duy chỉ có Chùa Tây Lạc Viên là không báo công cũng chẳng báo đức; và mưa thì cứ thế mà trút xuống!

Vì sao lại xảy ra chuyện như thế? Vì sao tôi lại hạn định cho Quả Quyên nội trong ba ngày phải cầu cho được mưa? Thật ra, tôi nói cho quý vị biết, không cần phải đợi tới ba ngày mà ngay trong ngày hôm đó, nếu tôi bảo mưa thì trời sẽ đổ mưa ngay; tuy nhiên, tôi muốn cho người đệ tử kỳ cựu này niệm Phật nhiều hơn, tích lũy công đức nhiều hơn, cho nên tôi đã giao công việc này cho bà, bảo bà vì mọi người mà cầu mưa.

Tôi biết rằng không cần phải đợi tới ba ngày mà chỉ nội trong một ngày, tôi muốn có mưa thì sẽ có mưa ngay; vì sao? Vì tôi có mười đệ tử là rồng, và cả mười chú rồng này, hễ tôi bảo chú rồng nào làm mưa thì chú ấy đều mưa xuống cho tôi một ít nước. Cũng giống như sáu đệ tử xuất gia người Mỹ của tôi hiện nay vậy–tôi bảo họ làm gì thì họ đều răm rắp làm theo; nếu người nào không vâng lời thì tôi cũng không cần đến người đó nữa, tôi chẳng cưỡng ép ai cả. Cũng như chú tiểu Sa-di không chịu nghe lời tôi răn dạy, tự chặt đứt một ngón tay của mình nên đã bị đuổi ra khỏi chùa; bây giờ, sau mấy tháng, chú ấy xin được về chùa lại. Tôi tự nghĩ: “Không đúng! Bất luận chú ấy có chịu nghe lời hay không, thì cũng phải đợi một thời gian nữa xem sao!” Thế là tôi cho phép chú ấy trở về chùa. Ban đầu thì cũng có rất nhiều người phản đối, không muốn cho chú ấy trở về, nhưng tôi bảo là không nên ngăn cấm chú ấy trở về, và thế là chú ấy đã về chùa lại rồi.

Tôi lại chuốc lấy phiền phức rồi! Phiền phức vì chuyện gì? Có một người đến tìm tôi và khi gặp tôi thì liền chất vấn: “Bộ Thầy nói thành phố San Francisco không động đất thì sẽ không động đất hay sao? Lời Thầy nói đã chẳng thành hiện thực!”  

Không sai! Hôm mồng một tháng ba năm ngoái, có người nói là vào khoảng tháng tư hoặc tháng năm, sẽ có trận động đất xảy ra ở thành phố San Francisco, thì tôi có nói rằng: “Tôi không cho phép đất chấn động!”

Tôi đã cả gan dám thốt ra lời “đại ngôn,” khoác lác to lớn như thế! Lời nói này xem ra chỉ lớn bằng một hạt bụi! “Hễ ngày nào tôi còn ở thành phố San Francisco, thì tôi sẽ không cho phép đất nơi này chấn động! Đến khi nào tôi rời khỏi nơi này, thì tôi mới không còn quan tâm đến nó nữa mà thôi!” Nói về địa chấn, thì tôi có thể nói như thế này: Đối với đại địa chấn thì tôi sẽ khiến cho nó nhỏ bớt một chút; còn nếu là tiểu địa chấn thì tôi sẽ khiến cho nó không xảy ra!

Hồi năm ngoái, có người tin tưởng lời tôi và bảo tôi đừng rời khỏi San Francisco, bởi vì nếu tôi đi rồi thì sợ rằng thành phố này sẽ bị chìm dưới đáy biển, chẳng có cách nào cứu vãn được! Nghe họ nói như thế, tôi bèn trấn an họ rằng: “Quý vị chớ lo sợ, San Francisco sẽ không bị động đất đâu!” Có nhiều người cho rằng chắc chắn là tôi không đúng, bởi họ dựa trên sự tính toán khoa học. Tôi nói rằng tôi cũng tính toán vậy, và theo cách tính toán không khoa học của tôi thì sẽ không có động đất xảy ra. Tôi dám lớn tiếng khẳng định: “Tôi không cho phép đất chấn động! Quý vị hãy yên tâm đi!” Thế nhưng, một số người giàu có không tin, bèn dọn đi khỏi San Francisco. Có một số người lại không sợ; vì không sợ, nên chẳng thèm có động tĩnh gì!

Cuối cùng, có động đất xảy ra đấy, nhưng cơn chấn động này có cường độ rất nhỏ; vì sao lại được như thế? Đó là do tôi đã bảo chư vị hộ pháp phải ủng hộ. Tôi biết rằng thiên long bát bộ, chư thiện thần hộ pháp, nhất định sẽ ủng hộ, che chở cho chúng ta; vì sao? Vì chư thiên long bát bộ hộ pháp sẽ không hại người!

Hoặc là trong quốc gia đó xảy ra hiện tượng “mặt trời và mặt trăng mất điều độ. “Nhật” là mặt trời, tức là ban ngày; “nguyệt” là mặt trăng, tức là ban đêm; “thất độ” là thất thường, mất cân bằng—có lúc thì mặt trời chiếu gay gắt, có lúc thì mặt  trăng tròn dịu mát. Hiện tượng này không phải là gia tăng dần dần từng ngày một, hoặc là mỗi ngày mỗi giảm thiểu từ từ; mà là khoảng cách đột nhiên kéo dài hoặc đột nhiên thu ngắn lại. Đây gọi là “nhật nguyệt thất độ”, là không cân bằng; và chính là biểu hiện của một loại thiên tai.

“Khi có các loại tai nạn như thế xảy ra thì nên tạo tượng của Thiên Nhãn Đại Bi Tâm–tức là Bồ Tát Quán Thế Âm–mặt day về hướng Tây.” Bấy giờ, cần phải tạc tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và đặt tượng quay mặt về hướng Tây. Bởi vì Đức Phật A Di Đà thì ở phương Tây và là thầy của Bồ Tát Quán Thế Âm, cho nên đặt tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn về hướng thầy mình là tỏ lòng cung kính của người đệ tử.

Như sáu người đệ tử của tôi, khi nghe có người khen ngợi sư phụ của họ, rằng: “Thật là bất khả tư nghì! Thầy của quý vị quả đúng là có thần thông! Ông ta nói ra điều gì cũng linh nghiệm cả. Chà! Nói có mưa là có mưa xuống ngay!”; thì họ không hoan hỷ cho lắm. Thế nhưng, nếu có người nhục mạ sư phụ của họ ngay trước mặt họ, như nói rằng: “Ông Sư phụ của quý vị cái gì cũng không hiểu cả, quý vị theo ông ta thì học được cái gì chứ? Quý vị càng học thì càng ngu si hơn, càng học lại càng mê muội thêm mà thôi!”; thì có thể họ liền tức tối đáp trả: “Mấy người dám ăn nói như thế à? Tôi phải đánh chết mấy người!” Và, như thế là họ sắp phạm giới rồi, có phải vậy không? Thế nhưng, họ không nên làm như thế. Họ cần phải nhịn nhục. Họ phải biết nhẫn nại!

 “Rồi đem các thứ hương hoa, tràng phan, bảo cái, hoặc trăm món đồ ăn thức uống mà chí tâm cúng dường.” Sau khi thiết đặt tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, quý vị hãy thành tâm dâng cúng các loại hương, các loại hoa, cùng tràng phan bảo cái và cả trăm món ăn thức uống. Chí tâm cúng dường cho ai? Đó là cúng dường cho Bồ Tát Quán Thế Âm!

(còn tiếp)