30. Ngài Ðàm Ma Mật Ða (Pháp Tú).
Ngài Ðàm Ma Mật Ða (Dharmamitra) vốn là người nước Kế Tân. Lúc bảy tuổi thần minh trong sáng, thân hình đoan chánh. Mỗi lần thấy chư tăng hành pháp sự đều tự nhiên vui mừng vô hạn. Cha mẹ tuy rất thương mến, nhưng cảm thấy con mình thật lạ lùng, nên cho phép xuất gia. Ðương thời, tại nước Kế Tân có rất nhiều vị thánh giả đạt đạo. Do đó, Ngài tham phương tầm cầu minh sư, quán thông hết tất cả kinh điển, và đặc biệt thâm nhập vào pháp thiền, tức bước vào cửa thiền nơi chốn cực vi áo diệu.
Tánh tình trầm ngâm, thâm thúy mà có huệ giải thâm sâu. Nghi dung đoan chánh. Lúc sanh ra, hai đôi mi liền với nhau. Vì vậy thời nhơn xưng gọi Ngài là Liên Mi Thiền Sư. Ngài thích đi du lịch chư phương vì có chí nguyện hoằng dương chánh giáo. Ngài đi chu du các nước rồi đến nước Quy Từ. Trước ngày đó, quốc vương nước Quy Từ mơ thấy thần nhân bảo:
- Ngày mai sẽ có một vị đại phước đức vào nước. Ðại Vương nên cúng dường hậu đãi vị này.
Hôm sau, quốc vương ban lịnh cho quan đồn trú ở biên ải rằng nếu gặp dị nhân thì phải tức tốc bẩm tấu về triều ngay. Quả nhiên, hôm đó ngài Ðàm Ma Mật Ða đến, nên quốc vương ra tận biên thùy mà tiếp đón, cung nghinh về hoàng cung. Kế đến, quốc vương y theo Ngài mà thọ giới, và tận tâm tứ sự cúng dường. Tuy an cư, nhưng Ngài không màng lợi dưỡng. Trú nơi đó ít lâu sau, Ngài định đi sang các nước khác. Thần nhân lại báo mộng cho quốc vương, bảo:
- Vị phước đức sắp bỏ Ðại Vương rồi!
Tỉnh dậy, quốc vương kinh hoàng, buồn thương, rồi cùng quần thần cố nài thỉnh Ngài lưu lại, nhưng không được. Kế đến, Ngài vượt lưu sa (những bãi sa mạc), tới Ðôn Hoàng, rồi kiến lập tịnh xá nơi vùng đất hoang vu, trồng cây, khai khẩn vườn tược cả trăm mẫu, xây phòng xá thật rất trang nghiêm. Thứ đến, Ngài tới Lương Châu. Nơi công phủ cũ, Ngài xây thiền đường, cùng thu nhận đồ chúng theo học thiền pháp. Học chúng tu thiền lũ lượt kéo đến.
Niên hiệu Nguyên Gia nguyên niên (424), Ngài thường muốn đến Giang Tả để truyền pháp. Từ Lương Châu, Ngài đến đất Thục, rồi ngừng tại Kinh Châu, cất thiền đường tại chùa Trường Sa. Nơi đó, do lòng khẩn thành thỉnh cầu của Ngài, qua vài ngày thì được xá lợi, tỏa ánh sáng chiếu đầy cả am thất, khiến môn đồ đạo tục đều phát tâm dõng mãnh tu hành. Sau này, Ngài lại theo thuyền đến kinh sư. Mới đầu, Ngài trú tại chùa Trung Hưng, rồi sau này sang chùa Kỳ Hoàn. Ðạo phong của Ngài lan rộng khắp vùng lân cận, rồi truyền vào kinh đô, khiến ai ai cũng đều sùng kính. Từ hoàng thái hậu, đến thái tử, công chúa, đều đua nhau đến thỉnh cầu giới pháp, và tứ sự cúng dường nơi Ngài. Do lời thỉnh cầu, tại chùa Kỳ Hoàn, Ngài dịch thiền kinh và thiền pháp yếu Phổ Hiền Quán, Hư Không Tạng Quán, v.v... Ngài thường dùng thiền đạo mà giáo hóa. Ðạo tục ngàn dặm đường, đổ xô về thọ giáo thiền. Người người đều xưng gọi Ngài là 'Ðại Thiền Sư'.
Thái thú Bình Xuơng Mãnh Nghị ở Hội Kê, thâm tín Tam Bảo, xem Phật sự là nhiệm vụ của mình. Nhờ nếm được mùi vị thiền định, nên tâm càng thêm cung kính, nhớ ân trọng của Ngài. Lần nọ, Ngài cùng ông Mãng Nghị đi du hóa đến Ngân Huyện ở Triết Giang, rồi kiến lập chùa tháp. Tại vùng đó, dân chúng có phong tục là tin bùa chú đồng cốt. Ngài đến đó giáo hóa, khiến họ sửa đổi tín ngưỡng, quy y Tam Bảo.
Từ đông sang tây, người người đều kính phục, và thường đến dưới tòa Ngài mà quy chánh. Sau này, Ngài trở về kinh đô, trú tại chùa Ðịnh Lâm ở núi Chung Sơn.
Tánh tình của Ngài điềm đạm, trầm tĩnh, thích cảnh non nước. Vì vậy, Ngài chọn nơi vùng đất cao, trên núi Chung Sơn mà kiến lập chùa Kiến Thượng. Sĩ thứ nghe tin Ngài xây chùa, bèn cúng dường tịnh thí. Sau khi điện đường phòng thiền được xây cất xong, tăng chúng từ ngàn muôn dặm hội tụ về để tu thiền định, tụng đọc kinh điển, khiến gia phong của Ngài càng thêm vang xa. Ðệ tử nhập thất của Ngài là Ðạt Thiền Sư, cũng hoằng hóa gia phong của Ngài, khiến thanh âm vang khắp nơi.
Xưa kia, trên đường đi từ nước Kế Tân đến nước Quy Từ, Ngài được thần vương Ca Tỳ La (Capila) hộ vệ. Khi đến nước Quy Từ, thần vương hiện nguyên hình ngay tại giữa đường để cáo từ trở về, thưa:
- Thần lực của Ngài biến thông tự tại ở mọi nơi, nên không cần phải có con đi theo về phương nam.
Nói xong thần vương biến mất. Do đó, khi lập xong ngôi chùa trên núi Chung Sơn, Ngài bèn họa lại tượng của thần vương Ca Tỳ La, treo ở trên vách tường. Tượng này hiển hiện rất nhiều điềm linh dị. Những ai chí thành cầu phước đều được như sở nguyện.
Vào mồng sáu tháng bảy, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), ngài Ðàm Ma Mật Ða nhập tịch, thọ tám mươi bảy tuổi. Chư tăng kẻ tục, bốn chúng đệ tử đều thương tiếc. Phần mộ của Ngài được xây trước chùa Tống Hi trên núi Chung Sơn. Ngài dịch kinh Quán Âm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh (1 quyển), kinh Hư Không Tạng Quán (1 quyển), Thiền Bí Yếu (3 quyển), Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu Dụng Pháp (1 quyển), kinh Chuyển Nữ Thân (1 quyển), kinh Chư Pháp Dũng Vương (1 quyển), kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Thần Chú (1 quyển), kinh Tượng Dịch (1 quyển).
31. Ngài Phật Ðà La (Buddhajiva, dịch là Giác Thọ).
Ngài là người nước Kế Tân. Lúc nhỏ đã từng thọ nghiệp nơi thuyết Di Sa Tắc Bộ Tăng, tinh chuyên luật phẩm, thâm đạt yếu chỉ thiền pháp. Năm 423, Ngài đến Dương Châu. Xưa kia, ngài Pháp Hiển đã từng thỉnh bộ luật Di Sa Tắc bằng tiếng Phạn tại nước Sư Tử. Chưa dịch xong, thì ngài Pháp Hiển đã thị tịch. Tại Kinh Ấp, chư tăng nghe Ngài tinh chuyên về bộ luật này nên cầu thỉnh phiên dịch. Vào tháng mười một năm đó tại chùa Long Quang, Ngài dịch ra thành ba mươi bốn quyển, gọi là Ngũ Phần Luật, đến tháng tư năm kế thành hoàn tất.
32. Ngài Phù Ðà Bạt Ma (Buddhavarman, dịch là Giác Khải).
Ngài là người ở Tây Vực, thông suốt tam tạng kinh điển, tinh chuyên và thường tụng đọc luận Tỳ Bà Sa, lấy đó là chỗ tâm yếu. Năm 437, Ngài đến Tây Lương. Xưa kia, Ðạo Thái đi qua Tây Vức, thỉnh được quyển Tỳ Sa, lại nghe Ngài tinh thông bộ luận này, nên cung thỉnh phiên dịch. Trong một năm, Ngài dịch quyển luận này ra thành một trăm quyển. Hiện nay chỉ còn tồn tại tám mươi quyển.
33. Ngài Cương Lương Da Xá (Kalayasas).
Cương Lương Da Xá, dịch là Thời Xưng. Ngài vốn là người nước Tây Vực. Tánh tình cang cường chất trực. Ngài thường đọc tụng A Tỳ Ðàm, tinh tường luật tạng, thông suốt kinh điển. Tuy thấu suốt ba tạng kinh điển, mà Ngài thường chuyên về pháp thiền. Mỗi lần nhập thiền, Ngài ngồi suốt cả tuần mà vẫn chưa đứng dậy. Ngài thường dùng chánh thọ tam muội để đi giáo hóa dân chúng ở các nước lân cận.
Ðầu niên hiệu Nguyên Gia (424), Ngài vượt bao sa mạc núi non đến Kinh Ấp (Kiến Khang, hay Nam Kinh). Tống Văn Ðế nghe tin rất mực vui mừng. Ðầu tiên, Ngài dừng lại tại tịnh xá Ðạo Lâm ở núi Chung Sơn. Sa môn Bảo Chí hết lòng tín phụng tôn sùng pháp thiền của Ngài. Do chư sa môn khẩn thỉnh, Ngài dịch kinh Dược Vương, Dược Thượng Quán và kinh Vô Lượng Thọ Quán. Hai bộ kinh này xiển dương bí quyết dẹp trừ phiền não để đạt đến cõi Tịnh Ðộ. Ðương thời vừa dịch ra thì được lưu truyền khắp nước Tống. Thừa tướng Bình Xương Mãnh Nghị nghe tiếng của Ngài, nên rất khâm phục và thường gởi lễ vật đến cúng dường. Thái Thú Nghị Xuất ở Hội Kê thỉnh cầu xuống núi mà Ngài không đi. Sau này, Ngài sang Giang Lăng. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), Ngài đi về hướng tây đến đất Thục. Nơi nơi đều hoằng tuyên pháp thiền. Sau này, ngài Cương Lương Na Xá thị tịch tại Giang Lăng, thọ sáu mươi tuổi.
Ðương thời, có hai vị sa môn người Thiên Trúc là Tăng Già Ðạt Ða và Tăng Già Ða La, cũng thâm nhập pháp thiền, và sang đất Tống hoằng hóa. Ngày nọ, ngồi thiền đến giờ ngọ, thì ngài Tăng Già Ðạt Ða bèn xả thiền để dùng cơm trưa, chợt có một đàn chim mang trái cây đến để trước mặt. Ngài Tăng Già Ðạt Ða tự suy nghĩ:
- Xưa kia, khỉ vượn dâng cúng mật ong, đức Phật vẫn thọ nhận mà dùng. Hôm nay, đàn chim mang trái cây đến cúng dường, sao Ta lại không thọ nhận!
Suy nghĩ xong, bèn thọ lấy trái cây mà ăn. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), thọ lời thỉnh cầu của Vương Khang ở Lâm Tuyền, ngài Tăng Già Ðạt Ða qua Giang Lăng kết hạ an cư. Cuối cùng, ngài Tăng Già Ðạt Ða thị tịch tại Kiến Nghiệp.
34. Ngài Tăng Già Ða La (Chúng Tế).
Cuối đời Tống Cảnh Bình, Ngài đến kinh sư (Kiến Nghiệp), thường đi khất thực trong nhân gian, và vào rừng núi tọa thiền, cách xa thế tục. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434), ngài Tăng Già Ða La đến Chung Trác an cư, rồi chặt cỏ gai mà xây tịnh xá, tức là tịnh xá Tống Hi.
Vào đời Bắc Ngụy, niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ bảy (446), Thái Võ Ðế ra lịnh hủy phá Phật giáo. Vào tháng ba, niên hiệu Thừa Bình (452), Thái Võ Ðế mất, Văn Thành Ðế lên ngôi, hạ lịnh phục hưng Phật giáo. Ðệ nhị Sa Môn Thống (chức tăng quan) là Ðàm Dực, lãnh trọng trách phục hưng giáo lý Phật đà, nên cùng với sa môn người Thiên Trúc là Thường Na Nhã Xá, v.v... phiên dịch ra mười bốn quyển kinh. Ðàm Dực cũng cùng sa môn người Thiên Trúc là Kiết Ca Dạ dịch Phó Pháp Tạng Truyện, kinh Tịnh Ðộ, kinh Tịnh Ðộ Tam Muội, kinh Xưng Dương Chư Phật Công Ðức, kinh Ðại Phương Quảng Bồ Tát Thập Ðịa.
35. Ngài Mạn Ðà La Tiên (Mandra, dịch là Hoằng Nhược).
Mạn Ðà La Tiên người Phù Nam, mang rất nhiều kinh điển bằng chữ Phạn sang Trung Thổ. Theo sắc lịnh của triều đình, Mạn Ðà La Tiên cùng với sa môn Tăng Già Bà La dịch kinh Bảo Vân, kinh Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt, kinh Văn Thù Sư Lợi Bát Nhã.
36. Ngài Tu Bồ Ðề (Subhuti, dịch là Thiện Kiết).
Ngài vốn là người nước Phù Nam, đã từng dịch kinh Ðại Thừa Ðại Bảo Tích.
37. Ngài Tăng Già Bà La (Sanghabhadra).
Ngài Tăng Già Bà La (dịch là Tăng Khải) vốn là người Phù Nam, xuất sanh vào năm 460, thông minh đảnh ngộ từ thuở nhỏ, sớm đã thân cận học Phật pháp, xuất gia từ lúc còn trẻ, chú trọng nơi luận A Tỳ Ðàm, thanh danh đã vang khắp vùng Nam Hải. Thọ giới cụ túc xong, y theo giới luật mà tu tập tròn vẹn. Ngài có ý chí đi khắp nơi để hoằng dương chánh pháp. Nghe nước Tề tôn sùng Phật pháp, nên Ngài đáp thuyền đến kinh đô Kiến Khang, trụ tại chùa Chánh Quán, làm đệ tử của sa môn Cầu Na Bạt Ðà (người Thiên Trúc). Sau này theo ngài Cầu Na Bạt Ðà nghiên cứu tinh tường kinh Phuơng Ðẳng. Chưa đọc xong hết mà đã tinh thông yếu chỉ. Ngài lại thông thạo rất nhiều ngôn ngữ. Sau khi nhà Tề bị diệt vong, Ngài đoạn hết tất cả thế duyên, ẩn tu trong rừng núi, để dưỡng đạo nghiệp.
Niên hiệu Thiên Giám thứ năm (506), được sắc lịnh của Lương Võ Ðế, tại năm nơi như Chiêm Vân Quán, chùa Chánh Quán, trụ quán Phù Nam, vườn Hoa Lâm, cung điện Thọ Quang ở Dương Ðô trong suốt mười bảy năm trường, Ngài chuyên ròng phiên dịch kinh điển, tổng cộng được 11 bộ, và 48 quyển, như kinh Ðại A Dục, luận Giải Thoát Ðạo, v.v... Lúc Ngài mới bắt tay vào công việc phiên dịch tại cung điện Thọ Quang, Lương Võ Ðế đích thân đến pháp tọa mà ghi chép văn dịch, cùng duyệt thảo lại hết văn kinh dịch. Nhà vua lại ra lịnh cho sa môn Bảo Xướng, Huệ SIêu, Tăng Trí, Pháp Vân, v.v... trợ giúp việc phiên dịch, như kiểm thảo lời kinh, khiến kinh văn được lưu loát. Nhà vua thường tiếp lễ Ngài rất thâm hậu. Song, Ngài không tự giữ tài vật riêng tư. Thái úy Lâm Xuyên Vương Hoằng tiếp đãi Ngài rất trọng hậu.
Niên hiệu Phổ Thông thứ năm (524), ngài Tăng Già Bà La nhập tịch tại chùa chánh quán, thọ sáu mươi lăm tuổi.
38. Ngài Nguyệt Bà Thủ Na (Udasunya, dịch là Cao Không).
Ngài vốn là dòng dõi vương gia Ưu Thiền Ni (Vjjayani) ở trung Thiên Trúc. Ngài sang Ðông Ngụy hoằng hóa. Niên hiệu Nguyên Tượng nguyên niên (538), tại dinh phủ quan tư đồ Tôn Thắng, Ngài dịch kinh Tăng Già Trá, do sa môn Tăng Phưởng ghi chép. Sau đời Ðông Ngụy, đến đời Hậu Tề, niên hiệu Thái Thanh thứ tư (550), Ngài qua Kim Lăng ở Giang Nam, dịch bộ kinh Ðại Thừa Ðảnh Vương. Trước kia, phụng mạng Lương Võ Ðế, Ngài đi ra nước ngoài, đến năm 548, gặp được sa môn Cầu Na Bạt Ðà tại nước Vu Ðiền, mà thỉnh được kinh Thắng Vương Bát Nhã bằng tiếng Phạn. Chẳng may, vì loạn Hầu Cảnh, khiến xã hội bất an, nên Ngài không có cách gì để phiên dịch. Ðến niên hiệu Thiên Gia (565) đời Trần, tại chùa Hưng Nghiệp ở Giang Châu, Ngài mới phiên dịch được quyển kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã, và do sa môn Trí Hân ở chùa A Dục Vương (Dương Châu), ghi chép. Ngoài ra, Ngài còn dịch được kinh Ðại Ca Diếp, kinh Tần Bà Bà La Môn Vương Vấn Phật Cúng Dường. Không ai biết Ngài tịch vào năm nào.
39. Ngài Ðàm Ma Lưu Chi (Dharmaruci).
Ðàm Ma Lưu Chi, (dịch là Pháp Hy), vốn là vị tam tạng pháp sư ở nam Thiên Trúc. Lúc đến Lạc Dương, Ngài được Tuyên Võ Ðế (499-515), thỉnh cầu phiên dịch kinh điển. Niên hiệu Cảnh Minh thứ hai (501), tại chùa Bạch Mã, do sa môn Ðạo Bảo ghi chép, ngài Ðàm Ma Lưu Chi dịch kinh Như Lai Nhập Nhất Thiết Phật Cảnh Giới và kinh Như Lai Trang Nghiêm Trí Huệ Quang Minh Nhập Nhất Thiết Chư Phật Cảnh Giới. Vào năm 504 và năm 507, Ngài dịch được kinh Tín Lực Nhập Ấn Pháp Môn, cùng kinh Kim Sắc Vương. Năm 542, tại chùa Dịch Hoa, Ngài dịch kinh Bát Phật. Không biết Ngài nhập tịch vào năm nào.
40. Bồ Ðề Lưu Chi (Bodhiruci).
Ngài Bồ Ðề Lưu Chi (dịch là Ðạo Hỷ) vốn là người bắc Thiên Trúc, thông suốt ba tạng kinh điển, diệu nhập tổng trì, có ý chí hoằng pháp. Vào đời Bắc Ngụy, đầu niên hiệu Vĩnh Bình (508), Ngài vượt ngọn Thông Lĩnh, đến Ðông Hạ. Nghe tin này, Tuyên Võ Ðế bèn hạ lịnh nghinh đón Ngài về Vĩnh Ninh Ðại Tự, ân cần tứ sự cúng dường. Ông lại sai bảy trăm vị Phạn tăng hỗ trợ Ngài phiên dịch kinh điển.
Lúc đầu, y theo sắc lịnh, Ngài dịch kinh Thập Ðịa. Tuyên Võ Ðế đích thân ghi chép. Các sa môn như Tăng Biện, v.v... thảo duyệt văn dịch. Phật pháp được hưng thạnh, và các bậc anh tài xuất hiện, từ lúc truyền bá những kinh điển này. Tuyên Võ Ðế lại ra lịnh cho thanh tín sĩ Lý Khuếch soạn viết mục lục các bộ kinh vừa được ngài Bồ Ðề Lưu Chi dịch. Thanh tín sĩ Lý Khuếch vốn đã học thông huyền nghĩa, quán suốt kinh luận. Thanh tín sĩ Lý Khuếch viết rằng tam tạng pháp sư Bồ Ðề Lưu Chi tại Lạc Dương và Nghiệp Ðô, hơn hai mươi năm dịch được ba mươi chín bộ kinh, và một trăm hai mươi bảy quyển như kinh Phật Danh, Lăng Già, Pháp Tập, Thâm Mật, v.v... và luận Thắng Tư Duy, Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v... Sa môn Tăng Lãng, Ðạo Trạm, v.v... ghi chép.
Trong quyển 'Nội Ðiển Lục' đời Ðường Trinh Quán, Lý Khuếch viết rằng trong gian phòng của tam tạng pháp sư Bồ Ðề Lưu Chi có cả muôn bộ kinh chữ Phạn, và các quyển kinh được phiên dịch, đầy cả gian phòng. Huệ giải của tam tạng pháp sư Bồ Ðề Lưu Chi tương đồng với sa môn Lặc Na Ma Ðề, và thần ngộ minh mẫn, lại tinh thông chú thuật, mà không ai sánh bằng.
Lần nọ, Ngài định tắm mà nước trong giếng lại khô cạn. Các đệ tử cũng chưa kịp mang nước đến. Ngài bèn lấy một nhánh cây liễu, gia trì vài biến, rồi bỏ vào trong giếng. Lát sau, nước từ dưới đáy giếng vụt phun lên đầy khắp. Chư tăng ở nơi đó, thấy chú thuật thần dị của Ngài như thế, đều kính phục, nên xưng tán là 'Ðại Thánh Nhân'. Ngài liền bảo:
- Chớ vọng khen những lời như thế. Chỉ có phương này là không thường hành, còn ngoại quốc tăng nhân luôn hành pháp thuật này. Sao dám gọi là bậc thánh!
Ngài sợ làm mê hoặc thế nhân nên không truyền pháp chú thuật. Những bộ kinh luận do ngài Bồ Ðề Lưu Chi phiên dịch như sau: Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (1 quyển), luận kinh Kim Cang Bát Nhã (3 quyển), kinh Nhập Lăng Già (10 quyển), kinh Chúng Mật Giải Thoát (5 quyển), kinh Pháp Tập (8 quyển), kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn (6 quyển), kinh Ðại Tát Giá Ni Kiền Tử Thọ Ký (10 quyển), kinh Phật Danh (12 quyển), kinh Bất Tăng Bất Diệt (2 quyển), kinh Sai Ma Ba Ðế Thọ Ký (10 quyển), luận kinh Vô Lượng Thọ Ưu Ba Ðề Xá (1 quyển), luận kinh Già Da Ðảnh (2 quyển).
Ngài tịch vào năm 527.
41. Tam tạng pháp sư Lặc Na Ma Ðề (Ratnamati, dịch là Bảo Hỷ).
Ngài là người trung Thiên Trúc, văn chương lý sự đều khiêm thông, học vấn uyên bác, kiến thức rộng sâu, tụng hơn một ức bài kệ (mỗi bài kệ có ba mươi hai chữ), lại thấu suốt và thường hoằng hóa pháp thiền. Ðời Bắc Ngụy, niên hiệu Chánh Thủy thứ nhất (504), ngài Lặc Na Ma Ðề đến Lạc Dương, dịch kinh tại trong cung điện. Lúc đầu, ngài Lặc Na Ma Ðề hỗ trợ ngài Bồ Ðề Lưu Chi phiên dịch. Vì có những điểm bất đồng trong cách phiên dịch, nên sau này tự dịch riêng. Sa môn Tăng Lãng, Giác Ý, v.v... ghi chép. Ngài Lặc Na Ma Ðề dịch những quyển kinh luận như sau: Kinh Tỳ Da Bà Vấn (2 quyển), Long Thọ Bồ Tát Hòa Hương Phương (1 quyển), luận kinh Thập Ðịa (12 quyển), luận kinh Bảo Tích (4 quyển), luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh (4 quyển), luận kinh Pháp Hoa (1 quyển).
42. Tam tạng pháp sư Phật Ðà Phiến Ða.
Phật Ðà Phiến Ða (dịch là Giác Ðịnh), người bắc Thiên Trúc; từ năm 525 đến năm 539, tại chùa Bạch Mã ở Lạc Duơng và chùa Kim Hoa ở Nghiệp Ðô, Ngài dịch được mười bộ kinh luận như: Kinh Kim Cang Thượng Vị Ðà La Ni (1 quyển), kinh Như Lai Sư Tử Hống (1 quyển), kinh Chuyển Hữu (1 quyển), kinh Thập Pháp (1 quyển), kinh Ngân Sắc Nữ (1 quyển), kinh Chánh Pháp Cung Kính (1 quyển), kinh Vô Úy Ðức Nữ (1 quyển), kinh Vô Tự Bảo Khiếp (1 quyển), kinh A Nan Ða Mục Khư Ni Ha Ly Ðà La Ny (1 quyển), luận Nhiếp Ðại Thừa (2 quyển).
43. Ngài Cù Ðàm Bát Nhã Lưu Chi.
Cù Ðàm Bát Nhã Lưu Chi (dịch là Trí Hy), người nam Thiên Trúc, xuất thân từ dòng bà la môn, ở thành Ba La Nại (Baranasi), đến Trung Thổ vào niên hiệu Hy Bình (516) đời Bắc Ngụy. Từ niên hiệu Nguyên Tượng nguyên niên (538) đến niên hiệu Hưng Hòa mạt niên (542), tại Ðô Thành, Ngài dịch: Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ (70 quyển), kinh Thánh Thiện Trụ Ý Sở Vấn (3 quyển), kinh Vô Cấu Thế (1 quyển), kinh Vô Cấu Ưu Bà Di (1 quyển), luận Hồi Tranh (1 quyển), luận Nghiệp Thành Tựu (1 quyển), Giải Thoát Giới Bổn (1 quyển).
44. Ngài Chân Ðế (Paramatha).
Ngài Chân Ðế tiếng Phạn gọi là Ba La Mạt Ðà, và biệt danh là Câu La Na Tha (dịch là Thân Y). Ngài xuất sanh tại tây Thiên Trúc, tức nước Ưu Thiền Ni (Ujjaini). Bản tánh thông minh lanh lợi, khí chất phi phàm, thiên phú dị bẩm, tinh thông Phật pháp, hiểu rõ ngoại điển, có đầy đủ năng lực thần dị, là vị danh tăng học giả tài đức kiêm toàn.
Lương Võ Ðế (502-549) sùng kính Tam Bảo, nên Phật giáo tự nhiên được hưng thạnh. Các vương quốc ở vùng Nam Hải cũng đến triều cống rất nhiều. Lúc tiếp kiến với sứ giả nước Phù Nam (Cam Bốt), Lương Võ Ðế yêu cầu nước Phù Nam gởi các vị tam tạng pháp sư, cao tăng danh đúc, các kinh luận đại thừa, v.v..., sang Trung Thổ.
Ngài Chân Ðế từ trung Thiên Trúc, du lịch sang các vương quốc lân cận, và thường tới nước Phù Nam. Nhà Lương cùng nước Phù Nam giao hảo rất thân mật. Thuận lời yêu cầu của Lương Võ Ðế, vua nước Phù Nam ra lịnh cho ngài Chân Ðế mang kinh luận qua Tàu.
Ngài Chân Ðế theo đường biển đến Quảng Châu vào rằm tháng tám năm 546, niên hiệu Ðại Ðồng, rồi tới Kiến Khang vào tháng tám năm 548. Lương Võ Ðế ân cần hậu đãi, thỉnh ngài Chân Ðế vào điện Bảo Vân cúng dường thâm hậu.
Mồng mười tháng tám năm 548, Hầu Cảnh cử binh phản loạn ở Thọ Dương, rồi vượt sông Trường Giang, đem quân bao vây Kiến Khang. Lương Võ Ðế không kháng cự mà chết vì đói. Thành Kiến Khang bị chiến nạn, lửa cháy khắp nơi, dân chúng chết đói la liệt. Vì vậy, ngài Chân Ðế phải rời khỏi nơi đó để đến Phú Xuân. Tại dinh huyện của Lục Nguyên Triết, Ngài bắt đầu phiên dịch kinh điển. Lục Nguyên Triết cũng triệu thỉnh danh tăng Bảo Quỳnh cùng hơn hai mươi người khác hỗ trợ việc phiên dịch. Song, vì thế cuộc biến chuyển, nên dịch chỉ được năm quyển kinh là phải đình chỉ.
Năm 552, ứng theo lời triệu thỉnh của Hầu Cảnh, ngài Chân Ðế trở lại Kiến Khang thọ sự cúng dường. Năm kế, Hầu Cảnh bị giết chết. Tương Ðông Vương lên ngôi, lấy hiệu là Lương Nguyên Ðế. Lúc ấy, ngài Chân Ðế lưu lại chùa Chánh Quán ở Kiến Khang, rồi cùng Nguyên thiền sư và hơn hai mươi người khác đồng dịch kinh Kim Quang Minh. Tháng hai năm 554, ngài Chân Ðế rời Kiến Khang, đến chùa Bảo Ðiền ở Dự Chương. Nơi đây Ngài đã từng tạm trú trên tuyến đường từ Quảng Ðông đến Kiến Khang. Lúc đó, Ngài thường qua lại với tăng nhân là Cảnh Thiều (508-583), vốn là vị giới sư ở vùng Dự Chương. Ngài rất tán thán Cảnh Thiều, một vị tăng tài đức kiêm toàn. Ngài bảo:
- Ta đã từng chu du qua nhiều nước, mà rất ít gặp được những người như Cảnh Thiều.
Tại Dự Chương, Ngài dịch được kinh Tân Kim Quang Minh, Duy Thức Luận, kinh Niết Bàn, v.v...
Năm 554, niên hiệu Thừa Thánh thứ ba, Ngài rời Dự Chương, qua Tân Ngô trú tại chùa Mỹ Nghiệp, rồi đến Thủy Hưng trú tại chùa Kiến Hưng. Sau này, Ngài qua Quảng Ðông, vào Giang Tây, rồi đến trú tại chùa Tịnh Ðộ ở Nam Khang. Ngài liên tục phiêu bạt vân du, trước sau không có một nơi cư trú cố định để chuyên tâm dịch kinh.
Năm 558, niên hiệu Vĩnh Ðịnh thứ hai, Ngài trở lại Dự Chương, trú tại chùa Thê-ẩn. Lúc đó, Ngài đi khắp Lâm Xuyên, vượt qua dãy núi Võ Di, rồi trải qua bao dặm đường dài khổ cực, đến được Tấn An. Tại đó, thấy đường biển thuận lợi, nên Ngài định theo thuyền mà trở về cố quốc. Nơi ấy, Ngài gặp các danh tăng như Trí Văn, Tăng Tông, Pháp Chuẩn, v.v...Trí Văn vốn tinh thông Thập Tụng Luật. Vì lánh nạn vào cuối đời Lương nên đến vùng Mân Nam, rồi được Tăng Tông, Pháp Chuẩn cung thỉnh đăng đàn thuyết pháp. Nơi đó, Trí Văn cũng cảm hóa được rất nhiều người, khiến họ quy y tam Bảo, cúng dường chư tăng, trừ bỏ những thói hư tật xấu như hút thuốc, uống rượu, cờ bạc. Nhờ tín phụng và hiểu rõ Phật Pháp, những ngư dân đốt lưới, bỏ nghề đánh cá, giữ giới không giết hại. Khi gặp được Ngài, Trí Văn cùng theo học Phật pháp.
Hoài bão của ngài Chân Ðế là muốn sang Trung Thổ để hoằng dương chánh pháp, phiên dịch kinh điển. Song, gặp lúc thời cuộc loạn ly, nhân tâm rối loạn, tai nạn liên miên, nên thất chí, theo thuyền trở về Thiên Trúc. Trên đường, ngài ghé qua Quảng Ðông, tới quận Lương An. Thái thú Vương Phương Xa cùng nhân sĩ trong vùng khẩn thỉnh Ngài ở lại. Tuy chấp thuận lời thỉnh cầu của họ mà lưu lại nơi đó, nhưng Ngài không có ý an trú lâu dài. Từ mồng một tháng năm đến ngài hai mươi lăm tháng chín năm 562, Ngài dịch kinh Kim Cang Bát Nhã (10 quyển), và Kim Cang Bát Nhã Sớ, do ngài Thế Thân chú giải.
Cuối cùng, vào tháng chín năm 562, Ngài lên thuyền từ Lương An trở về Thiên Trúc. Trên đường gặp giông tố, nên gió thổi thuyền chạy trở lại Quảng Ðông vào tháng chạp. Thái Thú Âu Dương Nguy bèn cầu thỉnh Ngài trở về lưu trú tại chùa Chế Chỉ, tiếp tục công tác phiên dịch kinh điển. Từ đó, Ngài không còn có ý niệm trở về bổn quốc. Với sự giúp đỡ của đệ tử là Huệ Khải, Ngài phiên dịch kinh Quảng Nghĩa Pháp Môn, Duy Thức Luận. Thái thú Âu Dương Nguy cũng quy y, thọ giới Bồ Tát, làm đệ tử của Ngài.
Trong năm đó, Âu Dương Nguy mất, con là Âu Dương Hột làm thỉnh chủ. Huệ Trí, trụ trì chùa Chế Chỉ, và chinh nam trường sử Viên Kính làm đàn việt. Ngài dịch xong quyển Nhiếp Ðại Thừa Luận. Các vị tăng ở Tấn An theo Ngài tu học khi xưa, lặn lội xuống vùng Lãnh Nam ở Quảng Châu để nghe Ngài giảng giải Phật pháp tân thuyết.
Tháng giêng năm 564, do lời thỉnh cầu của Huệ Khải, Pháp Nhẫn, v.v..., Ngài dịch Phẩm Hoặc trong quyển luận Câu Xá. Chưa dịch xong thì chợt có sự biến, nên Ngài tạm sang quận Nam Hải cư trú. Ðến tháng mười năm đó thì Ngài dịch xong, được hai mươi hai quyển văn luận, một quyển kệ luận, và năm mươi ba quyển nghĩa sớ. Sau này, ứng theo lời cầu thỉnh của quan thứ sử, Ngài vào thành giảng kinh thuyết pháp. Thấy những bản dịch cũ có nhiều chỗ thiếu sót sai lầm, nên Ngài dịch lại quyển luận Câu Xá từ tháng hai năm 565 đến tháng chạp năm 567 thì hoàn tất. Tháng giêng năm kế, Ngài dịch xong quyển Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận.
Suốt đời hoằng pháp lợi sanh, nhưng Ngài lại không có nhân duyên được đạo tràng và chùa chiền tốt để an trú hành pháp, mà lại gặp bao việc không vừa ý, nên có ý định tự vẫn. Ðang giảng luận Câu Xá, nghe được tin này, Huệ Khải bèn trở về chùa ngay lập tức để cản trở. Chư tăng kẻ tục đồng đến an ủi Ngài. Thứ sử Âu Dương Hột cũng phái người đến hầu cận, rồi tự thân tới săn sóc Ngài trong ba ngày liền. Ông an bài cho Ngài tạm an trú tại chùa Vương Viên. Ðệ tử Tăng Tông, Tăng Khải, v.v... định đưa Ngài trở lại Kiến Khang. Song, các học giả ở nơi đó, sợ rằng một khi Ngài trở về thì thanh danh và quyền thế của họ bị lu mờ, nên đồng dâng biểu lên vua Trần Văn Ðế:
- Tại vùng Lãnh Nam, Chân Ðế phiên dịch Duy Thức Vô Trần Thuyết. Vị tăng đó vừa tuyên dương giáo pháp, vừa rong đuổi theo quyền thế chính trị. Ðiều này chẳng những không hợp tình mà còn tương phản với giáo nghĩa của nước ta. Loại người này, xin nhà vua hãy đuổi ra kinh thành để đến những miền xa xăm.
Trần Văn Ðế y nhiên phê chuẩn, nên Ngài không thể trở về kinh thành được. Quyển 'Tân Duy Thức Luận' do Ngài vua phiên dịch xong, cũng không được lưu truyền ra ngoài.
Trước kia, Lương Võ Ðế tôn sùng Ðại Luận, vì chính ông ta học Thành Thật Luận. Trần Văn Ðế không giống như thế. Ông ta thường nỗ lực hoằng truyền kinh Ðại Phẩm Bát Nhã, và tân trọng Tam Luận.
Tuy trải qua hai triều đại Lương và Trần, phong trào tu học tại Kiến Khang vẫn ưa chuộng lý Bát Nhã, Tam Luận.
Pháp Thái, đệ tử của ngài Chân Ðế, giảng Nhiếp Luận Duy Thức, mà chư tăng cùng kẻ tục không thể lãnh hội được. Do đó, mọi người đều lạnh nhạt và không có ai muốn nghiên cứu giáo lý Du Già Duy Thức.
Huệ Khải tại chùa Trí Huệ giảng được chín quyển luận Câu Xá, sớ Nghiệp Phẩm rồi thị tịch. Do đó, ngài Chân Ðế thay thế, tiếp tục giảng thêm ba quyển. Giảng chưa hoàn tất thì Ngài viên tịch vào năm kế, tức ngày mười một tháng giêng năm 568. Ngài lại phó thác cho đệ tử là Trí Hưu và Pháp Hải ở chùa Tam Tạng lãnh thọ. Ngày thứ mười hai, chư đệ tử làm lễ trà tỳ rồi cho xây tháp thờ. Ngày thứ mười ba, Tăng Tống, Pháp Chuẩn, v.v... bàn luận định đến Lô Sơn. Ðệ tử của Ngài là Trí Kiểu viết:" Ngài tam tạng Chân Ðế vừa viên tịch thì các pháp lữ bèn đi tán hết. Tông tự không có người kế thừa."
Ngài Chân Ðế bỏ ra hết tâm huyết chú trọng vào việc dịch quyển Nhiếp Ðại Thừa Luận. Ðương thời các đệ tử như Tăng Tống, Huệ Khải cũng dụng hết công sức để nghiên cứu và hỗ trợ.
Ngày nọ, trời lạnh rét buốt, mà ngài Chân Ðế chỉ mặc y phục đạm bạc, dịch kinh đến suốt đêm, nên sức khỏe yếu kém. Lúc Ngài vừa định ngủ, Huệ Khải bèn nhẹ nhàng lén lấy hậu y đắp lên đôi bàn chân của Ngài để cho ấm, nhưng Ngài lại la rầy trách mắng. Việc này biểu thị cho tinh thần tri túc, chí khí chịu khổ nhọc, chuyên cần hoằng dương chánh pháp của Ngài. Do đó, chư đệ tử ngày càng bội phục kính trọng.
Ngài cũng thường than rằng thời vận của mình không may, khiến nhân duyên hoằng pháp bị nhiều chướng ngại. May mắn là Ngài được chư đệ tử hết lòng tôn sùng, dốc lòng hỗ trợ trong công tác phiên dịch kinh luận, nên được an ủi phần nào. Huệ Khải sợ pháp Du Già Duy Thức tương lai sẽ bị mai một. Ngài chỉ tay về hướng tây bắc, bảo:
- Nơi đó có một đại quốc, chẳng gần chẳng xa. Sau khi Ta mất đi, người ở xứ đó sẽ tuyên dương pháp này, khiến được hưng thịnh.
Lời tiên đoán của ngài Chân Ðế thật không sai. Sau này tại phương bắc có ngài Ðàm Tuyển hoằng dương Nhiếp Ðại Thừa Luận, và dùng pháp này để làm nền tảng cho tông Nhiếp Luận.
Ngài Chân Ðế ở Trung Thổ phiên dịch kinh luận từ năm 546 tới năm 569. Trải qua hai mươi ba năm, ngài Chân Ðế phiên dịch được sáu mươi bốn bộ, và hai trăm bảy mươi tám quyển kinh luận. Công nghiệp của ngài Chân Ðế ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo sau này.
Những kinh luận do ngài Chân Ðế phiên dịch như sau: Kinh Quang Minh (7 quyển), kinh Di Lặc Hạ Sanh (1 quyển), kinh Nhân Vương Bát Nhã (1 quyển), luận Thập Thất Ðịa (5 quyển), luận Ðại Thừa Khởi Tín (1 quyển), Trung Luận (1 quyển), luận Như Thật (1 quyển), luận Bổn Hữu Kim Vô (1 quyển), luận Tam Thế Phân Biệt (1 quyển), sớ kinh Kim Quang Minh (13 quyển), sớ kinh Nhân Vương Bát Nhã (6 quyển), sớ luận Ðại Thừa Khởi Tín (2 quyển), sớ Trung Luận (2 quyển), Cửu Thức Nghĩa Ký (2 quyển), Chuyển Pháp Luân Nghĩa Ký (1 quyển), kinh Phật A Tỳ Ðàm (9 quyển), kinh Vô Thượng Y (2 quyển), kinh Giải Tiết (1 quyển), kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (1 quyển), kinh Quảng Nghĩa Pháp Môn (1 quyển), Tăng Xút Ða Luật 1 quyển), Tu Thiền Ðịnh Pháp (1 quyển), luận Câu Xá Thích (21 quyển), Lập Thế A Tỳ Ðàm (10 quyển), luận Nhiếp Ðại Thừa (15 quyển), luận Phật Tánh (4 quyển), luận Tứ Ðế (4 quyển), luận Tăng Già (3 quyển), Nhiếp Ðại Thừa Luận Bổn (3 quyển), luận Ðại Không (3 quyển), luận Trung Biên Phân Biệt (3 quyển), luận Kim Thất Thập (2 quyển), Câu Xá Luận Kệ (1 quyển), luận Kim Cang Bát Nhã (1 quyển), luận Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu (1 quyển), luận kinh Ðại Bát Niết Bàn (1 quyển), luận Di Giáo (1 quyển), luận Tam Vô Tánh (1 quyển), luận Phản Chất (1 quyển), luận Tùy Phụ (1 quyển), luận Cầu Na Ma Ðề Tùy Tuớng (1 quyển), luận Thật Hạnh Vương (1 quyển), luận Thành Tựu Tam Thừa (1 quyển), luận Chánh Luân Ðạo Lý (1 quyển), luận Ý Nghĩa (1 quyển), luận Chấp Bộ Dị (1 quyển), Duy Thức Luận Văn Nghĩa Hợp (1 quyển), Chánh Luân Thích Nghĩa (5 quyển), Phật Tánh Nghĩa (3 quyển), Thiền Ðịnh Nghĩa (1 quyển), sớ luận Câu Xá (16 quyển), sớ Kim Cang Bát Nhã (11 quyển), sớ Thập Bát Bộ Luận (10 quyển), sớ kinh Giải Tiết (4 quyển), sớ kinh Vô Thượng Y (4 quyển), sớ luận Như Thật (3 quyển), sớ luận Tứ Ðế (3 quyển), sớ luận Phá Ngã (1 quyển), sớ Tùy Tướng Luận Trung Thập Lục Ðế (1 quyển), truyện Bà Tẩu Bàn Ðầu (1 quyển), Chúng Kinh Thông Tự (2 quyển), Phiên Ngoại Quốc Ngữ (7 quyển), Nhân Thọ Lục (quyển I) luận Thập Bát Không (1 quyển), luận Tư Trần (1 quyển), luận Giải Quyền (1 quyển), luận Quyết Ðịnh Tạng (2 quyển), luận Hiển Thức (1 quyển), luận Chuyển Thức (1 quyển).
Luận Du Già và Duy Thức học ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung Quốc, mà vị tam tạng pháp sư có công nhiều nhất trong việc phiên dịch và truyền bá những bộ kinh luận đó là ngài Chân Ðế. Tuy có chí hoằng pháp độ sanh, nhưng cuộc đời của ngài Chân Ðế gặp bao cảnh trái ngang, bi đát: Không được nhiều đại thí chủ hộ trì; không có nơi cư trú nhất định, không có đạo tràng đàng hoàng để phiên dịch, v.v... Song, dẫu gặp bao gian nan chán chường, nhưng chí nguyện hoằng pháp của ngài Chân Ðế vẫn kiên cường. Ngài phiên dịch cùng giảng giải kinh điển cho đến phút chót của cuộc đời. Thật xứng đáng là một bậc vĩ nhân trong lịch sử Phật giáo.
Sau này đến đời Ðường, do ngài Huyền Trang tổng quy mô chủ trì tân dịch về các kinh luận Duy Thức, khiến cho những tác phẩm phiên dịch khi trước của ngài Chân Ðế bị lu mờ mai một. Song, sự nghiệp phiên dịch kinh điển của ngài Chân Ðế mãi mãi được ghi vào lịch sử Phật giáo.
45. Ngài Na Liên Ðề Lê Da Xá (Narendrayasas, dịch là Tôn Xưng).
Ngài là người nước Ô Trường ở bắc Thiên Trúc, tộc tánh đồng với Phật, tức họ Thích Ca, dòng Sát Ðế Lợi. Năm mười bảy tuổi, Ngài phát tâm xuất gia, rồi đi tham tầm minh sư học chánh giáo. Năm hai mươi mốt tuổi thọ giới cụ túc. Nghe các bậc tôn túc thường tán thán các Phật thánh tích như nước này có bình bát của Phật, nước kia có thờ y tăng già lê của Phật, nước nọ có thờ Phật Ðảnh Cốt, v.v..., Ngài bèn phát khởi tâm nguyện sẽ đến những nơi đó để chiêm ngưỡng lễ bái. Lúc vừa thọ giới cụ túc xong, bèn biết rõ luật tạng. Ðủ năm hạ bèn đi du phương các nơi. Tất cả thánh tích như bậc đá trời, thạch đài, long miếu, bảo tháp, v.v... Ngài đều đi đến những nơi đó để đảnh lễ chiêm bái. Khi tới chùa Trúc Viên, Ngài trú nơi đó trong mười năm, hiểu rõ tăng sự.
Tánh tình của Ngài chất trực, đức hạnh sáng ngời. Có một vị tôn đức thường biết được căn cơ của người khác, bảo với Ngài:
- Nếu chuyên tịnh tu thì có thể đắc quả thánh; chỉ e sợ Thầy thích đi du phương thì khó mà thành tựu. Nếu hôm nay không lãnh hội được lời này, thì lúc về già hối hận sẽ không kịp!
Ngài đi khắp nơi: Phía bắc đến núi Tuyết Sơn; phía nam đến nước Sư Tủ để lễ bái Phật thánh tích.
Ðương thời, quốc vương nước Ô Trường dùng lòng nhân từ để đối đãi với chúng dân, lại thâm tín Tam Bảo. Mỗi ngày, vào sáng canh năm quốc vương thức dậy đảnh lễ Tam Bảo, dâng hương hoa thành khẩn cúng dường. Mặt trời lên thì lên cung điện duyệt xem những chuyện triều nội. Ðến giờ thìn (từ bảy giờ sáng đến chín giờ tối), thì quốc vương dùng nước hoa để rửa tượng Phật. Mỗi ngày, trong cung điện thường có hàng trăm tăng chúng thọ trai. Quốc vương cùng phu nhân tự tay dâng thức ăn cúng dường chư tăng. Thọ trai xong, quốc vương tập võ thuật. Ðến lúc hoàng hôn thì tự tay sao chép kinh điển, và cùng chư danh tăng cao đức đàm luận nghĩa lý Phật pháp, rồi kế đến là hội nghị với quần thần nghị luận việc chánh trị. Ðến tối, tự vào chánh điện thờ Phật để đốt đèn, lễ bái, và tụng đọc kinh điển, xong rồi bèn đi nghỉ. Hơn ba mươi năm, quốc vương thường hành như thế.
Tương truyền, ở nước Ô Trường, tại một ngọn núi thuộc dãy Tuyết Sơn, có hai con đường: Một là con đường của người, và hai là con đường của quỷ. Con đường của người của người thì cheo leo hiểm trở, còn con đường của quỷ thì thông suốt dễ đi. Hành khách đến nơi đó, thấy hai con đưòng kia, thường nhầm đi vào con đường của quỷ, nên bị loài quỷ giết hại. Xưa kia, có một thánh vương, làm một tượng đá Tỳ Sa Thiên Vương, có cánh tay chỉ rõ con đường của loài người. Lần nọ ngài Na Liên Ðề Lê Da Xá cùng đồng bạn đi lạc vào con đường của loài quỷ. Vừa biết được đi lầm lạc, nên Ngài bèn tụng thần chú. Những người đồng hành, đều bị quỷ giết hại. Nhờ Ngài tụng thần chú nên được thoát nạn. Do đó, Ngài đi ngược trở ra, nhưng lại gặp bọn cướp. Ngài lại chuyên tâm tụng thần chú, nên được thần linh hộ vệ. Bọn cướp định đến cướp bóc, mà đột nhiên chẳng thấy Ngài ở đâu. Ngài lại đi về hướng đông, qua các nước lân cận. Vì gặp nạn binh đao, đường lộ trở về hướng tây bị cắt đứt, nên Ngài không có cách chi để trở về bổn quốc.
Do đó, cứ tùy theo gió lưu chuyển, Ngài đến biển Nê Hải, rồi đi cả bảy ngàn dặm để vào nam. Nơi đó cũng không an, nên Ngài sang nước Tề, cư trú tại kinh đô vào năm (556). Văn Tuyên Ðế gặp Ngài bèn cung kính lễ bái cúng dường thâm hậu. Bấy giờ, Ngài được bốn mươi tuổi. Vă Tuyên Ðế bèn an trí Ngài trú tại chùa Thiên Bình, thỉnh cầu phiên dịch kinh điển. Nhà vua cũng ra lịnh đem hơn cả ngàn quyển kinh tiếng Phạn tại cung điện, sang chùa Thiên Bình, đặt tại một gian phòng ở phía trên. Nhà vua cũng cho xây thêm một đạo tràng trang nghiêm tráng lệ cho Ngài, để biểu thị lòng tôn kính. Ông lại ra lịnh cho chiêu huyền đại thống sa môn Pháp Thượng, cùng hơn hai mươi người khác hỗ trợ cho Ngài phiên dịch kinh điển. Sau khi Ngài dịch xong hơn năm mươi quyển kinh, Văn Tuyên Ðế bèn cho lưu hành, để truyền bá chánh pháp.
Văn Tuyên Ðế tín phụng Phật pháp rất thù đặc. Mỗi lần cầm kinh tiếng Phạn, Ông thường bảo với quần thần rằng đây là Pháp Bảo vô giá mà Trẫm luôn hằng cung kính.
Mỗi khi xong việc dịch kinh, Ngài thường thi thố thần chú, hỗ trợ cho triều đình, lập nhiều công trạng. Những khi được cúng dường lễ vật, Ngài đều không cất giữ làm của riêng, mà đem cúng lại cho chư tăng cùng người nghèo khổ. Ngài thường khởi từ tâm, hưng phước nghiệp, cứu giúp tế độ những kẻ bị tù tội; nơi chợ búa đào những giếng nước, tự thân múc nước cho người. Tại Cấp Quận ở Tây Sơn, Ngài kiến lập ba ngôi chùa lớn, trang nghiêm. Ngài lại nuôi dưỡng nam nữ bị bịnh phong cùi, và chu cấp cho họ đầy đủ vật dụng. Ngài lại thường đi vào các lữ quán, khuyên người trì sáu ngày chay, cùng phóng sanh. Lần nọ, Ngài bị bịnh cả trăm ngày mà vẫn chưa khỏi. Văn Tuyên Ðế cùng hoàng hậu đích thân đến vấn an. Ngài cố ngồi dậy để đáp lễ, nói:
- Bần Tăng vốn là khách ngoại quốc, đức hạnh chưa vẹn toàn. Nay Thánh Thượng giá lâm đến đây để vấn an, khiến Bần Tăng thật cảm thấy xấu hổ muôn phần.
Lý Kiền Ðức lật đổ nhà Tề, lên ngôi lấy hiệu là Chu Võ Ðế. Ông ta cực lực hủy pháp Phật giáo. Trong đắp ba y ca sa, ngoài mang y thế tục, Ngài lánh nạn khắp đó đây mà không được chút yên ổn. Dân chúng cũng bị điêu linh, đói rách lầm than. Tuy sức lực mệt mỏi mà thần khí vẫn sung túc, và tự đốc thúc tùy duyên cứu tế chúng dân lầm than đói rách, cùng thuyết đạo không ngừng.
Bốn năm sau, nhà Tùy lên ngôi, phục hưng Phật pháp. Ðầu niên hiệu Khai Hoàng (581), nhà vua cho vời các nhà dịch giả để phiên dịch kinh chữ Phạn, hầu mong hoằng dương chánh pháp. Vào tháng bảy năm kế, chư đệ tử thỉnh Ngài vào kinh đô, trú tại chùa Ðại Hưng Thiện. Năm đó, Lý Ðông Thảo triệu tập chư tăng dịch kinh, ra lịnh cho chiêu huyền thống sa môn Ðàm Duyên cùng hơn ba mươi người khác hỗ trợ Ngài phiên dịch kinh. Nhà vua thường đến lễ bái, ân cần vấn an, cùng cúng dường thâm hậu.
Trải qua năm tháng du hành khắp xứ, Ngài vẫn chuyên cần tinh tấn tu đạo, thân thường đắp y Xá Lợi Phất Ðà la Ni. Ðêm nọ, Ngài mơ thấy chính tự thân đã thành Phật. Ngài cũng thường mơ thấy những điềm lành.
Sau này Ngài đến chùa Quảng Tế, làm tăng chủ của chư tăng ngoại quốc, và thường vấn an chư khách tăng, được người người kính trọng thương mến. Ngày nọ, Ngài chợt bảo đệ tử:
- Ta đã già yếu, nên chẳng bao lâu nữa sẽ lìa đời. Hôm nay muốn răn nhắc các ngươi rằng Phật pháp khó gặp, phải nên tinh tấn tu hành học đạo. Thân người khó được, trận trọng chớ để thời giờ trôi qua vô ích.
Nói xong, Ngài bèn thị tịch, vào ngày hai mươi chín tháng hai niên hiệu Khai Hoàng thứ chín (589), thọ tròn một trăm tuổi. Lúc trước, Ngài đã từng bảo:
- Ta sẽ sống đến một trăm tuổi, và đồng với Ðăng Tiên.
Quả nhiên như lời đó, Ngài sống đến một trăm tuổi mới nhập tịch. (Ðăng Tiên là một vị thạc đức. Lý giải của Ngài thâm sâu, người khác thật khó suy lường. Hình tướng diện mạo của Ngài thật khác thường. Trên đỉnh đầu nổi một cục thịt. Tiếng nói vang xa tận mây xanh. Ðôi tai lớn và dài. Cặp mắt chỉ nhìn thẳng hay ngó xuống chứ không liếc ngó đông tây. Oai nghi đức tướng không ai bì kịp).
Ngài Na Liên Ðề Lê Na Xá dịch tổng cộng được 15 bộ và hơn 80 quyển kinh như Bồ Tát Kiến Bảo Nguyệt Tạng Tạng Nhật Tạng, Pháp Thắng Tỳ Ðàm, v.v...
Ngài du hành hơn bốn mươi năm, đến khoảng năm mươi vương quốc, đi hơn một trăm năm mươi ngàn dặm, tới tham phương các vị cao tăng danh đức, cùng bao chùa viện thù thắng. Chư danh tăng nơi thâm sơn cùng cốc, hay tứ hải đều kính phụng Ngài.
46. Ngài Xà Na Quật Ða (Jnanagunta).
Xà Na Quật Ða dịch là Ðức Chí Bắc Hiền Ðậu. Hiền Ðậu do xuất phát từ âm Nhân Ðà La Bà Ðà Na (dịch là Vương Xứ, tức là nơi Thiên Ðế Thích thường bảo hộ).
Ngài vốn là người nước Kiền Ðà La, (dịch là nước Hương Hạnh). Gia thế thường cư trú tại thành Phú Lưu Sa Lưu La (dịch là cung Trượng Phu). Ngài vốn thuộc dòng Sát Ðế Lợi, tục tánh là Kim Bộ, dịch là Hạng (tức như cổ của con chim khổng tước), thuộc dòng quý tộc ở trong nước đó. Người cha tên là Bạt Xà La Bà La (dịch là Kim Cang Kiên). Thuở nhỏ, ông có hoài bão cao xa; lớn lên có đủ khì tiết thanh cao, lập thân làm tể tướng. Ông có năm người con, mà ngài Xà Na Quật Ða là nhỏ nhất.
Lúc nhỏ, ngài Xà Na Quật Ða có đức tánh chơn trực, sớm phát đạo tâm, thích xuống tóc, nguyện đi xuất gia. Song thân biết rõ, nhưng không thuận cho đi xuất gia. Nước đó có một tự viện lớn gọi là Ðại Lâm. Ngài thường đến đó nương tựa, để mong được độ thoát. Sau này, Ngài y chỉ theo sa môn Xà Nhã Na Bạt Ðạt La (dịch là Trí Hiền), thông suốt tam tạng, hiểu rõ luật tạng.
Sau khi xuất gia ngài Xà Na Quật Ða hiếu kính, chuyên tín thành lời giáo huấn của thầy bổn sư, y chỉ quán thông kinh điển. Bấy giờ các thánh cảnh linh tích ở xứ Hiền Ðậu vẫn còn tồn tại. Do đó, Ngài theo vị thầy bổn sư để chiêm ngưỡng lễ bái. Vào năm hai mươi bảy tuổi, lúc được ba hạ, Ngài và thầy bổn sư cùng các vị sa môn khác đồng kết chí du phương hoằng pháp. Mới đầu, tổng cộng có mười vị sa môn đồng xuất hành. Trên đường ghé ngang qua nước Ca Ty Thi, họ lưu lại nơi đó vài năm. Quốc vương thỉnh cầu ngài Xà Nhã Na Bạt Ðạt La (thầy bổn sư của ngài Xà Na Quật Ða) làm quốc sư, khiến ban ích lợi cho quốc dân không ít.
Sau này, họ đến ngọn Tây Túc thuộc dãy Ðại Tuyết Sơn. Ngọn núi Tây Túc cao chót vót, thấu tận trời xanh. Kế đến, họ qua nước Yểm Ðát. Nơi đó hoang dã, dân chúng thưa thớt, không có ai cúng dường thực phẩm. Vì vậy, ngài Xà Na Quật Ða xả đại giới mà tận lực để tìm thức ăn, hộ trì đoàn hoằng pháp. Thời gian sau, được thần linh che chở hộ trì, họ thoát nạn đói, nơi miền hoang dã. Họ tiếp tục đến nước Kiệt La Bàn Ðà và Vu Ðiền. Nơi đó, họ gặp mưa gió tuyết rét lạnh, nên tạm dừng lại, mà chưa hoằng hóa. Chẳng bao lâu, họ lại sang Thiện Châu. Bấy giờ là nhằm vào đời Tây Ngụy, niên hiệu Ðại Thống nguyên niên (535). Tuy gặp bao gian nan nguy hiểm mà tâm Ngài vẫn dõng mãnh tinh tấn. Từ lúc khởi hành, có mười người, nhưng khi đến đó thì chỉ có bốn người còn sống sót. Vào đời Chu Minh Ðế, niên hiệu Võ Thành (557-560), họ đến Trường An, tạm lưu trú tại chùa Thảo Ðường. Nơi đó, ngài Xà Na Quật Ða đăng tịnh đàn, thọ lại giới cụ túc, rồi tinh tấn tu hành, từ từ học tiếng Tàu. Biết thanh danh vị thầy bổn sư (tức Xà Nhã Na Bạt Ðạt La), Chu Minh Ðế triệu thỉnh vào hoàng cung vấn đạo, đàm luận Phật pháp, rồi cúng dường lễ vật trong cấm cung. Thấy không được tự do nơi cung cấm, nên thầy trò ngài Xà Na Quật Ða trình lên với Chu Minh Ðế. Nhà vua bèn ra lịnh xây chùa Tứ Thiên Vương để thầy trò của Ngài được cư trú, và phát khởi công tác phiên dịch kinh điển, như kinh Thập Nhất Diện Quán Âm, Kim Tiên Vấn, v.v...
Sau này Tiếu Vương Tự Văn Kiệm sang trấn nhậm đất Thục, bèn thỉnh đồng hành. Vì vậy, họ theo ông ta qua đó, trụ tại chùa Long Uyên. Ngài Xà Nhã Na Bạt Ðạt La nhậm chức Tăng Chủ ở ích-châu, và phiên dịch Quán Âm Kệ, kinh Phật Ngữ, v.v...
Lúc Kiện Ðức Võ Ðế mộ đạo giáo mà hủy phá Phật giáo, bắt tăng chúng hoàn tục. Ông lại bắt ngài Xà Na Quật Ða vào kinh đô, bức bách uống rượu, thi lễ, nhưng Ngài vẫn kiên trì giữ giới, không lộ chút sợ hãi. Võ Ðế thấy chí khí cang cường, nên thả Ngài trở về chùa. Từ Cam Châu hướng đến Ðột Quyết, thì thầy bổn sư (tức Xà Nhã Na Bạt Ðạt La) muốn trở về phương tây để nhập diệt. Ðến Ðột Quyết, thầy trò lưu lại. Chẳng bao lâu ngài Xà Nhã Na Bạt Ða La nhập diệt. Ngài Xà Na Quật Ða một hình một bóng, không có chỗ an trú.
Ngài đến vùng Bắc Ðịch, tùy phương tiện hoằng hóa lợi sanh. Ðến niên hiệu Khai Hoàng thứ năm (585), tại chùa Ðại Hưng Thiện, sa môn Ðàm Duyên cùng hơn ba mươi sa môn khác khởi sự phiên dịch. Nghe Xà Na Quật Ða trú tại Bắc Ðịch, họ bèn dâng tấu cầu thỉnh Ngài trở về kinh đô. Nhà vua liền ban sắc lịnh, cầu thỉnh bốn lần, mà Ngài vẫn không đi, trú nơi đó đến mười năm. Sau này, vì cảm thấy thế nhân biết trọng Tam Bảo, nên Ngài trở về kinh đô. Bấy giờ Văn Ðế đang trú tại Lạc Dương, nghe tin Ngài đến kinh đô nên rất vui mừng, tới vấn an, và cung thỉnh phiên dịch kinh điển. Thấy những kinh điển mới vừa được phiên dịch, lời văn rất thô sơ, và văn nghĩa chưa rõ ràng, nên Ngài cực lực kiểm thảo, nhuận sắc, trau chuốt lại. Bấy giờ ngài Na Liên Ðề Lê Da Xá đã nhập diệt, nên chỉ còn một mình ngài Xà Na Quật Ða nhận lấy trọng trách kiểm duyệt kinh điển. Ngài lại mời hai anh em dòng bà la môn là Cao Thiên Thủ và Cao Hòa Nhân, trợ giúp duyệt bản kinh tiếng Phạn. Lại có mười vị danh đức sa môn như Tăng hưu, Pháp Kinh, v.v... giúp Ngài hiệu đính, thuyên định tông chỉ.
Cách Vu Ðiền về phía đông nam hai ngàn dặm có nước tên là Giá Câu Già. Quốc vương tín phụng đại thừa Phật giáo. Trong trung điện có chứa ba ba kinh Ma Ha Bát Nhã, Ðại Tập Hoa Nghiêm. Quốc vương thường tự chia thời khoá tụng đọc, dâng hương hoa cúng dường. Về phía đông nam của nước này có một ngọn núi coa chót vót. Bên trong có một hang động thâm u, chứa tám bộ kinh Ðại Tập, Hoa Nghiêm, Phương Ðẳng, Bảo Tích, Lăng Già, Phương Quảng, Xá Lợi Phất Hoa Tụ Nhị Ðà la Ni Ðô Tát La Tạng, Ma Ha Bát Nhã. Bát Nhã và Ðại Tập có mười hai bộ, khoảng một trăm ngàn bài kệ. Quốc pháp tương truyền phòng vệ thủ hộ. Ngoài ra, có ba vị A La Hán đang nhập diệt tận định trong hang đó. Mỗi nửa tháng, chư tăng trên núi đến đó, cạo râu tóc cho ba vị A La Hán. Quốc vương nước đó dùng nhân pháp mà trị vì. Dân chúng đều dốc lòng tín phụng Phật pháp.
Ngài Xà Na Quật Ða đạo tánh thuần hậu, thần chí kiên cường đoan chánh, mến đức hạnh; không nhàm chán cầu pháp, uyên bác ba tạng kinh điển, nghiên cứu thâm sâu tông chỉ chân yếu; học hết ngũ minh, thông suốt thế luận; hành đạo đắc được chỉ thú, tổng trì lý giải thần chú; suốt đời thường đắp ba y ca sa, ngày dùng một buổi, nhân từ cứu người tế vật chẳng cần đợi thỉnh cầu; mãi chuyên cần đọc tụng kinh điển, khiến sĩ thứ khâm trọng, đạo tục tôn sùng. Tùy Ðằng Vương sùng kính ngưỡng vọng giới đức của Ngài nên tôn làm thầy.
Ðến niên hiệu Khai Hoàng thứ mười hai (592), ngài Xà Na Quật Ða nhập diệt, thọ bảy mươi tám tuổi. Từ lúc sang Ðông Ðộ, Ngài phiên dịch được ba mươi bảy bộ kinh, và một trăm bảy mươi sáu quyển, như kinh Phật Bổn Hạnh, Tập Pháp Cự, Oai Ðức Hộ Niệm, Hiền Hộ, v.v... Văn dịch lưu loát, phù hợp viên dung với giáo lý. Xưa kia Tùy Cao Tổ ban sắc lịnh cho ngài Xà Na Quật Ða cùng sa môn Nhã Na Kiệt Ða (người Tây Vực), v.v... tại nội sử nội tỉnh, phiên dịch Phạn văn cổ điển. Ðến niên hiệu Khai Hoàng thứ mười hai thì hoàn tất.
47. Ngài Ðạt Ma Cấp Ða (Dharmagupta, dịch là Pháp Mật).
Ngài Ðạt Ma Cấp Ða vốn là người nước Hiền Ðậu La La, thuộc dòng Sát Ðế Lợi, tục tánh là Tệ Na Già La (gọi là Hổ Ðể), là người lớn nhất, có bốn người em. Cha mẹ lưu luyến, không cho xuất gia. Song, Ngài dốc tín, mến mộ pháp môn, thâm nguyện xuất gia rời tục. Năm hai mươi ba tuổi, Ngài đến thành Kiện Noa Cứu Bạt Ðổ (dịch là Nhĩ Xuất). Tại vùng Cứu Ni (dịch là Hoàng Sắc Hoa Viên), có một ngôi Tăng Già Lam nổi tiếng. Nơi đó, ngài Ðạt Ma Cấp Ða được xuống tóc xuất gia. Năm hai mươi lăm tuổi, thọ giới cụ túc, và vẫn ở lại chùa tu học ba năm. Trong chùa có một vị A Xà Lê tên là Phổ Chiếu, thông suốt kinh luận của đại thừa và tiểu thừa, thường đi hành khất, cùng tu thiền pháp. Lúc ngài Phổ Chiếu được quốc vương nước Trá Ca thỉnh cầu sang đó giảng kinh pháp. Ngài Ðạt Ma Cấp Ða cũng theo qua nước đó. Một năm sau, ngài Phổ Chiếu trở về bổn quốc. Ngài Ðạt Ma Cấp Ða vẫn lưu trú nơi đó bốn năm, tại chùa Ðề Bà Tị Hà La (dịch là Thiên Du). Ðây là ngôi chùa mà tăng chúng đại thừa và tiểu thừa trong bốn phương đồng hội tụ đến để tu học, hầu mong sở kiến được tăng trưởng.
Thương nhân đi đường phía bắc Thiên Trúc thường băng ngang qua vùng này. Họ thường truyền tụng nhau rằng ở Ðông Vực có nước Ðại Chi Na (hay Chấn Ðán). Mới đầu, tuy nghe tên nước đó, nhưng Ngài chưa màng để ý đến. Sau này, Ngài cùng với sáu vị sa môn khác qua nước Ca Tý Thi, trú tại chùa Vương Tự. Ngài lại cùng bốn vị sa môn khác trú trong quốc thành đó hai năm liền. Trong thời gian này, Ngài đi khắp các tự viện để học tập kinh điển. Nước này vốn là nơi mà các thương nhân thường tụ hội, vì nằm trên tuyến đường bắc lộ. Các thương nhân cũng thường nói đến dân chúng ở nước Ðại Chi Na rất tín phụng ngôi Tam Bảo. Hai lần nghe qua nước Ðại Chi Na, khiến Ngài phát tâm du hành sang nơi đó để hoằng dương chánh pháp. Do đó, Ngài cùng với vài vị sa môn đồng hành, đến núi Tây Túc ở dãy Tuyết Sơn, nước Bạc Khư La, Ba Ða Xoa Noa, nước Ðạt Ma Tất Tu Ða. Tại những nước này, tuy không trú lại lâu, nhưng Ngài hiểu rõ phong tục, nghi thức tu hành ở trong các tự viện. Ngài lại đến nước Kiệt La Bàn Ðà, rồi lưu trú một năm, cũng chưa giảng kinh pháp. Ngài lại đến nước Sa Lặc. Một vị sa môn đồng hành bèn trở về bổn quốc, còn lại ba vị đồng cư trú nơi chùa Vương Tự. Ngôi chùa này do quốc vương Sa Lặc kiến tạo. Trong hai năm cư trú, Ngài vì chư tăng tại chùa đó mà giảng hai ngàn câu kệ của luận Niệm Phá để thuyết minh tam ấn, thuyết phá lý luận của ngoại đạo. Ngài lại giảng luận Như Thật, cũng có hai ngàn bài kệ, để phá văn nghĩa và luận của thế gian.
Kế đến, Ngài sang nước Quy Từ, trú tại chùa Vương Tự trong hai năm. Ngài cũng vì chư tăng nơi đó mà giảng Thích Tiền Luận. Vốn đốc tín đại thừa, nên khi nghe ngài Ðạt Ma Cấp Ða giảng giải bộ luận đó, quốc vương nước Quy Từ cũng được khai ngộ rất nhiều, nên ngày đêm thường đến vấn đạo. Vì có tâm nguyện sang Ðông Ðộ, nên Ngài không muốn luu lại nơi đó. Vì vậy, Ngài cùng với một vị tăng khác bí mật sang nước Ô Kỳ, trú tại chùa A Lan Noa, giảng luận Thông Tiền cùng kinh điển trong hai năm, rồi từ từ đến nước Cao Xương, đi tham quan các tự viện. Tại nước đó, rất nhiều tăng chúng chuyên học tiếng Tàu. Tuy ở lại hai năm, nhưng Ngài không giảng thuyết gì hết. Thứ đến, Ngài sang nước Y Ngô. Trên đường đến nước đó, Ngài vượt một bãi sa mạc không cỏ nước. Các vị đồng hành vì khát nước nên đều bỏ mạng trong bãi sa mạc. Riêng một mình Ngài mang kinh luận, cố men theo đường lộ, vượt núi non để tìm nước uống. Tìm không được nước, Ngài bèn rán sức niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và tụng thần chú. Ðến tối, trời đột nhiên đổ mưa, khiến thân tâm Ngài sung mãn hân hoan. Ngài bèn trở lại con đường cũ, nhưng bốn bề hoang vắng, và bị lạc mất dấu tích cùng phương hướng. Song, Ngài vẫn tiến về phía trước, rồi đến Qua Châu, mới biết đường bắc lộ cong quẹo. Trên đường đi, các vị sa môn đồng hành, có người hoặc trở về Thiên Trúc, hoặc trú lại các vương quốc lân cận, hoặc đã mất mạng.
Trải qua bao gian nan khổ cực, cuối cùng một mình Ngài đơn độc đến kinh thành của Trung Thổ. Nghe tin Ngài đến, nhà vua ân cần tiếp đãi, tứ sự cúng dường, và thỉnh về trú tại các tự viện lớn. Vào tháng mười, niên hiệu Khai Hoàng thứ mười (590), chưa nghỉ ngơi xong, Ngài được nhà vua ban sắc lịnh phiên dịch kinh điển. Ngài sang chùa Ðại Hưng Thiện, bắt tay ngay vào việc phiên dịch. Nơi đó, Ngài thường tuyên giảng nghĩa lý thâm yếu của kinh luận đại thừa và tiểu thừa. Tuy có các người theo phái cựu học nghi ngờ, nhưng Ngài vẫn hoằng hưng chỉ thú kinh luận. Tánh của Ngài nhu hòa, nhân từ. Tâm chẳng rời đạo, ngôn hạnh tương dung. Giới đức thanh tịnh. Trí huệ thâm sâu uyên bác. Hiểu rõ tận nguồn cội kinh luận. Dung mạo đoan chánh, oai nghi hùng dũng, âm thanh đọc tụng kinh điển vang rền như sấm, lý lẽ thông trong ngoài, tánh thích cư nơi vắng lặng, chẳng thích tình lự, thường giáo huấn người không mỏi mệt, không màng nơi tiền tài vật chất, khiến người chưa gặp đều sanh tâm kính phục, và khiến người gặp mặt đều khởi tâm thâm tín.
Dương Ðế Ðịnh kính trọng và cúng dường Ngài thâm hậu. Vì muốn Phật pháp được hung thịnh, ông lại ban sắc lịnh lập đạo tràng dịch kinh tại Thượng Lâm Viên ở mé sông Lạc Thủy, để Ngài phiên dịch kinh luận cùng truyền bá chánh pháp. Chư danh sĩ nhất thời đổ về tham học với Ngài. Lần nọ, một bản kinh vừa được dịch ra, có thiếu vài đoạn. Vì đã tinh thâm liễu giải kinh luận, nên Ngài tự bổ túc vào để cho đầy đủ ý nghĩa. Tổng cộng, Ngài phiên dịch được bảy bộ kinh luận, hợp thành ba mươi hai quyển, như Khởi Thế Gian Duyên Sanh, Dược Sư Bổn Nguyện, NhIếp Ðại Thừa Bồ Ðề Tư Lương, v.v... Văn nghĩa gọn gàng, trong sáng, yếu chỉ minh bạch rõ ràng. Những bộ kinh luận do Ngài dịch đều được xếp đặt vào bộ 'Ðường Trinh Quán Nội Ðiển Lục'. Ðến niên hiệu Võ Ðức thứ hai, Ngài lại dịch thêm mười lăm quyển kinh Phổ Lạc.
Có sa môn Ngạn Tông, thông thạo tiếng Phạn-Hán, dựa theo những lời trần thuật của ngài Ðạt Ma Cấp Ða về những sự việc thấy nghe trên tuyến đường từ Thiên Trúc sang Trung Thổ, mà viết thành một bộ 'Ðại Tùy Tây Vực Truyện'. Trong bộ truyện này chia ra làm mười thiên: 1/ phương hướng, sự vật, 2/ khí hậu, 3/ cư xứ, 4/ chánh trị, 5/ học giáo, 6/ lễ nghĩa, 7/ thức ăn, 8/ y phục, 9/ tài nguyên, 10/ núi sông, thành ấp tục lạc, dân chúng.
48. Ngài Xà Ðề Tư Na.
Ngài là người nước Ma Kiệt Ðề ở trung Thiên Trúc, kiêm thông tam tạng, tinh tường thế luận cùng y thuật thế gian. Lần nọ, trong nước đó có một trận động đất dữ dội, khiến đất nứt ra, lộ một bia đá, viết:" Ở đông phương, có nước Chấn Ðán, danh Ðại Tùy, thành gọi là Ðại Hưng, vua là Kiên Ý kiến lập chùa tháp tín phụng Tam Bảo."
Thấy bia đá này, vua quan cùng dân chúng rất vui mừng hớn hở, cho là điềm lành hi hữu. Bấy giờ, tại Trung Thổ là nhằm vào niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn (594). Ngài Xà Ðề Tư Na cùng với năm mươi tăng sĩ và cư sĩ xuất phát từ Vương phủ đi về hướng đông, để tìm linh tướng. Trên đường họ bị bọn cướp giết chết, chỉ còn vài người trốn thoát.
Sau chín năm, Ngài đến Trung Thổ vào niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602). Bấy giờ nhằm vào lúc Tùy Văn Ðế cầu được rất nhiều hạt xá lợi, và cho xây tháp cúng dường. Ngài vừa đến, liền được nhà vua thỉnh vào nội điện Ðại Bảo. Ðang lúc đàm luận với Ngài, nhà vua chợt đưa bốn ngón tay lên, rồi hỏi quần thần:
- Các khanh có biết ý Trẫm chăng?
Quần thần không ai đáp được. Nhà vua quay sang hỏi Ngài. Ngài đáp:
- Ý của đàn việt là bảo rằng bần đạo đã chứng tứ quả A La Hán. Song, điều này không thật.
Nghe lời này, nhà vua kinh dị. Kế đến, nhà vua thỉnh Ngài về trú tại một cung quán. Lần nọ, nhà vua lại hỏi:
- Tạo linh tháp khắp các châu quận. Song, có hai châu quận là Xiểm Châu và Tào Châu là nơi có nhiều điềm lành nhất. Vậy nên thờ ai?
Ngài bảo:
- Nên thờ Bồ Tát Ðịa Tạng tại Xiểm Châu. Tại Tào Châu, nên thờ Bồ Tát Quan Hoa Không Tạng.
- Thiên hoa giống như vật gì?
- Giống như miếng mi ca mỏng.
Nhà vua bèn bí mật lấy mi ca mỏng để làm thiên hoa. Người nhìn vào, không ai biết được. Sau này hoàng hậu băng hà, trên hư không lại có tiếng nhạc vang rền, cùng có mùi hương lạ bay tỏa khắp nơi. Nhà vua đem việc này đến vấn hỏi. Ngài đáp:
- Hoàng hậu đã vãng sanh sang cõi Tây Phương Tịnh Ðộ của Phật A Di Ðà, nên chư thiên khởi nhạc trời mà nghênh tiếp.
Nhà vua cho là điềm kỳ đặc, nên đem lễ vật mà tặng thưởng, nhưng Ngài không thọ nhận.
Sau này, không ai biết Ngài tịch vào lúc nào.
49. Ngài Ba La Pha Ca La Mật Ða La (Prabhakaramitra).
Ngài Ba La Pha Ca La Mật Ða La (dịch là Minh Trí Thức) là người trung Thiên Trúc, thuộc dòng Sát Ðế Lợi, tục tánh Sát Lợi Ðế, xuất gia từ năm mười tuổi, tụng thuộc kinh đại thừa cả trăm ngàn câu kệ. Thọ giới cụ túc xong, Ngài chuyên cần học luật tạng, uyên bác nơi giới luật, tâm thích thiền pháp, nên theo chư thạc đức tu tập thiền định, mà không xả bỏ kinh điển suốt mười hai năm trường. Sau này, Ngài đến tu viện Na Lan Ðà ở nước Ma Già Ðà (hay Ma Kiệt Ðà). Nơi đó, gặp lúc luận sư Giới Hiền đang hoằng dương luận Thật Thất Ðịa, nên Ngài bèn ở lại nghe giảng giải. Luận này hiển minh tiểu giáo. Ngài lại tụng đọc thông suốt các luận tiểu thừa. Nhờ khí chất thông minh uyên bác, Ngài nghiên cứu tinh tường giáo lý đại tiểu thừa. Ngài lại làm bậc giáo thọ sư cho các đồng học, cùng hóa độ tăng chúng, và thường diễn giảng những bộ kinh như Bát Nhã Nhân Ðà La Bạt Ma, v.v..., khiến các học nhân đều thâm đạt nghĩa lý u huyền. Danh vang pháp hóa của Ngài, khiến vua quan triều thần đều phải kính phục. Song, người xuất gia chẳng thường trú ở một phương. Tùy theo duyên pháp, cứ khoảng sáu tháng, Ngài di chuyển một lần. Vì dân Bắc Ðịch Ðột Quyết chưa biết đến Phật pháp, nên Ngài đến đó để giáo hóa. Lần hồi, Ngài cùng với chư tăng kẻ tục khoảng mười người đi về phương bắc, đến phía tây Khả Hãn Thống Diệp Hộ (Jabgu), và dùng Phật pháp giáo hóa những kẻ chưa từng biết đến chánh giáo, khiến Nhung Chúa thâm tín bội phục vô vàn, nên cấp cho hai mươi người để hầu hạ cung phụng ngày đêm. Các chư tăng kẻ tục đồng hành thấy ân đức giáo hóa của Ngài như thế, nên lại càng sanh tâm tín phục.
Năm 626, Cao Bình Vương sai sứ giả vào đất Phiên, nên gặp được Ngài, và được độ hóa. Sứ giả đem những lời đã được dạy, trở về thuật lại cho Cao Bình Vương. Thế nên, Cao Bình Vương bèn lại cho sứ thỉnh cầu Ngài đến Ðông Ðộ, mà quân thần Diệp Hộ đều lưu luyến không cho Ngài đi. Nhà vua nghe biểu tấu của Cao Bình Vương, bèn hạ lịnh cho Nhung Chúa phải đưa Ngài vào Trung Thổ. Thấy yếu thế, nên Nhung Chúa đành phải nhân nhượng mà để cho Ngài vào Trung Thổ cùng với Cao Bình Vương.
Năm đó, vào tháng mười hai, Ngài đến kinh đô. Vua ban sắc cho Ngài trú tại chùa Ðại Hưng Thiện, và thường sang đó vấn an đàm đạo về nghĩa lý u huyền. Ngài tùy theo cơ duyên mà đối đáp tường tận, khiến nhà vua rất mực tôn sùng, nên sai năm vị tăng làm thị giả hầu Ngài. Những lời của Ngài giảng giải đều không vượt ngoài kinh điển. Nhà vua lại ban sắc cho Ngài phiên dịch kinh điển, cùng mời mười chín danh tăng thạc đức đến hỗ trợ, như sa môn Huệ Thừa (lo việc đối chiếu nghĩa lý), sa môn Huyền Mô (lo việc chuyển ngữ), sa môn Huệ Tịnh, Huệ Minh, v.v... (lo việc trau chuốt lời văn), cùng trụ quốc thượng thư tả bộc và thái tử (lo việc hiệu đính giảo định), Quang Lộc đại phu thái phủ Khanh Tiêu Chương (lo việc giám hộ). Các quan triều cùng nhau tứ sự cúng dường thâm hậu. Ðầu tiên, Ngài dịch được kinh Bảo Tinh, rồi kế đến là kinh Thắng Quang, luận Bát Nhã Ðăng Ðại Trang Nghiêm; tổng cộng là ba bộ cùng ba mươi lăm quyển. Sáu năm sau, Ngài thảo duyệt, trau chuốt lời văn cho lưu loát, rồi dâng lên nhà vua xem xét. Sau khi duyệt xem tường tận, nhà vua bèn ra lịnh sao chép mười bộ để lưu truyền trong nước. Nhà vua lại trọng thưởng Ngài thâm hậu, và ra lịnh cho thái tử viết lời tựa cho các quyển kinh luận vừa được phiên dịch. Ngài cũng thường giảng kinh luận cho các quan triều danh sĩ.
Sa môn Huệ Giai, là vị tăng tài trí bạt quần, nói với quan sử giám hộ:
- Ngài Ba La Pha Ca La Mật Ða La từ phương xa muôn dặm đến Ðông Hạ chẳng vì lợi danh, mà chỉ vì muốn khiến đạo lưu truyền ngàn năm, pháp âm vang thiên cổ. Xưa kia, trong hai đời vua Phù Kiên và Dao Hưng, các học sĩ phiên dịch kinh có cả ba ngàn vị. Hiện tại, ở đời Ðường, chỉ có hơn hai mươi người tham gia phiên dịch. Vậy xin quan hãy tấu trình việc này lên với Hoàng Thượng, để cho người thêm phụ giúp việc dịch kinh, hầu mong hậu thế không nghi ngờ.
Do thệ nguyện hoằng dương Phật pháp, Ngài không màng bao gian nan nguy hiểm, đi hơn bốn mươi ngàn dặm, vượt ngọn Thông Lĩnh, băng qua các bãi sa mạc cùng núi sông hiểm trở, tự mang kinh điển để sang nước Chấn Ðán phiên dịch. Song, chí nguyện chưa được hoàn mãn, mà chẳng biết thố lộ cùng ai, nên cảm bịnh. Tự biết chẳng cứu trị nổi, Ngài bèn phân phát vật dụng, tạo các tịnh nghiệp, rồi ngồi thẳng trước chánh điện chùa Thắng Quang, chánh tâm quán tượng Phật, rồi thị tịch, thọ sáu mươi chín tuổi vào năm 633. Ðông cung thái tử sai hai mươi người thỉnh nhục thân của Ngài lên núi để làm lễ trà tỳ. Sau đó, sa môn Huyền Mô bèn thâu nhặt xá lợi và đặt trong tháp thờ phụng tại chùa Thắng Quang, vào mồng sáu tháng tư, niên hiệu Trinh Quán thứ bảy. Bao năm Ngài cống hiến công sức phiên dịch, hầu mong ngọn đuốc chánh pháp soi sáng cho những kẻ u mê. Song, thệ nguyện hoằng pháp chưa hoàn thành mà Ngài đã nhập diệt, khiến cho hậu thế bàng hoàng thương tiếc ngưỡng mộ.
50. Tam tạng pháp sư Na Ðề (Punyopaya, dịch là Phước Sanh).
Ngài vốn là người Trung Thiên Trúc, xuất gia từ thuở nhỏ, được các danh sư khai ngộ, có chí khí cùng hoài bão hoằng pháp ở phương xa. Vì vậy, Ngài chu du khắp các vương quốc để khai đạo chúng dân. Sau này, Ngài đến nước Sư Tủ, tới núi Lăng Già ở miền đông nam, qua các nước ở Nam Hải, mà tùy duyên giáo hóa. Nhờ thông thạo nhiều ngôn ngữ các quốc gia, nên Ngài thường diễn kinh thuyết pháp, độ người lập chùa. Tại Thiệm Châu, phía đông nước Chi Na, Ngài hoằng dương giáo pháp đại thừa, khiến Phật pháp được hưng thịnh. Ngài lại mang một ngàn năm trăm kinh luận đại tiểu thừa, đến kinh đô Trung Thổ vào niên hiệu Vĩnh Huy thứ sáu (655).
Ðương thời, thanh danh của pháp sư Huyền Trang vang dội khắp nơi, chẳng có ai sánh bì kịp. Vì vậy, ngài Na Ðề đành cam ẩn dật. Niên hiệu Hiển Khánh nguyên niên (656), Ðường Cao Tông ban sắc lịnh cho ngài Na Ðề sang các nước Côn Lôn để tìm thuốc lạ. Ðến Nam Hải, các quốc vương đồng cung nghinh quy y, lập chùa, để Ngài giáo hóa chúng dân. Công nghiệp hoằng pháp hiển đạt. Song, vì Ngài theo lịnh của vua Ðường mà qua đến các nước ở Nam Hải, và vì muốn trở về Trung Thổ để nghiên tầm thêm các kinh điển bằng tiếng Phạn, nên vào niên hiệu Long Sóc thứ ba (663), Ngài trở về chùa Từ Ân ở Ðông Ðộ. Nơi đó, Ngài chỉ dịch được ba bộ kinh như Nhập Mạn Trà La Lễ Phật Pháp, A Trá Na Trí, v.v... Nghĩa lý thâm sâu, lời văn điêu luyện.
Năm đó, do sự giáo hóa của Ngài, quốc vương nước Chân Lạp bèn phái các danh sư sang Trung Thổ cầu thỉnh:
- Nước chúng tôi có nhiều thuốc lạ, mà chỉ có ngài Na Ðề là biết cách tìm. Xin hãy ban sắc cho ngài Na Ðề sang bổn quốc.
Ðường Cao Tông định ban chiếu chỉ cho ngài Na Ðề đi, nhưng bị các quan triều cùng danh sĩ bẩm tấu:
- Tam tạng pháp sư Na Ðề vốn là môn đồ của Bồ Tát Long Thọ, nên lý giải về Vô Tướng thật vượt xa Huyền Trang.
Các vị Phạn tăng Tây Vực cũng bẩm tấu:
- Sau khi Ðại Sư (Bồ Tát Long Thọ) nhập tịch, ngài Na Ðề là vị thâm giải lý Thật Tướng, đạt thấu tận đáy nguồn phương tiện tiểu thừa năm bộ Tỳ Ni cùng bốn bộ Vệ Ðà của ngoại đạo, thông minh ngôn nghĩa, lời như châu ngọc, tiếng như sấm vang, trước luận đại thừa hơn bốn mươi bộ, đang sắp phiên dịch.
Ngàn năm một thuở, đường xa vạn dặm Ngài mang đạo đến phương bắc mà không được hậu đãi, nhưng lại bị đưa về miền nam, gặp sơn lam chướng khí, khiến cảm bịnh rồi thị tịch. Thật tiếc thay cho một bậc long tượng của đạo pháp.
51. Ngài Nhã Na Bạt Ðà La (Jnanabhadra, dịch là Trí Hiền).
Ngài là người nước Ha Lăng, thông suốt ba tạng kinh điển. Trong niên hiệu Lân Ðức (664-665), sa môn Hội Ninh ở Thành Ðô, vì muốn sang Thiên Trúc để chiêm bái các thánh tích, nên theo thương thuyền đi về hướng tây. Giữa đường, thuyền tại nước Ha Lăng. Sa môn Hội Ninh cùng ngài Nhã Na Bạt Ðà La dịch hai quyển phần sau của kinh Niết Bàn, từ bộ kinh A Cấp Ma. Phần này nói về những sự việc xảy ra sau khi làm lễ trà tỳ kim quan của đức Thế Tôn như thâu nhặt Xá Lợi, v.v..., nhưng không đồng với bộ kinh Niết Bàn đã được phiên dịch. Dịch xong, bộ kinh này được gởi đến Giao Châu (Việt Nam). Ðô đốc Giao Châu là Lương Nan Dịch nhờ sa môn Vận Kỳ mang bộ kinh này vào kinh đô. Sa môn Hội Ninh lại sang Tây Vức.
52. Ngài Phật Ðà Ða La (Buddhatrata, dịch là Giác Cứu).
Ngài là người nước Kế Tân ở bắc Thiên Trúc. Ngài phát nguyện sang hóa độ dân Chi Na, nên qua Ðông Ðộ truyền pháp, trú tại chùa Bạch Mã, phiên dịch kinh Ðại Phuơng Quảng Viên Giác Liễu Nghĩa.
53. Ngài Phật Ðà Ba Lợi (Buddhapali, dịch là Giác Hộ).
Ngài là người nước Kế Tân ở bắc Thiên Trúc. Quên thân mạng hết lòng vì đạo, đi chiêm ngưỡng lễ bái hết các thánh tích. Nghe Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ẩn tích tại núi Thanh Lương, không quản đường xá xa xôi, Ngài lặn lội đến núi Ngũ Ðài. Ðời Ðường Cao Tông, niên hiệu Nghi Phượng nguyên niên (676), Ngài chống tích trượng đến núi Ngũ Ðài, khẩn thành lễ bái, lệ rơi như mua, mong mỏi được xem dung mạo Bồ Tát. Lát sau, một ông lão từ trong núi đi ra, nói tiếng bà la môn (tức tiếng Phạn):
- Thầy cầu việc gì?
Ngài đáp:
- Nghe Bồ Tát Văn Thù ẩn tích tại núi này, nên từ Thiên Trúc sang đến đây để chiêm bái.
- Thầy từ Thiên Trúc sang. Vậy có mang theo kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni chăng? Nơi đây, chúng sanh tạo rất nhiều nghiệp ác. Các người xuất gia cũng phạm giới rất nhiều. Thần chú Phật đảnh có thể thầm mật giúp họ tiêu trừ nghiệp tội. Nếu không đem quyển kinh này, thì có tới đây cũng vô ích. Dẫu có gặp Bồ Tát Văn Thù, nhưng cũng không thể nhận ra. Thầy nên trỏ về Tây Vực để thỉnh bộ kinh đó, hầu mong lưu truyền nơi nước này. Ðó là phụng hành lời dạy của chư thánh chúng, thường quảng độ quần sanh, tức là trực tiếp báo từ ân của chư Phật.
Nói xong, ông lão biến mất. Ngài lại càng thâm tín lễ lạy gấp bội, và lập tức trở về Thiên Trúc. Thỉnh được quyển kinh đó, rồi trở lại Ðông Ðộ. Ðường Cao Tông thấy Ngài chân thành tôn sùng quyển kinh bí mật đó, nên cho vời sa môn Ðiển Khách ở chùa Hồng Lư và tam tạng pháp sư Nhật Chiếu vào kinh đô cùng cộng tác phiên dịch. Phiên dịch xong, nhà vua ban thưởng cho Ngài ba mươi xấp lụa, và giũ ở lại hoàng cung. Ngài rơi lệ thưa với nhà vua:
- Tôi xả thân mạng vì có chí nguyện lợi sanh. Xin Hoàng Thượng hãy cho lưu bố bộ kinh này.
Nhà vua thấy Ngài rất mực chân thành, nên trả lại quyển kinh bằng chữ Phạn, và giữ bản văn dịch. Lấy lại được nguyên bản chữ Phạn, Ngài vui mừng đến chùa Tây Minh, cùng sa môn Thuận Trinh (thông thạo tiếng Phạn) đồng dâng sớ xin phiên dịch. Nhà vua vừa chấp thuận, Ngài và sa môn Thuận Trinh cùng chư đại đức đồng phiên dịch, gọi là kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni. Lần phiên dịch này, về phần chân ngôn thần chú có khác với các nhà dịch giả lúc trước (tức sa môn Ðiển Khách và Nhật Chiếu). Dịch xong, Ngài bèn đem bản kinh chữ Phạn đến Ngũ Ðài, rồi ẩn tu tại hang động Kim Cang. Hiện nay, tại Vĩnh Hưng Long Thủ Võng còn thờ phần xá lợi của ngài Phật Ðà Ba Lợi.
Vào niên hiệu Ðại Lịch (766-779), sa môn Pháp Chiếu ở chùa Vân Phong tại núi Nam Nhạc, vào núi Ngũ Ðài, lễ bái trong hang động Kim Cang. Trời vừa chập tối, Pháp Chiếu chợt thấy một vị Phạn tăng cao bảy thước, nói tiếng Phạn rõ ràng, và tự xưng là Phật Ðà Ba Lợi, hỏi:
- Thầy lễ bái nhọc nhằn ở đây, vậy nguyện muốn gì?
Pháp Chiếu thưa:
- Con nguyện muốn thấy Bồ Tát Văn Thù.
- Nếu chí thành kiên cố chân thật không hư vọng, thì Thầy có thể bước qua tấm vách này, và trong gang tấc sẽ thấy rõ tôn nhan của Bồ Tát.
Pháp Chiếu vừa nhắm mắt thì thân đã vào trong hang sâu, thấy một đại viện, đề viết 'Chùa Kim Cang Bát Nhã'. Những chữ này tỏa ánh hào quang rực rỡ. Ðại viện đó trang nghiêm tráng lệ không thể diễn tả. Nơi trú của Bồ Tát Văn Thù cực kỳ tôn nghiêm. Bồ Tát tuyên nói những lời an ủi, cùng đua trà cho Pháp Chiếu uống. Sau đó, ngài Phật Ðà Ba Lợi dẫn Pháp Chiếu ra khỏi đại viện. Tuy Pháp Chiếu khẩn cầu trú lại trong đại viện, nhưng ngài Phật Ðà Ba Lợi không hứa khả, mà khuyên rằng phải nên nỗ lực cần mẫn tu hành thì sau này trở lại, mới có thể trú tại đại viện. Pháp Chiếu vừa bước ra ngoài tấm vách, và xoay đầu lại, thì không còn thấy ngài Phật Ðà Ba Lợi nữa.
54. Ngài Già Phạm Ðạt Ma (Bhagavaddharma, dịch là Tôn Pháp).
Ngài là người tây Thiên Trúc, vượt các bãi sa mạc, đường xa muôn dặm đến Trung Thổ, chí nguyện hoằng dương Phật pháp, chuyên tâm nơi phiên dịch kinh điển. Trong niên hiệu Vĩnh Huy (650-655), Ngài dịch kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni.
55. Ngài Di Ðà Sơn (Mitrasanata, dịch là Tịch Hữu).
Ngài là người nước Ðổ Hóa La, xuất gia từ thuở nhỏ, đi chu du khắp Thiên Trúc, học thông cùng cực kinh luận, Lăng Già, Câu Xá. Ngài đến Ðông Ðộ, cùng với ngài Thật Xoa Nan Ðà dịch kinh Ðại Thừa Nhập Lăng Già. Ngài lại cùng với ngài Ðạt Ma Ða La dịch kinh Vô Cấu Tịnh Quang Ðà La Ni. Sau đó, Ngài trở về bổn quốc.
56. Ngài A Di Chân Na (Ratnacinta, dịch là Bảo Tư Duy).
Ngài là người nước Ca Thấp Di La ở bắc Thiên Trúc, xuất gia từ thuở nhỏ, thường tu thiền định. Thọ giới cụ túc xong Ngài chuyên ròng về luật phẩm, huệ giải siên quần hơn người, thông giải chân đế và tục đế, biết rành về diệu xảo chú thuật. Do tâm muốn hóa đạo, Ngài đến Lạc Dương vào năm 693, và được sắc lịnh an trú tại chùa Thiên Cung, rồi khởi công phiên dịch kinh điển. Năm 706, Ngài dịch được bảy bộ kinh Bất Không Quyến Tác Ðà La Ni. Từ đó, Ngài không còn phiên dịch bộ kinh nào nữa, chỉ tinh cần lễ bái đọc tụng kinh điển, và làm việc phúc đức. Ngày ngày, Ngài dùng nước hương để lau chùi tượng Phật. Ngài thường mang bình bát đi khất thực và cũng bố thí lại cho những kẻ nghèo đói. Tại núi Long Môn, Ngài xây một ngôi chùa theo kiểu Tây Vực, và gọi là chùa Thiên Trúc. Môn đồ thường cư trú trong chùa đó. Do lòng chân thành tinh cần tu hành, Ngài đạt được rất nhiều điềm linh ứng. Ngài thị tịch vào năm 721, thọ hơn một trăm tuổi.
57. Ngài A Ðịa Cù Ða (Atigupta, dịch là Vô Cực Cao).
Ngài là người trung Thiên Trúc, học rộng uyên bác, cùng thông hết chữ nghĩa, đức hạnh thanh khiết tròn đầy, tinh tường ngũ minh, thấu suốt ba tạng kinh điển. Vào tháng giêng, niên hiệu Vĩnh Huy thứ ba (652), từ tây Thiên Trúc, Ngài mang kinh điển chữ Phạn đến Trường An. Nhà vua ban sắc cho Ngài trú tại chùa Từ Minh. Hai mươi tám tăng sĩ cùng danh sĩ như Ðại Thừa, Anh Công Lý, v.v... tại chùa Huệ Nhật, viện Phù Ðồ, đồng cung thỉnh Ngài kiến lập đàn tràng Ðà La Ni. Ngài ứng thuận theo lời cầu thỉnh mà tác pháp. Bấy giờ, trong đại chúng có rất nhiều người được bao điềm cảm ứng linh dị, nên chư tăng kẻ tục tại kinh đô đồng vui mừng tán thán. Vì vậy, chư sa môn đồng cung thỉnh Ngài dịch kinh pháp đó. Ngài rút ra từ bộ kinh Kim Cang Ðại Ðạo Tràng mà dịch từng tập, thành một bộ mười hai quyển, gọi là kinh tập Ðà la Ni. Sa môn Huyền Giai ghi chép.
58. Ngài Bát Lật Mật Ðế (Pramiti, dịch là Cực Lượng).
Ngài là người trung Thiên Trúc, có hoài bão tùy duyên tế sanh độ vật, nên du hóa khắp nơi, rồi từ từ sang Chi Na, đến Quảng Châu trụ tại chùa Chế Chỉ. Nơi đó, vào ngày hai mươi ba tháng năm niên hiệu Thần Long nguyên niên (705) đời Ðường Trung Tông, thể theo lời cầu thỉnh của đại chúng, Ngài rút ra từ bộ Quán Ðảnh, mà dịch ra thành một phẩm, được một bộ mười quyển, gọi là Ðại Phật Ðảnh Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm Kinh. Sa môn Di Già Thích Ca (người Ô Trường) chuyển Ngữ. Bồ tát giới đệ tử Tiền Chánh Nghị đại phu đồng trung thư, môn hạ bình chương Thanh Hà Phòng Dung ghi chép. Sa môn Hoài Ðịch ở chùa Nam Lâu, núi Phù Sơn, tại Tuần Châu, kiểm chứng văn phiên dịch. Quốc vương ở trung Thiên Trúc, nghe tin ngài Bát Lạt Mật Ðế dịch bộ kinh này tại Trung Thổ, nổi giận (vì bộ kinh này được xem là quốc bảo) lôi đình, sai người truy tìm. Ngài bèn mang nguyên bản chữ Phạn trở về bổn quốc, vì chúng sanh mà chịu tội với triều đình.
59. Ngài Thật Xoa Nan Ðà (Siksamanda, dịch là Học Hỷ).
Ngài là người nước Vu Ðiền ở phía bắc ngọn Thông Lĩnh, tài trí quảng bác, phong cách phi phàm, tinh tường kinh điển đại thừa và tiểu thừa, biện thông các dị học thế gian. Thiên Hậu (Võ Tắc Thiên) sùng tín Phật pháp, hưng duơng chánh giáo. Bà vốn tín phụng đại thừa, mà bộ kinh Hoa Nghiêm chưa được dịch xong. Nghe nước Vu Ðiền có bản chữ Phạn, nên Thiên Hậu sai sứ sang đó, thỉnh cầu chư sa môn phiên dịch. Vì vậy, Ngài mang bộ kinh này sang Trung Thổ. Niên hiệu Chứng Thánh nguyên niên (695), tại chùa Ðại Biến Không ở Ðại Nội, nơi Ðông Bộ, Ngài khởi sự phiên dịch. Thiên Hậu đích thân đến pháp tòa, viết lời tựa. Sa môn Bồ Ðề Lưu Chí (người nam Thiên Trúc), sa môn Nghĩa Tịnh đồng tụng đọc chữ Phạn; sa môn Phục Lễ, Pháp Tạng, v.v... ghi chép. Bộ kinh Hoa Nghiêm được dịch thành tám mươi quyển, đến năm 699 thì hoàn tất. Kế đến, Ngài dịch kinh Ðại Thừa Nhập Lăng Già vào năm 700. Thiên Hậu cũng đích thân viết lời tựa. Tại chùa Thanh Thiền ở kinh sư và chùa Phật Thọ Ký ở Ðông Ðô, Ngài dịch kinh Văn Thù Thọ Ký, v.v... Tổng cộng dịch được mười chín bộ. Sa môn Ba Lôn, Huyền Quỹ, v.v... ghi chép. Sa môn Phục Lễ hiệu đính lời văn. Sa môn Pháp Bảo, Hằng Cảnh, v.v... kiểm chứng nghĩa lý. Thái tử Trung Xá Cổ Ưng Phước giám hộ.
Trú tại Trường An bốn năm, nghe người mẹ vừa qua đời, Ngài bèn dâng sớ xin trở về bổn quốc. Quan ngự sử Hoặc Từ Quang đưa Ngài trở về nước Vu Ðiền. Ðường Trung Tông, niên hiệu Cảnh Long (708), lại ban sắc lịnh cho vời Ngài trở lại kinh đô. Ngài vừa đến kinh đô, nhà vua đích thân ra ngoài cửa Khai Viễn mà nghinh đón, và sai quân mang tràng phan bảo cái để tiếp rước, cùng trang hoàng một thớt voi, thỉnh Ngài vào cung thành, trú nơi chùa Ðại Tiến Phước. Rủi thay, chưa tiếp tục xúc tiến việc phiên dịch kinh điển thì Ngài bị nhiễm bịnh, rồi thị tịch vào ngày mười hai tháng chín, niên hiệu Cảnh Vân nguyên niên (710), thọ năm mươi chín tuổi. Triều đình theo pháp thức nước Vu Ðiền mà làm lễ trà tỳ. Hỏa táng xong, thân thể tan rụi hết, nhưng cái lưỡi vẫn còn nguyên vẹn. Môn đồ dâng sớ, cung thỉnh lưỡi của Ngài trở về nước Vu Ðiền, xây tháp cúng dường. Người sau, xây một ngôi tháp bảy tầng nơi trà tỳ nhục thân của ngài Thật Xoa Nan Ðà. Chư tăng kẻ tục gọi đó là tháp Hoa Nghiêm Tam Tạng.
60. Ngài Ðịa Bà Ha La (Divakara, dịch là Nhật Chiếu).
Ngài là người trung Thiên Trúc. Ngài là bậc thần đồng, mới có tám tuổi mà đã tinh thông ngũ minh. Thọ đại giới xong, Ngài chuyên cần nghiêm trì giới luật thanh cao, bác học uyên thâm, tinh thông chú thuật. Trong đời Ðường Cao Tông (674-683), Ngài đến Trung Thổ. Tháng năm, niên hiệu Nghị Phượng thứ tư (679), triều đình ban sắc cho Ngài phiên dịch những bộ kinh vừa đem qua. Y theo lệ trong đời của ngài Huyền Trang, triều đình cho Ngài cư trú một mình tại một ngôi chùa lớn, rồi cùng năm vị danh tăng phiên dịch kinh điển. Tại hai chùa đông tây Thái Nguyên ở hai kinh đô, Ngài dịch được mười sáu bộ kinh luận như Ðại Thừa Hiển Thức, Ðại Thừa Ngũ Uẩn Luận, v.v... Sa môn Chiến Ðà Bát Nhã Ðề Bà chuyển ngữ. Sa môn Huệ Trí kiểm chứng chữ Phạn. Triều đình cũng ban sắc cho chư sa môn danh đức hỗ trợ cho Ngài trong việc phiên dịch. Thiên Hậu cũng đích thân viết lời tựa. Ngài lại cùng với sa môn Giác Hộ dịch kinh Phật Ðảnh. Văn dịch gọn gàng uyển chuyển, nội dung hàm xúc, ý nghĩa hiển bày.
Sau này, Ngài nhập tịch ngay trong phòng phiên dịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. Thiên Hậu sai quân mang linh cữu của Ngài quàn trên núi Hương Sơn ở Long Môn, Lạc Dương, cùng xây tháp cúng dường.
61. Ngài Ðề Vân Bát Nhã (Devaprajna, dịch là Thiên Trí).
Ngài là người nước Vu Ðiền, tinh thông giáo đại thừa và tiểu thừa, liễu giải tường tận hai pháp chân đế và tục đế, thấu triệt thiền môn và chú thuật. Năm 689, Ngài đến Lạc Duơng. Thiên Hậu ban sắc cho Ngài trú tại chùa Ngụy Quốc Ðông Tự để phiên dịch kinh điển. Từ năm đó đến năm 691, Ngài phiên dịch được sáu bộ và bảy quyển luận Hoa Nghiêm Kinh Pháp Giới Vô Sai Biệt. Sau này, không ai biết Ngài tịch ở đâu.
62. Ngài Thi La Ðạt Ma (Siladharma, dịch là Giới Pháp).
Ngài là người nước Vu Ðiền, thông thạo tiếng phạn và tiếng Tàu. Ngài là vị Ðại Pháp Sư ở Bắc Ðình (Dsimsa). Trong niên hiệu Trinh Quán (627-649), Ngộ Không trên đường từ Thiên Trúc trở về, ghé ngang qua Bắc Ðình, nơi chùa Long Hưng thỉnh pháp, và cầu Ngài làm Giảng Chủ. Ngài dịch kinh Thập Ðịa cùng kinh Hồi Hướng Luân. Sa môn Pháp Nhược đọc và chuyển ngữ. Pháp Siêu nhuận sắc. Sa môn Thiện tín kiểm chứng vă nghĩa. Ngộ Không kiểm chứng bản văn tiếng Phạn.
63. Ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề (Vajrabodhi, dịch là Kim Cang Trí).
Ngài là người nước Ma Lại Da ở nam Thiên Trúc. Vương quốc đó gần núi Bổ Ðà Lạc Tiên (trong đó có cung điện Quán Âm). Người cha vốn thuộc dòng bà la môn, tinh thông luận ngũ minh, làm thầy của vua Kiến Chi.
Ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề vừa chào đời vài năm thì đọc thuộc cả chục ngàn lời trong một ngày. Chuyên tâm thành ý xem kinh tạng suốt mãi không mỏi mệt. Năm mười sáu tuổi, đối với giáo lý Phật đà, Ngài đã khai ngộ, mà không thích các luận Ni Kiền Tử. Chẳng bao lâu, Ngài xuống tóc xuất gia, rồi ngày đêm tinh cần tu tập. Sau này, Ngài theo vị thầy bổn sư đến tu viện Na lan Ðà, học tập kinh luận như Tu Ða La A Tỳ Ðạt Ma, Trung Quán, Duy Thức v.v... Ngài lại tinh thông giới pháp, thấu suốt mười tám bộ luật. Ngài đến tây Thiên Trúc học các kinh luận tiểu thừa cùng môn Du Già Tam Mật Ðà La Ni. Ngài lại sang nam Thiên Trúc y theo ngài Long Trí học về Kim Cang Quán Ðảnh Hệ (thuộc tư tưởng Mật giáo) trong bảy năm. Hơn mười năm sau, Ngài hoàn toàn thông suốt ba tạng kinh điển. Ngài cũng đi lễ bái hết tất cả thánh tích. Kế đến, Ngài tới nước Sư Tử, lên núi Lăng Già, rồi đi qua hơn hai mươi nước ở phía đông. Lúc đến thánh địa của Bồ Tát Quán Thế Âm ở núi Phổ Ðà Lạc tại nam Thiên Trúc, và thấy Bồ Tát hiển hiện oai linh, nên Ngài đột nhiên phát nguyện sang truyền bá Phật pháp tại nước Chi Na. Lại nữa, nghe Phật pháp đang được hưng thịnh ở nước Chi Na, Ngài bèn theo thương thuyền đến phủ Quảng Châu vào năm 719. Ðường Huyền Tông nghe tin, bèn ban sắc lịnh thỉnh Ngài đến trú tại chùa Từ Ân. Tại chùa Tiến Phước, Ngài kiến lập đàn tràng Ðại Mạn Noa La Quán Ðảnh để độ bốn chúng đệ tử. Hai vị thiền sư Ðại Trí và Ðại Huệ, cùng tam tạng Bất Không, đồng lễ Ngài làm thầy.
Sau này, nhà vua thỉnh Ngài đến Lạc Dương. Trong năm đó, từ tháng giêng đến tháng năm, khắp nơi bị nạn hạn hán. Nhà vua đã lập đàn cầu mưa mà không được. Do đó, nhà vua bèn triệu thỉnh Ngài lập đàn tràng cầu mưa, và sai thiền sư Nhất Hạnh hầu cận cẩn mật. Ngài dùng pháp của Bồ Tát Bất Không Câu Y, lập đàn tràng ngay tại chùa. Ngài lại làm tượng Bồ Tát Thất Câu Chi bằng lụa, dài bốn khuỷu tay. Ðến sáng ngày thứ bảy, bầu trời vẫn không một bóng mây, và khí hậu vẫn nóng oi bức. Sau giờ ngọ, đột nhiên gió từ hướng tây bắc thổi đến, rồi mây vần vũ kéo tới, và mưa đổ xuống ào ạt. Hôm đó, có cả hàng chục ngàn người đến nơi đàn tràng. Người người xa gần đều lấy làm kinh ngạc về sự linh ứng thần dị của đàn tràng cầu mưa. Các sĩ thứ đều bảo nhau:
- Ngài Kim Cang Trí đã bắt được rồng.
Bấy giờ, nhà vua thường để tâm nơi lý u huyền chứ chưa trọng nơi pháp không môn. Do nghe lời sàm tấu, nhà vua bèn ra lịnh cho các tăng sĩ ngoại quốc người Phiên tộc phải trở về bổn quốc. Thị giả nghe tin này bèn trở về chùa thuật lại cho Ngài nghe. Ngài bảo:
- Ta là Phạn tăng chứ không phải Phiên Tăng. Sắc lịnh không rõ ràng, nên Ta không đi!
Qua vài ngày sau, tại Nhạn Môn, Ngài đột nhiên dâng sớ từ biệt nhà vua. Nhà vua kinh hoàng, lập tức ban chiếu chỉ giữ Ngài ở lại.
Cô công chúa thứ hai mươi lăm là Thậm Chung, rất được nhà vua thương mến, nhưng lại bị bịnh đã lâu mà không ai có thể cứu chữa được, nên suốt ngày nằm tại ngoại quán Hàm Nghi. Cô ta luôn nhắm mắt, và không nói lời nào suốt cả mấy tuần. Trước đó, cô ta cầu thỉnh Ngài đến ban giới pháp. Ngài biết rõ cô ta chắc phải chết. Song, nhà vua cứ nằng nặc cầu thỉnh Ngài cứu sống cô ta. Ngài bèn chọn ra hai tỳ nữ bảy tuổi, rồi lấy lụa bịt mắt lại, và cho nằm xuống đất. Kế đến, Ngài bảo Ngưu Tiên Ðồng vẽ một tấm bùa, rồi đốt ngay nơi chỗ công chúa Thậm Chung đang nằm. Thứ đến, Ngài đọc tụng thần chú. Bấy giờ hai tỳ nữ đọc theo Ngài mà không sai một chữ. Ngài bèn nhập vào tam ma địa (tam muội chánh định), và dùng thần lực bất tư nghị mà sai khiến hai tỳ nữ đem sắc chỉ đến gặp vua Diệm Ma. Trong khoảng khắc công chúa Thậm Chung tỉnh dậy, và mở mắt cùng nói chuyện như bình thường. Nhà vua nghe tin bèn lập tức một mình cỡi ngựa đến ngoại quán. Công chúa Thậm Chung bẩm tấu:
- Nghiệp lực khó chuyển. Hôm nay vua Diệm Ma sai con trở về để gặp mặt lại tôn nhan của thánh thượng mà thôi.
Nói xong, đến khoảng giữa trưa, bèn qua đời. Từ đó, nhà vua mới bắt đầu quy ngưỡng Tam Bảo.
Trong lục cung, nhà vua rất ân sủng yêu mến Võ Quý Phi như châu ngọc. Ngài khuyên bà Võ Quý Phi rằng hãy mau tạo tượng Bồ Tát Kim Cang Thọ Mạng. Ngài lại khuyên quận vưong ở Hà Ðông phải kết tượng Phật bằng lụa rồi đặt bên trong tháp Phật Tỳ Lô Giá Na. Ngài bảo môn đồ:
- Thọ mạng của hai người này chẳng được lâu.
Vài tháng sau, quả nhiên đúng như lời Ngài dự đoán. Ngài thường nói những lời tiên tri như thế rất nhiều, và đều linh ứng.
Ngài thông suốt lý sự, tinh tường kinh luận giới luật, thần chú. Ai có hỏi điều gì, Ngài bèn giải thích rõ ràng. Gặp mặt qua người nào thì Ngài nhớ mãi không quên. Những cảnh thuận nghịch, vui buồn giận thương đều không làm xao xuyến tâm Ngài, khiến ai ai cũng tôn sùng kính phục. Ngài thường y theo pháp thức mà lập đạo tràng mạn noa la (hay mạn đà la), và đều có cảm ứng.
Sa môn Nhất Hạnh khâm phụng sự giáo huấn của Ngài, nên được pháp quán đảnh.
Vì lợi sanh lợi vật, và thể theo sắc lịnh của nhà vua vào năm 723, tại chùa Tư Thánh, Ngài dịch được hai quyển Kim Cang Ðảnh Du Già Trung Lược Niệm Tụng Pháp (thuộc hệ Kim Cang của Mật giáo), và hai quyển Thất Cu Chi Ðà La Ni. Tại chùa Ðại Tiến Phước vào năm 730, Ngài dịch một quyển Mạn Thù Thất Lợi Ngũ Tự Tâm Ðà La Ni Quán Tự Tại Du Già Pháp Yếu Lược. Sa môn Trí Tạng chuyển ngữ. Sa môn Nhất Hạnh sao chép trau chuốt thành văn. Thấy trong quyển này có nhiều chỗ thiếu sót, nên Ngài bổ túc thêm vào cho đủ. Những ấn khế tổng trì do Ngài phiên dịch đều có linh nghiệm. Nhờ Ngài mà mật chú được lưu truyền khắp nơi, khiến rất nhiều người được cứu độ.
Vào tháng tám năm 732, tại chùa Quảng Phước ở Lạc Dương, Ngài bảo đồ chúng:
- Khi trăng tròn là lúc Ta sẽ viên tịch.
Nói xong, Ngài bèn đến lễ bái tượng Phật Tỳ Lô Giá Na, đi nhiễu ba vòng. Trở về bổn viện, Ngài dâng hương phát nguyện, kính cẩn phó chúc cho đệ tử những giáo pháp vừa mới được phiên dịch, rồi an nhiên mà hóa, thọ bảy mươi mốt tuổi, được năm mươi mốt hạ lạp. Mồng bảy tháng mười một năm đó, đồ chúng an táng nhục thân của Ngài tại Long Môn ở Nam Y, và lập tháp thờ phụng. Ngài được nhà vua ban hiệu là quốc sư Sắc Thụy. Ðệ tử thọ pháp là Bất Không.
64. Tam tạng pháp sư A Mục Khư Bạt Chiết La (Amonghavajra, dịch là Bất Không Kim Cang).
Ngài vốn thuộc dòng bà la môn ở bắc Thiên Trúc. Thuở nhỏ, Ngài theo người chú sang nước Quang Ðông. Năm mười lăm tuổi, Ngài theo học đạo với ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề (Kim Cang Trí). Mới đầu, Ngài học Tất Ðàm Chương và luận Thanh Minh bằng tiếng Phạn. Chỉ trong vài tuần là Ngài triệt thông, khiến ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề lấy làm kinh ngạc. Sau này, Ngài thọ giới Bồ Tát, rồi được dẫn nhập vào Kim Cang Giới Ðại Mạn Trà La, đạt nhiều điềm linh ứng, nên ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề biết ngài Bất Không sau này sẽ làm hưng thịnh giáo pháp.
Sau khi thọ giới cụ túc, Ngài tinh thông thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, và biết rành nhiều ngôn ngữ. Ngài thường cùng phiên dịch kinh điển với thầy bổn sư. Trong ba năm liền, ngài Bất Không thỉnh cầu học Tân Du Già Ngũ Bộ Tam Mật Pháp, nhưng ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề vẫn chưa chấp thuận. Do đó, ngài Bất Không định trở về Thiên Trúc. Ðêm nọ, ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề mộng thấy các tượng Phật và tượng Bồ Tát ở trong các chùa chiền tại kinh thành đều bay về hướng đông. Tỉnh dậy, ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề biết ngài Bất Không chân chánh là bậc pháp khí, bèn chấp thuận lời thỉnh cầu khi xưa, rồi truyền cho năm bộ pháp Quán Ðảnh Hộ Ma A Xà Lê cùng kinh Tỳ Lô Giá Na, và quy tắc Tô Tất Ðịa. Sau này, ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề sang Lạc Dương, nên ngài Bất Không cũng đi theo làm thị giả. Lúc ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề nhập tịch vào niên hiệu Khai Nguyên thứ hai mươi (732), ngài Bất Không bèn lập Ảnh Ðường để truy niệm. Kế đến, ngài Bất Không phụng sắc triều đình sang Ngũ Thiên (Ðông Thiên Trúc, Tây Thiên Trúc, Nam Thiên Trúc, Bắc Thiên Trúc, Trung Thiên Trúc), và nước Sư Tử. Lúc Ngài đến quận Nam Hải, thứ sử Lưu Cự Lân khẩn thỉnh truyền pháp quán đảnh. Tại chùa Pháp Tánh, Ngài độ trăm ngàn vạn dân chúng. Do lòng chí thành của Ngài, nên cảm đến Bồ Tát Văn Thù hiện thân.
Tháng chạp niên hiệu Khai Nguyên thứ hai mươi chín (741), từ Côn Lôn, Ngài lên thuyền rời Nam Hải. Thuyền đến địa phận nước Ha Lăng thì gặp một trận cuồng phong. Các thương nhân đều sợ hãi, nên y theo phong tục của địa phương mà cầu khẩn, nhưng không hiệu quả. Do đó, họ quỳ lạy khất cầu cứu hộ. Ngài bảo:
- Nay Ta có pháp. Các ngươi chớ lo sầu.
Nói xong, tay phải Ngài cầm chày Ngũ Thai Bồ Ðề Tâm, và tay trái cầm kinh Bát Nhã Phật Mẫu, rồi tác pháp tụng kinh một biến. Tức thì gió ngưng biển lặng. Hồi sau, một con cá voi xuất hiện, đầu to như núi. Các thương nhân đều ủy thác cho nghiệp lực. Ngài cũng tác pháp và tụng kinh như lúc trước, cùng bảo chư đệ tử tụng kinh Bà Kiệt Long Vương. Lát sau, tất cả hoạn nạn đều được tiêu trừ. Sau này, thuyền đến nước Sư Tử. Quốc vương bèn sai sứ ra nghinh đón, cùng cho vệ sĩ đi hầu hai bên đường. Vừa thấy Ngài, quốc vương bèn dập đầu đảnh lễ, rồi thỉnh vào hoàng cung, cúng dường trong bảy ngày. Mỗi ngày, quốc vương đổ nước trầm hương đầy vào một cái hộc bằng vàng kim, rồi đích thân tắm gội cho Ngài. Hoàng hậu, thái tử, cung phi, đại thần, quan lại đều cung kính lễ bái Ngài như quốc vương của họ.
Vừa thấy Phổ Hiền A Xà Lê, ngài Bất Không bèn cúng dường vải lụa bằng kim tuyến, và cung thỉnh khai mở kiến lập mười tám pháp đàn Kim Cang Quán Ðảnh Du Già pháp môn cùng Tỳ Lô Giá Na Ðại Bi Thai Tạng. Ngài Bất Không cũng cầu học thêm với ngài Vô Thường về giáo pháp mật tạng, cùng hơn năm trăm bộ kinh luận, Bổn Tam Muội, chư tôn mật ấn, nghi hình sắc tượng đàn pháp, cờ xí, văn nghĩa tánh tướng, v.v...
Ngày nọ, quốc vương mở hội điều phục voi. Dân chúng xem coi đầy chật cả cung thành. Ngài đứng giữa ngã tư đường, miệng tụng thần chú, tay bắt ấn, tâm nhập từ định. Các con voi điên cuồng đang chạy, chợt bị té lăn.
Thứ đến, Ngài du hóa sang Ngũ Thiên. Năm 746, Ngài bèn quay trở về kinh đô Ðông Ðộ. Vào triều, Ngài dâng những phẩm vật của quốc vương Thi La Mê Già Biểu của nước Sư Tử gởi đến như vàng bạc, lưu ly, châu báu, kinh Bát Nhã, v.v... Kế đến, Ngài phụng sắc, vào triều nội làm lễ quán đảnh cho nhà vua. Sau này, Ngài dời sang chùa Tịnh Ảnh. Bấy giờ suốt mùa hạ trời nắng chang chang. Nhà vua bèn ra lịnh cho Ngài cầu mưa:
- Nếu cầu không được thì đừng gặp mặt Trẫm.
Ngài bèn phụng theo chiếu chỉ mà lập đàn Khổng Tước Vương. Chưa đến ba ngày thì mưa đổ xuống khắp nơi, khiến nhà vua rất vui mừng, tự tay đem một rương châu báu và y ca sa màu vàng tím, cùng hai trăm xấp lụa mà đem dâng cúng cho Ngài.
Lần nọ, một ngọn cuồng phong chợt thổi đến. Nhà vua lại triệu thỉnh Ngài làm cho cơn gió đó ngừng. Ngài lấy một bình bằng bạc và một quả táo để tác pháp gia trì. Trong phút chốc gió liền ngưng. Ðột nhiên, một con ngỗng chạy tới, làm đổ bình nước bằng bạc, khiến gió lại càng thổi mạnh bạo hơn lúc trước. Ngài lại gia trì thần chú, khiến gió lại ngừng. Nhà vua thấy vậy, bèn gia tặng Ngài danh hiệu:" Trí Tạng."
Ngài định trở về bổn quốc, nên cỡi ngựa đến quận Nam Hải vào năm 749. Nơi đó, vì nhận được chiếu chỉ, nên Ngài đành ở lại, rồi phải đến Hà Lũng. Vào năm 753, do tiết độ sú Ca Thư Hàn cầu thỉnh, Ngài đến trú tại chùa Khai Nguyên ở Võ Trụ. Tiết độ sứ Bạc Tân Tùng cầu thọ pháp quán đảnh. Sĩ thứ cả ngàn người đều đăng đàn tràng thọ pháp. Ðệ tử Hàm Quang, v.v... cũng thọ năm bộ pháp quán đảnh. Khai phủ Lý Hoàn Tống thọ pháp Kim Cang Giới Ðại Mạn Trà La. Hôm ấy, nơi vùng đất lập đạo tràng chợt có động đất. Ngài bảo:
- Ðây là do sụ thành tâm của tín chúng.
Sau này, Ngài trở về kinh đô, trú tại chùa Ðại Hưng Thiện. Kế đến, vào năm 756, vua loan giá tại Linh Võ Phượng Tường, Ngài cũng đi theo mật trì thần chú. Ðường Túc Tông cũng mật sai sứ giả đến cầu pháp bí mật. Vào niên hiệu Càn Nguyên (758-759), nhà vua thỉnh Ngài vào cung điện, kiến lập đạo tràng Hộ Ma Pháp. Ngài truyền pháp Chuyển Luân Vương Vị Thất Bảo Quán Ðảnh cho nhà vua. Năm 760, nhà vua bị bịnh. Ngài bèn gia trì chân ngôn bạt trừ bảy nạn. Vài ngày sau, bịnh tình lành hẳn, khiến cho nhà vua lại càng khâm phục, tôn sùng. Sau này Ngài dâng biểu xin vào núi ẩn tu. Nhà vua ban sắc cho Ngài vào núi Chung Nam Sơn, trú tại chùa Trí Cự. Nơi đó, ngày đêm Ngài tu tạo công đức, tụng niệm thù chú, nên cảm động Bồ Tát Ðại Lạc hiện thân phóng quang ấn chứng. Ngài tự bảo:
- Chúng sanh chưa được độ xong, mà Ta đã tự an độ rồi.
Ðường Túc Tông nhường ngôi cho Ðường Ðại Tông. Lên ngôi xong, Ðường Ðại Tông lại càng sùng kính Ngài thâm trọng. Ngài vừa phiên dịch xong hai bộ kinh Mật Nghiêm và Nhân Vương, nhà vua bèn viết lời tựa. Ngày phát hành hai bộ kinh này, mây lành hiển hiện, khiến cả triều đình đều chúc mừng Ngài.
Niên hiệu Ðại Lịch thứ ba (768), nơi chùa Ðại Hưng Thiện, Ngài lập đàn tràng tác pháp. Nhà vua cũng dâng rất nhiều lễ vật như tràng phan bảo cái, và cúng dường trai tăng trong hai mươi bảy ngày, cùng ra chiếu chỉ cấm các quan triều dụng quân binh, rồi nhập đàn thọ quán đảnh.
Vào mùa hạ niên hiệu Ðại Lịch thứ năm (770), nhà vua ban chiếu chỉ thỉnh Ngài đến núi Ngũ Ðài làm Phật sự. Ðương thời có sao chổi xuất hiện. Pháp sự vừa xong thì sao chổi cũng biến mất. Mùa thu, từ Ngũ Ðài, Ngài trở về kinh đô. Nhà vua cỡi ngựa trắng đích thân ra cổng thành nghinh đón.
Sau này, Ngài dâng sớ xin dịch kinh điển. Mười vị đại đức danh tăng cũng đén hỗ trợ. Ðến niên hiệu Ðại Lịch thứ sáu (771), tổng cộng Ngài phiên dịch được một trăm hai mươi quyển và bảy mươi bộ kinh. Nhà vua lại ban tặng lễ vật.
Ðương thời, tại kinh đô, suốt hai mùa xuân hạ đều bị nạn hạn hán. Ðường Ðại Tông bèn viết chiếu chỉ gởi cho Ngài, bảo:
- Nếu nội trong ba ngày trời đổ mưa, thì đó chính là pháp lực thần dị của Hòa Thượng cảm nên. Nếu sau ba ngày mà không có mưa, thì Hòa Thượng chẳng có pháp lực gì hết.
Phụng mạng chiếu chỉ, Ngài lập đàn cầu mưa. Ðến ngày thứ hai thì trời đã đổ mưa xuống ào ào. Nhà vua bèn cúng dường y ca sa tử kim, và ban cho chư đệ tử y ca sa thất phó (y bảy điều), cùng thiết lễ cúng dường trai tăng cho một ngàn vị sa môn, để đáp đền công lao của Ngài. Ngài thỉnh cầu nhà vua xây lầu các thờ Bồ Tát Văn Thù. Nhà vua liền chấp thuận, và xuất tiền trong công khố triều đình mà xây. Ngài lại dịch kinh Nghiệt Lộ Trà Vương.
Niên hiệu Ðại Lịch thứ chín (774), từ mùa xuân đến mùa hạ, Ngài tuyên dương diệu pháp, răn nhắc môn đồ. Ngài thường giảng giải kinh Phổ Hiền Nguyện Hạnh Xuất Sanh Vô Biên Pháp Môn, và cũng khuyên đồ chúng nên tụng trì quyển kinh đó.
Ðêm nọ, Ngài bảo đệ tử là Triệu Tuyển đem bút mực đến, rồi nói:
- Nay Ta lược viết về nghi thức niết bàn trà tỳ để làm khuôn phép cho đời sau.
Viết xong, Ngài đưa cho Triệu Tuyển để y theo đó mà chuẩn bị tống táng lúc lâm chung. Triệu Tuyển bèn cúi đầu khẩn thỉnh ba lần:
- Xin Thầy hãy từ bi mà trụ lại thế gian lâu dài. Ngược lại, chúng sanh biết y theo ai mà nương nhờ!
Ngài chỉ mỉm cười mà thôi. Chẳng bao lâu, Ngài nhiễm bịnh, rồi dâng sớ xin từ biệt. Nhà vua liền sai sứ đem thuốc thang đến, và lại ban cho chức Tề Quốc Công, cùng ba ngàn thực ấp. Ngài không nhận, và chẳng vui lòng, bảo:
- Chư thánh chúng xả thân như duỗi cánh tay. Khi trăng tròn Ta sẽ viên tịch. Lúc lâm chung sao còn nghĩ chuyện lợi danh!
Rằm tháng sáu, Ngài lấy nước hương tắm gội, rồi nằm xuống giường, đặt đầu về hướng đông, mặt hướng về phía bắc, nhập định đại thủ ấn mà viên tịch, thọ bảy mươi tuổi, được năm mươi tăng lạp. Ðệ tử nối pháp là Huệ Lãng. Nhà vua bèn bãi triều trong ba ngày, xuất tiền bố thí, và dựng tháp thờ phụng. Trước khi Ngài nhập diệt, chư tăng thường mộng thấy lâu các Bồ Tát Văn Thù bị sụp đổ; chùy Kim Cang bay lên hư không. Hồ nước đằng sau chùa Ðại Hưng Thiện chợt khô cạn. Hoa trong vườn Trúc Lâm Bảo Ðình đều khô héo.
Mồng sáu tháng bảy làm lễ trà tỳ. Nhà vua ban tặng pháp hiệu là Ðại Biện Quảng Chánh Tri Tam Tạng. Trà tỳ xong, thâu lấy cả trăm hột xá lợi. Trong tám mươi hột, đảnh cốt vẫn còn nguyên. Trong đó có một hạt màu sắc nửa ẩn nửa hiện. Nhà vua ban sắc lập tháp thờ xá lợi tại bổn viện.
Suốt một đời hoằng pháp, Ngài Bất Không luôn vì việc lợi sanh ích vật. Pháp môn tổng trì của Ngài triệt chiếu thù thắng, không ai có thể đo lường sự sâu cạn.
Xưa kia, Ðường Huyền Tông rất tôn kính Ngài. Năm nọ, trời hạn hán, nhà vua triệu Ngài đến để cầu mưa. Ngài bảo rằng qua ngày khác thì mới có thể cầu mưa được. Nếu cứ cưỡng mà cầu thì mưa sẽ gây bao điều rắc rối. Nhà vua lại ban sắc thỉnh vị thầy bổn sư của Ngài (tức là ngài Bạt Nhật La Bồ Ðề) thiết đàn tràng cầu mưa. Quả nhiên mưa gió không ngừng. Phố phường đều bị nạn lụt lội, cây cối ngã rất nhiều. Nhà vua lại triệu thỉnh Ngài khiến trời dừng mưa. Ngài bèn đọc thần chú bằng tiếng Phạn. Trong khoảnh khắc trời dừng mưa.
Tại núi Bắc Mang có một con rắn thần. Mỗi tối thường thổi sương mù. Lần nọ, Ngài đi ngang qua đó. Thấy Ngài đến, rắn thần bèn hiện thân, thưa:
- Ðệ tử đang thọ quả báo ác. Không biết Hòa Thượng có thể độ được chăng? Con thường muốn khiến nước sông tràn ngập thành Lạc Dương cho hả dạ!
Ngài bèn thuyết tam quy y năm giới cấm và lý nhân quả cho rắn thần, bảo:
- Vì tâm sân hận mà ngươi phải thọ quả báo như vầy. Nay lại khởi tâm phẩn hận nữa thì Ta không có pháp lực nào để cứu độ. Nếu y theo lời dạy bảo của Ta thì ngươi sẽ xả bỏ được thân rắn.
Sau này, dân làng xung quanh, thấy xác một con thuồng luồng to lớn, mùi hôi thúi xông lên cả mấy dặm.
Lần nọ, trong niên hiệu Thiên Bảo, tướng Tây Phiên là Ðại Thạch Khang hưng binh vây phủ Tây Lương. Vua triệu Ngài vào để cầu cứu. Ngài bèn lập đàn, dâng hương, tụng hai mươi bảy biến Nhân Vương Mật Chú. Nhà vua thấy binh thần khoảng năm trăm vị ở trong cung điện, nên kinh hoàng hỏi han. Ngài đáp:
- Tỳ Sa Môn Thiên Vương lãnh binh thần cứu An Tây. Xin Hoàng Thượng hãy mau thiết lễ cúng dường thức ăn.
Ngày hôm sau, cách thành ba mươi dặm về phía đông bắc, trong sương mù thấy binh thần oai nghi cao lớn, mang thương kích, làm núi động đất chuyển. Phiên binh thấy thế kinh hoàng hoảng sợ. Trong doanh trại của Phiên binh có rất nhiều con chuột màu vàng. Các dây cung nỏ đều bị chúng cắn đứt. Trên lâu các của cổng thành phía bắc, Quang Minh Thiên Vương hiện thân, giương mắt phẫn nộ, khiến Phiên binh đều hoảng sợ bỏ chạy. Tan giặc, nhà vua ban sắc cảm tạ Ngài. Từ đó, nhà vua bèn ra lịnh cho vẽ tượng thiên vương đặt trên lâu các cổng thành ở bốn phía.
Trải qua ba đời vua, Ngài luôn được họ tôn sùng kình trọng nhờ những công lao thù thắng.
65. Tam tạng pháp sư Thú Bà Yết La Tăng Ha (Subhakarasimha, dịch là Thiện Vô Úy).
Ngài vốn là người trung Ấn Ðộ, và là hậu duệ của vua Cam Lộ Phạn Vương, (tức phụ thân của Phật Thích Ca). Pháp danh tiếng Phạn của Ngài là Thú Bà Yết La Tăng Ha; Tàu gọi là Tịnh Sư Tử, và dịch là Thiện Vô Úy. Ngài còn có tên là Du Bà Ca La, dịch là Vô Úy. Người cha vốn là vua nước Trung Thiên Trúc. Võ nghệ đức độ kiêm toàn. Năm mười tuổi Ngài đã thống lĩnh ba quân. Năm mười ba tuổi lên ngôi vua, được quần thần và dân chúng ái mộ. Vì anh em của Ngài ganh ghét, nên khởi binh làm loạn. Sau khi dẹp loạn xong, Ngài bèn nhường ngôi cho người anh để xuất gia tu đạo. Lúc đến biển Nam Hải, Ngài gặp sa môn Thù Thắng Chiêu Ðề, dạy đạo tu hành đắc được tam muội, rồi lấy cát đắp thành tháp có cả vạn cái.
Ngài lại theo thương thuyền chu du các nước. Ngài mật tu thiền định. Miệng thường tụng kinh phóng ánh hào quang bạch sáng. Trong ba ngày, tuy không có gió, nhưng thuyền chạy cả hàng chục ngàn dặm. Ngày nọ, thương thuyền chợt gặp cướp biển. Ngài bèn thầm niệm tụng chân ngôn. Bồ Tát Thất Cu Chi hiện toàn thân tướng, khiến bọn cướp đều bỏ cung giáo mà quy y.
Thiên tánh của Ngài thông minh đảnh ngộ, tài trí siêu quần, thâm giải đạo lý năm thừa giáo cùng tam học; liễu đạt pháp tổng trì và thiền tận đến cội nguồn; tinh tường các nghệ thuật diệu xảo.
Ðầu tiên, Ngài đến tu viện Na Lan Ðà (gọi là Thí Vô Yểm). Tu viện này là hội phủ của chư thánh tăng đời tượng pháp. Trong chùa có trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða, thường mật tu thiền định, thọ mật ấn của đức Như Lai, vốn là đệ tử của Bồ Tát Long Thọ. Diện mạo của trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða trông bề ngoài chỉ như bốn mươi tuổi, nhưng thật tình là tám trăm tuổi. Tam tạng pháp sư Huyền Trang đã có lần gặp qua.
Ngài Thiện Vô Úy bèn dập đầu đảnh lễ, tôn làm thầy bổn sư. Sau này, trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða truyền cho ngài Thiện Vô Úy pháp Tổng Trì Du Già Tam Mật Giáo. Ðương thời, chư long thần bay vần vũ đông đầy trước mắt. Trong khoảnh khắc ngài Thiện Vô Úy đều khế hội thọ hết các mật ấn. Hôm đó, Ngài được thọ phép quán đảnh, và trở thành thầy của trời người, tức được xưng là bậc Tam Tạng Pháp Sư. Nghĩa của Tam Tạng là bên trong chứng nhập giới định huệ; bên ngoài thông suốt ba tạng kinh luật luận, và dùng đà la ni để tổng nhiếp tất cả. Ðà La Ni là bánh xe Bồ Ðề Tốc Tật, và là biển giải thoát kiết tường. Ba đời chư Phật xuất sanh nơi pháp môn này, và hằng tương truyền ngọn đuốc huệ sáng soi. Vì căn tánh của chúng sanh khác nhau, nên ngọn đuốc huệ cũng nhiều vô lượng. Do đó đức Phật mới có trăm ức vi trần số tam muội. Chư Bồ Tát tổng nhiếp nơi các tam muội, mà lập tức thăng lên phẩm vị, nhập vào nơi biển đại giác.
Ðương thời, ngài Thiện Vô Úy đi chiêm ngưỡng lễ bái các thánh tích, mà không màng gian nan nguy hiểm. Tại mỗi nơi thánh tích Ngài đều đến chiêm bái ba lần. Ngài lại vào núi Kê Túc, cạo tóc cho tôn giả Ma Ha Ca Diếp, cùng thọ pháp quán đảnh của Bồ Tát Quán Âm. Ngài thường an cư kiết hạ trên núi Linh Thứu. Mãnh hổ thường đến cầu đạo nơi Ngài. Ngài lại vào sâu trong hang núi, thấy bóng tượng Phật Thích Ca cùng hai vị thị giả, thật như còn sống.
Bấy giờ nước Trung Thiên Trúc bị nạn hạn hán, nên quốc vương thỉnh Ngài cầu mưa. Lúc Ngài lập đàn tràng, đại chúng đều thấy Bồ Tát Quán Âm hiện trong vòm trời sáng, tay cầm bình quân trì mà đổ nước xuống, khiến mưa to ào ạt. Ðại chúng thấy vậy, đều vui mừng, được việc chưa từng có.
Tại Ngũ Thiên, sau khi Phật diệt độ, bọn ngoại đạo đua nhau nổi lên. Chín mươi sáu tà kiến nối nhau tương truyền. Ngài đều tùy theo kiến chấp của họ mà dẹp phá nghi lầm, khiến họ mở tâm tà, xả bến mê, mà theo đường giác ngộ. Mây pháp đại thừa tiểu thừa thấm nhuần. Nước định tam muội vuông tròn làm pháp khí. Ðánh ngã dị học, dựng cờ chánh pháp. Kiến lập đạo tràng tâm vương thù thắng, khiến tâm cuồng loạn của họ ngừng, và tự thân lễ Phật.
Lần nọ, Trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða bảo ngài Thiện Vô Úy:
- Này Thiện Nam Tử! Ngươi có duyên lành với nước Chấn Ðán. Hãy sang bên đó mà giáo hóa chúng sanh.
Nghe lời chỉ dạy của tôn sư, ngài Thiện Vô Úy từ biệt lên đường. Ngày nọ, gặp một con sông ở nước Ca Thấp Di La, mà không có cầu, Ngài lướt trên mặt nước để qua sông. Lần khác, một vị trưởng giả thỉnh Ngài đến nhà thọ trai. Ðồng thời, vị trưởng giả đó cũng thỉnh một vị A La Hán đến thọ trai chung với Ngài. Vừa gặp mặt Ngài, vị A La Hán nói:
- Con là người tu theo tiểu thừa giáo, còn Ðại Ðức đã đăng quả vị Bồ Tát.
Thế nên, vị A La Hán kia nhường tòa ngồi chính cho Ngài. Dùng trai xong, vị A La Hán kia bèn bay lên hư không mà biến mất.
Lúc đến nước Ô Trường, Ngài thường giảng pháp Tỳ Lô trong cung Ðột Quyết; an thân thiền định dưới các gốc cây. Trên đường, Ngài gặp bọn cướp. Bị chúng chém ba nhát đao mà chẳng hề hấn chi. Ðao chặt vào thân Ngài như chạm vào đồng sắt. Trước kia, thấy núi Tuyết Sơn cao chót vót, Ngài không muốn vượt qua. Trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða từ hư không bay đến, bảo:
- Bồ Tát thân đồng với thế gian, mà không xả sanh tử. Ngươi đi đã lâu, vậy thân có bịnh chăng?
Nói xong, trưởng lão Ðạt Ma Cúc Ða bèn bay lên trời mà biến mất. Vì vậy, Ngài tiến bước, mà không còn chút do dự. Trên đường, Ngài đi qua nước Thổ Phiên (Tây Tạng), và cùng thương nhân đồng hành. Ngài lại gặp bọn cướp ra chặn đường, nên bí mật bắt ấn, khiến chúng phải cúi đầu sám hối tạ tội. Ðêm hôm vùa tới biên giới nước Trung Thổ, thần nhân hiện hình, thưa:
- Ðây là biên giới phía đông, chẳng nằm trong phạm vi cai quản của đệ tử, mà chính là đất Ðông Ðộ do Bồ Tát Văn Thù bảo hộ.
Nói xong, thần nhân bèn đảnh lễ, rồi biến mất. Ðó chính là thần Ca Tỳ La, đã từng theo hộ vệ Ngài.
Ngài dùng lạc đà mang kinh đến Tây Châu. Vừa tới một bờ sông thì long thần bèn kéo chân của lạc đà xuống nước. Ngài cũng vào long cung ba ngày liền, mà thuyết pháp giáo hóa, khai ngộ cho loài thủy tộc. Sau đó, Ngài lại dẫn lạc đà trở lên bờ sông, mà kinh điển không bị ướt chút nào.
Xưa kia, Ngài đang đi du hóa tại Bắc Thiên Trúc, mà danh đức đã vang truyền đến Trung Thổ. Niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên (713) Ðường Huyền Tông mộng thấy đàm đạo với một vị chân tăng, tướng hảo vô cùng oai nghiêm.
Niên hiệu Khai Nguyên thứ tư (716), năm tám mươi tuổi, Ngài mang kinh điển tiếng Phạn đến Trường An. Thật là phù hợp với giấc mộng lành, nên nhà vua rất vui mừng mà trang nghiêm đạo tràng cho Ngài cư trú, và tôn xưng Ngài làm thầy. Chư vương hầu cũng đồng cúi đầu đảnh lễ. Nhà vua ban sắc cho Ngài an trú tại nam viện ở chùa Ðại Hưng Thiện, rồi thỉnh Ngài qua chùa Tây Minh. Nhà vua tự thân đến vấn an, cực kỳ thi lễ kính trọng. Tại Thiên Cung, nhà vua thỉnh Ngài lên ngồi trên tòa cao, rồi đảnh lễ xưng tôn làm quốc sư. Ngài bèn dạy nhà vua về thừa giáo Như Lai. Từ đó, pháp môn uy nghi cực kỳ hưng thạnh.
Bấy giờ có một thuật sĩ, năng sai khiến quỷ thần, làm bao việc biến hóa. Ông ta muốn vào hoàng cung để so tài pháp thuật. Ngài vẫn ngồi nghiễm nhiên bất động, mà tay chân của thuật sĩ kia không thể cử động nổi, nên đành phải rút lui.
Sang năm, phụng theo chiếu chỉ, Ngài bắt đầu phiên dịch kinh điển tại viện Bồ Ðề, và dâng sớ cung thỉnh chư danh tăng cùng duyệt bản dịch tiếng Tàu. Khởi đầu, Ngài dịch một quyển Hư Không Tạng Cầu Văn Trì Pháp. Sa môn Tất Ðạt chuyển ngữ. Vô Trước ghi chép, rồi đem vào cung nội. Nhà vua xem qua rất là vui mừng và tán thán Ngài.
Xưa kia, sa môn Vô Hành sang Tây Vức và Thiên Trúc học ngôn ngữ những nơi đó, cùng phiên dịch kinh điển, rồi trở về. Chẳng may, Vô Hành thị tịch tại bắc Thiên Trúc. Những bản dịch của Vô Hành được mang về, đặt tại chùa Hoa Nghiêm. Ngài Thiện Vô Úy cùng thiền sư Nhất Hạnh tuyển chọn được vài quyển thuộc pháp môn tổng trì, mà chưa được phiên dịch.
Khai Nguyên thứ mười hai (724), Ngài phụng chiếu đến trú tại chùa Phước Tiên ở Lạc Dương, rồi phiên dịch quyển kinh Tỳ Lô Giá Na. Bộ kinh này, có một trăm ngàn bài tụng. Ngài lại dịch ra bảy quyển kinh Ðại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Thông Biến Gia Trì (hay kinh Ðại Nhật, thuộc hệ Thai Tạng Giới của Mật giáo). Sa môn Bảo Nguyệt chuyển ngữ. Thiền sư Nhất Hạnh ghi chép và hiệu đính. Văn dịch tương xứng, vi diệu thâm thúy; trên phù hợp với ý của Phật, dưới khế hợp với căn duyên của chúng sanh, khiến lợi ích phổ cập khắp nơi. Ngài lại dịch ra ba quyển kinh Tô Bà Hô Ðồng Tử, và ba quyển kinh Tô Tất Ðịa Yết La. Hai quyển kinh này đầy đủ các thần chú chân ngôn Tỳ Nại Da, tức Mật Chú Cấm Giới. Người chưa nhập vào Mạn Trà La, thì không thể tụng trì, cũng giống như người chưa thọ giới cụ túc thì không thể nghe chư tăng tụng giới. Quyển kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Năng Mãn Chư Nguyện Tối Thắng Tâm Ðà La Ni Cầu Văn Trì Pháp là một phần nhỏ trong quyển Kim Cang Ðảnh Thành Tựu Nhất Thiết Nghĩa Ðồ.
Tánh tình Ngài thích nơi vắng lặng tịch tĩnh. Bấy giờ Ngài khai mở pháp thiền quán, khuyến khích kẻ sơ học. Ðương thời, thiền sư Nhất Hạnh là vị hiền triết, thâm nhập định huệ, thấu suốt diệu lý âm dương, và được vua quan quy ngưỡng tôn kính. Song, vì vẫn còn có những chỗ nghi ngờ, nên Nhất Hạnh cũng thường đến cầu ngài Thiện Vô Úy khai thị. Tại bổn viện, Ngài thường đúc những ngôi tháp bằng đồng, tinh xảo hơn trời người, để làm khuôn mẫu cho hậu thế. Ðại chúng trong chùa cũng bắt chước Ngài mà đúc tháp. Lần nọ, một ngọn gió lớn thổi đến, khiến lửa phụt cháy lan. Ngài bảo đại chúng rằng chớ có lo sợ. Quả nhiên trong giây lát, tuyết rơi xuống, khiến lửa tắt, và ngay trong ngôi tháp chợt xuất ra một đóa hoa. Ðại chúng đều vui mừng tán thán.
Lần khác, trời hạn hán, nhà vua sai sứ đến thỉnh Ngài cầu mưa. Ngài bảo:
- Nay bị hạn hán là điều đuơng nhiên. Nếu cứ cưỡng ép mà cầu rồng phun mưa thì sẽ bị bão lụt, tự chiêu tổn hoại.
Nhà vua cứ một mực khẩn cầu, nói:
- Dân chúng bịnh khổ vì hạn hán. Có phong lôi (sét đánh), cũng là đủ thích ý rồi.
Ngài từ chối mãi cũng không được, nên bắt buộc phải lập đàn cầu mưa. Lúc quan quân đem tràng phan, tù và ra, Ngài bảo rằng không đủ để cầu mưa. Ngài bèn lấy một bát nước, rồi dùng một con dao nhỏ quậy bên trong, và tụng trăm câu thần chú bằng tiếng Phạn. Trong khoảnh khắc, có một con rồng thân hình màu đỏ, dài cả một ngón tay, bơi lặn dưới đáy bát nước. Ngài lại quậy nước và tụng thần chú. Lát sau, một làn khói trắng từ trong bát nước xông lên, bay cao cao mấy chục thước rồi tan mất. Ngài bảo các vệ sĩ:
- Hãy đi mau. Mưa sẽ rơi!
Các vệ sĩ vừa đi khỏi, rồi xoay đầu nhìn lại, thấy vầng khói trắng chợt bay trở lại vần vũ trên nóc mái giảng đường, rồi lại có một cơn gió thổi đến, cùng tiếng sét nổ vang. Các vệ sĩ vừa trở lại cầu Thiên Tân thì mưa tràn đến chạy theo vó ngựa. Cây cối hai bên vệ đường bị gió thổi ngã rất nhiều. Các vệ sĩ vào triều bẩm tấu, mà y phục dính đầy bùn sình. Nhà vua càng tín phụng Ngài hơn.
Lần nọ, có một con thuồng luồng sống trên một ngọn núi nọ. Ngài đến đó, thấy nó, bèn hô:
- Hãy mau qua thành Lạc Dương!
Nói xong, Ngài tụng thần chú vài trăm biến. Vài ngày sau, con thuồng luồng chết. Ðó là điềm báo loạn An Lộc Sơn. Hôm nọ, Ngài đến thăm luật sư Ðạo Tuyên. Ðạo Tuyên vừa thấy Ngài, bèn sanh tâm khinh lờn. Ðến tối, gián rệp bò đầy vào cửa phòng của Ðạo Tuyên. Ngài Thiện Vô Úy bèn liên tiếp hô:
- Lão bộc luật sư đã giết các Phật tử.
Ðạo Tuyên mới biết Ngài là một vị Bồ Tát hóa thân, nên đắp y ca sa, trịnh trọng lễ bái sám hối.
Niên hiệu Khai Nguyên thứ hai mươi (732), Ngài dâng sớ xin trở về Thiên Trúc, nhưng nhà vua không khứng chịu. Ðến mồng bảy tháng mười, niên hiệu Khai Nguyên thứ hai mươi ba (735), Ngài nhập tịch, thọ chín mươi chín tuổi, được tám mươi tăng lạp. Tăng lữ trong toàn quốc đều đau buồn mến tiếc. Tân Luật Sư đứng ra lo việc an táng. Ba ngày sau, tăng chúng an táng nhục thân của Ngài tại chùa Quảng Hóa ở Long Môn tại núi Tây Sơn. Do sức định huệ, toàn thân của Ngài không hoại. Ngày làm lễ an táng nhục thân của Ngài, trời đất ảm đạm u buồn, núi non đều đổi màu sắc. Ðệ tử nối pháp là thiền sư Bảo Úy, thiền sư Huệ Úy, v.v...
66. Ngài Bát Lặt Nhã (Trí Huệ).
Ngài là người nước Ca Tất Thí ở bắc Thiên Trúc, tên tục là Kiều Ðáp Ma Ðề. Thiên tư đảnh ngộ, mới bảy tuổi mà phát tâm bỏ cha mẹ, quy y Tam Bảo. Bấy giờ, Ngài thường y theo lời dạy của chư đại đức mà học một trăm ngàn câu kệ của bốn bộ kinh A Hàm, và ba mươi ngàn bài kệ của kinh A Tỳ Ðạt Ma. Lúc đến tuổi trưởng thành, Ngài theo tôn sư đi qua nước khác để thọ giới cụ túc. Lúc ấy, Ngài tụng thuộc gần bốn mươi ngàn bài kệ của bộ Tát Bà Ða, và hai mươi bảy ngàn bài kệ của bộ Câu Xá. Ngài lại đọc tụng Ðại Bà Sa, cùng thông suốt nghĩa lý. Trong bảy năm, Ngài trú tại đó để chuyên tu học giáo lý tiểu thừa, rồi đến tu viện Na Lan Ðà ở trung Thiên Trúc. Nơi đó, Ngài học kinh luật giáo lý đại thừa như Duy Thức, Du Già, Kim Cang, Bát Nhã, luật tạng, và ngũ minh. Ngài lại y chỉ theo học ba đại luận sư đương thời như Trí Hộ, Tiến Hữu, Trí Hữu. Sau này Ngài đến chiêm lễ rừng Song Lâm, nơi đức Phật nhập niết bàn, và tám tháp lớn thờ xá lợi của Phật. Trong mười tám năm ròng, Ngài thường qua lại chiêm ngưỡng lễ bái các thánh tích.
Nghe tiếng một danh sư tại nam Thiên Trúc, Ngài bèn đến đó để cầu học đạo. Nơi đó có quán đảnh sư là Ðạt Ma Da Xá. Vừa thấy ngài Bát Lặt Nhã, ngài Ðạt Ma Da Xá biết đây là pháp khí, nên dạy kinh Du Già Pháp Nhập Mạn Trà La Mật Hộ Thân Ngũ Bộ Ấn Khế. Trong một năm, Ngài học thuộc ba ngàn năm trăm kệ tụng. Nghe Bồ Tát Văn Thù đang trụ ở nưóc Chi Na, nên Ngài chống tích trượng đi về hướng đông để truyền bá chánh pháp. Thế nên, Ngài theo thuyền sang Ðông Ðộ. Thuyền vừa vào biên cảnh Quảng Châu thì bị gió thổi ngược lại miền đông nước Sư Tử. Ngài lại lên thuyền lớn, chu du khắp các nước nước ở Nam Hải. Vừa vào vùng duyên hải tỉnh Quảng Ðông thì có một cơn giớ lốc thổi đến, khiến thuyền bể người chết, duy chỉ còn một mình Ngài sống sót. Ðến tối canh năm thì lặng gió. Bấy giờ, kinh luận mà Ngài đem theo cũng bị trôi dạt mất. Lúc Ngài lội được lên bờ thì thấy kinh luận nằm rải rác trên bãi biển. Do đó, Ngài bèn lấy cây trúc mà vạch tìm kinh luận dưới cát biển. Ngài tự bảo:
- Chắc là căn tánh của người Chi Na chưa thành thục để tiếp nhận kinh luận giáo lý đại thừa này.
Ngài bèn mang kinh, đi bộ nửa tháng thì đến Quảng Châu. Ðương thời nhằm vào đời vua Ðức Tông.
Niên hiệu Trinh Nguyên thứ tám (792), nhà vua ban sắc lịnh cho Ngài vào kinh thành, khởi sự phiên dịch kinh điển. Bấy giờ, chư danh tăng cũng hội tụ, đồng hành việc phiên dịch. Sa môn Bát Nhã (người nước Kế Tân), tụng kinh văn tiếng Phạn. Các sa môn ở chùa Quang Trạch chuyển ngữ. Sa môn Viên Chiếu ở chùa Tây Minh ghi chép.
Suốt những năm trú nơi đó, Ngài luôn tham dự việc phiên dịch kinh điển. Lời văn lưu loát, khiến nhà vua cũng phải ban sắc viết lời tựa cho những bộ kinh mà Ngài vừa phiên dịch xong.
Sau này, Ngài thị tịch tại Lạc Dương. Phần mộ được chôn tại Tây Võng của Long Môn. Tháp hiện nay vẫn còn tồn tại.
67. Ngài Liên Hoa.
Ngài là người Thiên Trúc. Năm 784, chống tích trượng sang yết kiến Ðường Ðức Tông, xin một cái chuông, để mang trở về Thiên Trúc mà làm Phật sự. Vua ban sắc cho tiết độ sứ Lý Phục ở Quảng Châu đúc chuông đồng. Ðúc xong, nhà vua ban sắc cho người mang sang nam Thiên Trúc để tại chùa Kim Ðôi. Ngài lại mang cái chuông này đến nước Bảo Quân (Ratnasena), và an trí trong tháp Tỳ Lô Giá Na. Sau này, Ngài mang phần cuối của kinh Hoa Nghiêm đến kinh đô. Tam tạng pháp sư Bát Nhã tại chùa Sùng Phước phiên dịch thành bốn mươi quyển.
68. Ngài Mâu Ni Thất Lợi (Munisri, dịch là Tịch Mặc).
Ngài là người bắc Thiên Trúc, xuất gia thọ pháp tại tu viện Na Lan Ðà. Năm 793, Ngài xuất phát từ tu viện Na Lan Ðà, rồi đến Trường An vào năm 800. Sau đó, Ngài được vua ban sắc cho trú tại chùa Từ Ân, và cùng tam tạng pháp sư Bát Nhã dịch mười quyển Thủ Hộ Quốc Chủ Ðà La Ni.
69. Ngài Mãn Nguyệt (Purnasoma).
Ngài là người ở Tây Vực, sang Chấn Ðán, nhận trọng trách phiên dịch kinh điển. Ngài quán thông thấu triệt pháp môn Du Già, cùng có thần lực kỳ dị. Ðời Ðường Văn Tông, niên hiệu Khai Thành (836-840), Ngài mang kinh điển bằng tiếng Phạn đến Trung Thổ, và cùng với sa môn Kim Cang Tất Ðịa, v.v... dịch bốn quyển Ðà La Ni Tập và một quyển Thú Ðà Thiên Tử Thuyết Tôn Thắng kinh. Bấy giờ ngài Tri Huyền, tức quốc sư Ngộ Ðạt, tôn ngài Mãn Nguyệt làm thầy.
Ngoài ra, từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ mười, có rất nhiều nhà dịch giả từ Thiên Trúc, Ðại Nhục Chi, Tây Vực, v.v... sang Trường An, Lạc Dương, Kiến Nghiệp, v.v... phiên dịch kinh điển như sau:
Ngài An Pháp Khâm, người nước An Tức, tại Lạc Dương từ năm 281 đến năm 306, dịch kinh Ðạo Thần Túc Vô Cực Biến Hóa, kinh Văn Thù Sư Lợi Hiện Bảo Tạng, kinh A Xà Thế Vương, truyện A Dục Vương.
Ngài Chi Pháp Ðộ, người nước Ðại Nhục Chi, dịch kinh Thệ Ðồng Tử, v.v...tại Lạc Dương vào năm 301.
Ngài Nhã La Nghiêm, người Thiên Trúc, dịch kinh tại Lạc Dương vào khoảng năm 316.
Ngài Chi Ðạo Căn, người nước Ðại Nhục Chi, đến Kiến Nghiệp vào năm 335, dịch kinh Phương Ðẳng, Pháp Hoa, v.v...
Ngài Trúc Ðàm Vô Lan (Dharmaranya, dịch là Pháp Chánh), người nước Thiên Trúc, dịch kinh tại Kiến Nghiệp từ năm 381 đén năm 395.
Ngài Chi Thi Lôn, người nước Ðại Nhục Chi, dịch hai quyển kinh Như Huyễn Tam Muội, Thượng Kim Quang Thủ, và hai quyển kinh Thủ Lăng Nghiêm vào đời Tiền Lương, năm 373.
Ngài Cưu Ma La Phật Ðề (Kumarabodhi, dịch là Ðồng Giác), là người nước Thiên Trúc, dịch kinh tại Trường An từ năm 369 đến năm 371. Ngài Ðàm Ma (Dharmapriya, dịch là Pháp Ái), dịch kinh tại Trường An vào năm 382.
Ngài Ca Lưu Ðà Gia (Kalodaka, dịch là Thời Thủy), là người nước Thiên Trúc, dịch kinh tại Kiến Nghiệp vào năm 392.
Ngài Khương Ðạo Hòa, người nước Khương Cư, dịch kinh tại Kiến Nghiệp vào năm 396.
Ngài Tăng Già Ðà (Sanghata, dịch là Nhiêu Thiện) là người Tây Vức, dịch kinh tại Bắc Kinh từ năm 402 đến 412.
Trúc Nan Ðề (Nandi, dịch là Vân Hỷ) cư sĩ người Thiên Trúc, dịch kinh tại Kiến Nghiệp vào năm 419.
Ngài Chi Ða Mật (Gitamita, dịch là Ca Hữu) người Tây Vực, dịch kinh tại Kiến Nghiệp vào năm 420.
Ngài Công Ðức Trực (Gunaila) là người ở Tây Vực, đến Kinh Châu dịch kinh vào năm 462.
Ngài Phật Ðà Bạt Di (Sanghavarman) người nước Sư Tử, dịch kinh tại Kiến Nghiệp vào năm 478.
Ngài Vật Ðề Ðề Sạn Ngư (dịch là Liên Hoa Thanh Tịnh) người nước Quy Từ. Ngộ Không từ Thiên Trúc đi ngang qua nước Quy Từ, gặp ngài Vật Ðề Ðề Sạn tại chùa Liên Hoa, nên cung thỉnh dịch kinh Thập Lực.
Ngài Bát Nhã là người nước Kế Tân. Năm 795 dịch ra mười quyển thuộc phần cuối của kinh Hoa Nghiêm là Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, do Ngài mang từ nước Ô Trà sang Ðông Ðộ.
Ngài Vô Năng Thắng là người A Chất Ðạt Tản ở Thiên Trúc, cũng phiên dịch kinh điển vào cuối đời Ðường.
Y cứ theo quyển Khai Nguyên Thích Giáo Lục Tải, thì từ đời Hậu Hán đến đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên, các nhà dịch giả, gồm chư tăng lẫn cư sĩ, có khoảng 171 vị, dịch được 2278 bộ và 7046 quyển kinh. Những kinh điển này bao gồm có chân ngụy, còn mất. Theo quyển Khai Nguyên Thích Giáo Lục Tải thì những bản kinh chân thật, hiện còn tồn tại là 968 bộ và 4507 quyển. Vào đời Tống dịch thêm được hơn năm trăm quyển. Tổng cộng khoảng năm ngàn quyển kinh luật luận. Từ năm 67 đến năm 789 là thời gian mà đại đa số các kinh điển đã được phiên dịch. Trước và sau thời gian đó, đều là những phần phụ.
_____________________________________________________________
Tài liệu phiên dịch và trích dẫn:
1. Ðại Tạng Kinh quyển thứ 50, bộ sử truyện thứ 2: Cao Tăng Truyện, Tích Cao Tăng Truyện, Tống Cao Tăng Truyện.
2. Trung Quốc Phật Giáo Thông Sử (quyển 1, 2, 3, 4), Liêm Ðiền Mậu Hùng trước tác. Quan Thế Khiêm dịch.
3. Trung Quốc Phật Giáo Phát Triển Sử (quyển 1, 2, 3), Trung Thôn Nguyên Ðẳng trước tác. Dư Vạn Cư dịch.
4. Trung-Ấn Phật Giáo Giao Thông Sử, Thích Ðông Sơ trước tác.
5. Ấn Ðộ Thông Sử, Chu Dương Quang trước tác.
6. Phật Thiền Cao Tăng, Lâm Ðồng Chiếu biên soạn.
7. Trung Quốc Phật Giáo Sử, Tưởng Duy Kiều.
8. Kenneth Ch'en, Buddhism in China, A History Survey.
9. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Thích Mật Thể.
10. Hai Ngàn Năm Việt Nam và Phật Giáo, Lý Khôi Việt.