Phụ Lục : Ðại sư Tỉnh Am

Nguyên văn:

蓮社十一祖 清梵天

省庵法師

師,諱實賢,字思齊,號省庵。常熟時氏子,世儒業。幼出家,嚴習毗尼。尋入講筵,明性相之學。參“念佛者是誰”話,四閱月,忽然開悟曰:“我夢覺矣!”自是機鋒迅利,才辯縱橫,晝覽藏經,晚持佛號。燃指於阿育王山,佛前發四十八大願,感舍利放光。作《勸發菩提心文》,激勵四衆,誦諸多爲涕下。於雍正十二年四月十四日,面西寂然,送者麇至。忽開目曰:“吾去即來,生死事大,各自淨心,念佛可矣!”合掌連稱佛名而逝。

贊曰:

悲心廣大 菩提心文

四十八願 願力宏深

行解真實 瑞應超倫

蓮宗一脈 賴以常存

或說偈曰:

見賢思齊精進修 業儒讀書勝大坵

從佛專研毗尼法 參禪徹悟誰自由

大哉菩提激勵發 至矣誓願天地悠

舍利放光照千古 尊者恩澤萬劫留

Âm Hán Việt:

Liên Xã thập nhất Tổ Thanh Phạm Thiên

Tỉnh Am Pháp sư

Sư, húy Thật Hiền, tự Tư Tề, hiệu Tỉnh Am. Thường Thục Thời thị tử, thế Nho nghiệp. Ấu xuất gia, nghiêm tập Tỳ ni. Tầm nhập giảng diên, minh tánh tướng chi học. Tham "niệm Phật giả thị thùy" thoại, tứ duyệt nguyệt, hốt nhiên khai ngộ viết: "Ngã mộng giác hỹ!" Tự thị cơ phong tấn lợi, tài biện tung hoành, trú lãm tạng kinh, vãn trì Phật hiệu. Nhiên chỉ ư A Dục Vương sơn, Phật tiền phát tứ thập bát đại nguyện, cảm xá lợi phóng quang. Tác "Khuyến phát Bồ đề tâm văn", khích lệ tứ chúng, tụng giả đa vi thế hạ. Ư Ung Chánh thập nhị niên tứ nguyệt thập tứ nhật, diện tây tịch nhiên, tống giả quần chí. Hốt khai mục viết: "Ngô khứ tức lai, sanh tử sự đại, các tự tịnh tâm, niệm Phật khả hỹ!" Hợp chưởng liên xưng Phật danh nhi thệ.

Tán viết :

Bi tâm quảng đại

Bồ đề tâm văn

Tứ thập bát nguyện

Nguyện lực hoằng thâm

Hành giải chân thật

Thụy ứng siêu luân

Liên tông nhất mạch

Lại dĩ thường tồn

Hoặc thuyết kệ viết :

Kiến hiền tư tề tinh tiến tu

Nghiệp Nho độc thư thắng đại khưu

Tùng Phật chuyên nghiên tỳ ni pháp

Tham thiền triệt ngộ thùy tự do

Ðại tai Bồ đề khích lệ phát

Chí hỹ thệ nguyện thiên địa du

Xá lợi phóng quang chiếu thiên cổ

Tôn giả ân trạch vạn kiếp lưu

 

Dịch:

Thật Hiền Ðại sư tự Tư Tề, hiệu Tĩnh Am, người đời Thanh, con nhà họ Thời ở Thường Thục. Xuất gia từ thuở bé, sau khi xuất gia, nghiêm trì giới luật, giảng kinh thuyết pháp, nghiên cứu pháp môn tánh tướng. Bốn tháng tham cứu câu "Niệm Phật Là Ai", hoát nhiên khai ngộ, và nói: "Tôi đã tỉnh giấc mơ!". Từ đó cơ phong lanh lẹ sắc bén, biện tài tung hoành, ngày duyệt Tam tạng kinh, đêm chuyên trì Phật hiệu. Ngài đốt ngón tay ở tháp A Dục Vương, rồi trước Phật phát bốn mươi tám điều đại nguyện, lúc ấy cảm ứng xá lợi phóng hào quang rực rỡ. Ngài làm bài văn "Khuyên phát tâm Bồ đề", khích lệ tứ chúng, nhiều người đọc bài văn này đều rơi lệ.

Ngày mười bốn tháng tư, niên hiệu Ung Chánh thứ mười hai, Ðại sư hướng về Tây ngồi viên tịch. Hàng đạo tục các nơi nghe tin hội về đưa tiễn rất đông. Ðại sư bỗng mở mắt nói: "Tôi đi không bao lâu sẽ trở lại, sanh tử là việc lớn, mỗi người nên tự thanh tịnh tâm, niệm Phật thì có thể giải quyết được việc sanh tử!". Dặn dò xong, chắp tay niệm danh hiệu Phật rồi thị tịch.

Bài tán rằng:

Tâm từ rộng lớn,

Làm bài văn "Khuyến phát Tâm Bồ đề "

Bốn tám nguyện lớn,

Nguyện lực rộng sâu

Hành nguyện chân thật,

Ðiềm lành cảm ứng vô biên

Liên tông mạng mạch,

Nhờ Ngài trường tồn.

Hoặc nói kệ rằng:

Kiến hiền tư tề tinh tấn tu hành

Nghiệp Nho đọc sách như núi đồi

Học Phật tu hành nghiêm trì giới luật

Tham thiền triệt ngộ ai tự do

Lớn thay khuyên phát tâm Bồ đề

Cao thay lời thệ nguyện như trời đất

Xá lợi phóng quang chiếu soi thiên cổ

Tôn giả ân đức lưu ngàn đời.

 

Giảng:

Vị Tổ thứ mười một của Liên Tông là Pháp sư Tỉnh Am ở chùa Phạm Thiên đời Thanh, Ngài học vấn uyên thâm, tu hành trang nghiêm, đạo đức trí huệ lớn. Vì Ngài học vấn uyên thâm, tu hành trang nghiêm, đạo đức tốt, trí huệ lớn, cho nên đương thời cảm động rất nhiều người.

 

Sư húy : húy, là danh húy ; không phải chết đi mới gọi là húy. Cho nên vị Pháp sư này không phải sau khi chết đi mới gọi là Thật Hiền, mà khi còn sanh tiền cũng gọi là Thật Hiền. Húy còn có thể gọi là kỵ húy, thế nào gọi là kỵ húy ? chính là "tử bất ngôn phụ viết húy", con cái không gọi thẳng tên cha, gọi là húy ; ở đây cũng chính là tôn trọng tiền nhân, tôn trọng vị Tổ sư này, mà không gọi thẳng tên của Ngài. Gọi thẳng tên thì không cung kính, cho nên thêm vào chữ húy. Ngài Húy Thật Hiền : thực thực tại tại Ngài là một người hiền và có đức. Tự Tư Tề : Tư Tề tức là "kiến hiền tư tề", thấy người hiền có đức hạnh thanh cao, muốn cố gắng làm cho được bằng người; bản thân Ngài là Thật Hiền, cho nên phải tư tề, tề cái chi ? Tề thánh hiền đời trước, muốn giống như thánh hiền đời trước vậy, vì thế hiệu Tỉnh Am : Tỉnh là tỉnh ngộ. Tỉnh Am là căn cứ vào "Luận ngữ" : "Kiến hiền tư tề yên", kiến hiền, thì muốn giống như các Ngài ; "Kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã", nhìn thấy người không hiền thì hồi quang phản chiếu, phản tỉnh lại mình. Phản tỉnh cái gì ? Phản tỉnh ta có hiền hay không ? Ta có phải xấu xa như thế chăng ? Nếu phải thì phải sửa đổi ; nếu không, thì cần nên không ngừng cố gắng; "hữu tắc cải, vô gia cảnh" nếu có lỗi thì lập tức sửa đổi, không thì tự khuyến khích cảnh sách mình chớ nên phạm những lỗi như thế; cho nên hiệu của Ngài là Tỉnh Am. Thường Thục Thời thị tử : Ngài là người huyện Thường Thục - Giang Nam, họ Thời ; Thời này là thời gian, cho nên khi đến lúc thì Ngài sanh ra đời. Thế Nho nghiệp : Gia đình của Ngài có truyền thống học hành đã nhiều đời, học tập Khổng tử, tôn trọng thánh nhân.

 

Ấu xuất gia : Ngài từ thuở bé đã xuất gia. Nghiêm tập Tỳ ni : Nghiêm là nghiêm cẩn, nghiêm cẩn học tập pháp Tỳ ni. Tỳ ni (Vinaya)là tất cả quy tắc, tất cả giới luật; tức là học ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh của người xuất gia, tất cả pháp cần làm như thế nào đều phải hiểu. Ngài học tập rất nỗ lực, không chút dể duôi lơi là ; không giống chúng ta là những người trong đời mạt pháp, "nhất nhật bộc chi, thập nhật hàn chi", một ngày phơi nắng mười ngày để lạnh, không kiên trì cố gắng, chỉ hăng hái chốc lát. Hôm nay nghiên cứu học tập, ngay mai lại nghỉ, hôm sau không còn để ý, qua mười ngày nửa tháng có hứng thú thì lại đến học tiếp. Ngài không phải như thế mà là chuyên tâm vào một chỗ, ngày ngày đều siêng năng nghiên cứu học tập Tỳ ni pháp. Tầm nhập giảng diên : sau đó không bao lâu Ngài học giảng kinh thuyết pháp, cho nên minh tánh tướng chi học : tánh tướng là không môn và hữu môn. Ngài nghiên cứu không, nghiên cứu hữu, duy thức pháp tướng, những ý nghĩa này Ngài đều hiểu rõ. Tham "niệm Phật giả thị thùy" thoại : nhất tâm chuyên chú niệm niệm không quên, đi đứng nằm ngồi đều tham ngộ câu thoại đầu "niệm Phật là ai" ; đi là ai đi ? Ðứng là ai đứng ? Ngồi là ai ngồi ? Nằm là ai nằm ? Ði đứng nằm ngồi, mọi lúc mọi nơi đều chăm chăm vào chữ "ai" này.

 

Tứ duyệt nguyệt, hốt nhiên khai ngộ viết : Như thế trải qua bốn tháng, hoát nhiên khai ngộ. Vì tham câu "niệm Phật là ai" đến chỗ tột cùng, Ngài đã hiểu rõ sáng suốt, vạn sự ở thế gian, tất cả đạo lý đều hiểu rõ ràng ; "nhất thông nhất thiết thông", một thứ hiểu rõ thì mọi thứ đều thông suốt. Sau khi Ngài khai ngộ thì nói cái chi ? "Ngã mộng giác hỹ!" : Ta đã tỉnh giấc mộng lớn của nhân sanh.

Chúng ta hiện nay mỗi người đều đang nằm mơ, đều đang ở trong giấc mộng. Trong giấc mộng lớn của nhân sanh, có người bảo rằng : "Bạn nay đang nằm mơ !", ta sẽ không tin tưởng : "Tôi làm sao mà đang nằm mơ được ?". Giống như có người đang ngủ nằm mơ, trong giấc mơ có người bảo anh ta rằng : "Bạn đang nằm mộng !". Anh ta sẽ không tin tưởng. Ðến khi tỉnh giấc mộng, mới biết là mình đang nằm mơ. Chúng ta nhân sanh cũng giống như vậy, hồ đồ hỗn độn, đánh đông đánh tây, chơi nam vui bắc, đi đông đi tây, không biết là đang làm gì, từng ngày từng ngày trôi qua, từng ngày lại từng ngày trôi qua. Nói : "Bạn ở đây làm gì, bạn đang mơ à !", người ấy sẽ không tin tưởng : "Ăn cơm thì không đói, mặc y phục thì không lạnh, ngủ thì sẽ không mệt, đây là thật a ! Ông mới là nằm mộng". Ðến khi mở mắt, khai ngộ, mới thật hiểu rõ nhân sanh vốn là như thế ! Ðó gọi là mộng tỉnh rồi, lúc này mới biết nhân sanh và mộng là một.

 

Tự thị cơ phong tấn lợi : từ đó về sau, Ngài cùng với ai đấu cơ phong – tức là đả thiền cơ, nói những lời mà người không hiểu ; cơ phong của Ngài rất nhanh, rất sắc, không ai nói hơn Ngài. Tài biện tung hoành : "tung hoành" là thiên hạ vô địch ; không ai biện bác hơn Ngài, tức là tài biện tung hoành. Vì thế mọi người đều biết Ngài đã khai ngộ. Sau khi biện tài tung hoành Ngài cũng viết sách, ban ngày trú lãm tạng kinh : vì Ngài muốn viết sách nên ban ngày đọc kinh điển. Vãn trì Phật hiệu : ban đêm thì trì niệm danh hiệu Phật, niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật". Ngài rất là tinh tấn, không biếng nhác, một giờ một phút cũng không giải đãi.

 

Nhiên chỉ ư A Dục Vương sơn : Ngài ở núi A Dục Vương đốt ngón tay, lại ở Phật tiền phát tứ thập bát đại nguyện : Trước Phật phát 48 điều đại nguyện, cho nên cảm xá lợi phóng quang : A Dục Vương sơn có Xá lợi của Phật, lời phát nguyện của Ngài cảm ứng Xá lợi phóng hào quang.

 

Tác "Khuyến phát Bồ đề tâm văn", khích lệ tứ chúng : Ngài lại làm bài "Văn khuyên phát tâm Bồ đề", khích lệ tứ chúng. Tụng giả đa vi thế hạ : Nhiều người đọc bài "Văn khuyên phát tâm Bồ đề" này đều rơi lệ.

 

Ư Ung Chánh thập nhị niên tứ nguyệt thập tứ nhật, diện tây tịch nhiên : Ngày 14 tháng 4 năm Ung Chánh thứ 12, Ngài đối diện phương tây viên tịch. Tống giả quần chí : người đến đưa tiễn Ngài rất đông ; đến lúc đó, Hốt khai mục viết: "Ngô khứ tức lai, sanh tử sự đại, các tự tịnh tâm, niệm Phật khả hỹ!" : Ngài lại mở mắt ra nói : "Tôi nay ra đi, rất nhanh sẽ trở về. Sanh tử là việc rất quan trọng ! Các ông không nên xem thường, mỗi người đều phải tự thanh tịnh tâm, xưng niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, tu pháp môn Tịnh độ thì có thể giải quyết việc sanh tử". Hợp chưởng liên xưng Phật danh nhi thệ : Ngài nói xong lời này chấp tay, trong lúc xưng niệm danh hiệu "Nam Mô A Di Ðà Phật" thì viên tịch. Ngài có thể nói là "biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, tâm không tham luyến, ý không điên đảo, như nhập thiền định", và như thế bèn viên tịch.

 

Tán viết : Bi tâm quảng đại, Bồ đề tâm văn : Vì Ngài có tâm từ bi quảng đại với chúng sanh, cho nên làm ra bài "Văn khuyên phát tâm Bồ đề". Trong Phật giáo bài văn này vô cùng quan trọng, những lời Ngài nói vô cùng thấu triệt, vô cùng trí huệ. Thế nào là tà, là chánh ? thế nào là chân, là ngụy ? là lớn là nhỏ ? là thiên, là viên ? Viết rất rõ ràng.

 

Tứ thập bát nguyện nguyện lực hoằng thâm : Ngài phát 48 đại nguyện, nguyện lực vô cùng rộng lớn, vô cùng thâm sâu.

 

Hành giải chân thật thụy ứng siêu luân : sự tu hành của Ngài, trí huệ và biện tài đều rất chân thật, không chút hư ngụy. Ðiềm lành cảm ứng của Ngài cũng là bất khả tư nghì, kỳ tài xuất chúng, siêu quần tuyệt luân.

 

Liên tông nhất mạch lại dĩ thường tồn : Liên tông nhất mạch, tức là mạng mạch của Tịnh độ tông, nương vào Ngài Thật Hiền mà kế tục nối tiếp không ngừng.

 

Hoặc thuyết kệ viết : Kiến hiền tư tề tinh tiến tu : kiến Hiền tức là chúng ta nhìn thấy Pháp sư Thật Hiền thì nên học theo Ngài tinh tấn tu hành.

 

Nghiệp Nho độc thư thắng đại khưu : Khưu là núi nhỏ, không phải núi lớn. Vị Pháp sư Thật Hiền vốn là người học theo Nho gia, sách mà Ngài đọc thì nhiều như núi nhỏ, không phải như núi lớn.

 

Tùng Phật chuyên nghiên Tỳ ni pháp : Ngài xuất gia học Phật tu hành, trước bắt đầu học Tỳ Ni Nhật Dụng, những pháp tắc, quy tắc, giới luật.

 

Tham thiền triệt ngộ thùy tự do : Ngài tham thiền, tham niệm Phật là ai ? Có thể hiểu rõ đạo lý này thì hiểu rõ ai được tự do.

 

Ðại tai Bồ đề khích lệ phát : bài "Văn Khuyên Phát Tâm Bồ Ðề" vĩ đại này vô cùng có giá trị, có thể nói là cột trụ hùng vĩ, khích lệ tứ chúng Phật giáo phát tâm Bồ đề.

 

Chí hỹ thệ nguyện thiên địa du : Chí hỹ, là nguyện lực của Ngài đã đến cực điểm, không có nguyện lực nào có thể sánh được với nguyện lực của Ngài. Ngài phát 48 nguyện lớn, những nguyện lực này trường cửu, bất hủ như trời đất vậy.

 

Xá lợi phóng quang chiếu thiên cổ : Ngài phát nguyện cảm ứng Xá lợi phóng hào quang, chiếu diệu thiên cổ, trên chiếu thiên cổ, dưới sáng soi ngàn đời, đều là phóng hào quang rực rỡ.

 

Tôn giả ân trạch vạn kiếp lưu : Ân huệ và điều lành của vị Tôn giả này đối với chúng ta là những đệ tử Phật dù cho vạn kiếp muôn đời vẫn còn tồn tại, không bao giờ mất.

 

 

Trích từ "Tái Tân Ðịnh Phật Tổ Ðạo Ảnh"

Tuyên công Thượng Nhân giảng thuật

Ngày 17 tháng 10 năm 1985