HTHuVan.jpg (44708 bytes)

Pháp Ngữ của Thiền Sư Hư Vân

Thích Hằng Ðạt

1 2 3 4 5 6

Mục Lục.

Lời Giới Thiệu

I. Quý cư sĩ tại Thượng Hải thỉnh giảng năm 1911.

II. Phật thất khai thị tại Phước Kiến Công Ðức Lâm, năm 1933.

III. Thư đáp tướng Tưởng Giới Thạch.

IV. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, vào ngày mười bảy tháng giêng, năm 1943.

V. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, vào ngày mười tám tháng giêng, năm 1943.

VI. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh vào ngày mười chín tháng giêng, năm 1943.

VII. Khai thị tại chùa Kiềm Minh, Quý Dương, vào mồng một tháng hai, năm 1943.

VIII. Khai thị tại Ðại Hội Hoan Nghinh Các Giới Chức, tại hội quán Trung Sơn, Quảng Châu, vào ngày mười tám tháng tám, năm 1946.

IX. Khai thị tại Ðông Liên Giác Uyển, Hồng Kông, năm 1947.

X. Khai thị tại Áo Môn, hý viện Bình An, vào mồng một tháng tám, năm 1947.

XI. Bài diễn thuyết tại xã Liên Nghĩa, Quảng Châu vào ngày hai mươi bảy tháng chín, năm 1947.

XII. Bài giảng tại bệnh viện Chí Ðức, hội Phật giáo tỉnh Quảng Châu.

XIII. Tham thiền cùng niệm Phật.

XIV. Những điều kiện tiên quyết khi tham thiền.

XV. Khai thị tại thiền đường.

1/ Phương pháp dụng công nhập đạo.

A/ Ðiều kiện tiên quyết của việc tu đạo.

a/ Tin sâu lý nhân quả.

b/ Nghiêm trì giới luật.

c/ Tín tâm kiên cố.

d/ Quyết định hành trì một pháp môn.

e/ Phương pháp tham thiền.

g/ Người ngồi thiền phải biết.

B/ Hạ thủ công phu.

a/ Phải nhận rõ chủ khách.

b/ Thoại đầu cùng nghi tình.

C/ Chiếu cố thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh.

D/ Tâm thiết tha vì việc sanh tử, cùng phát tâm lâu dài.

E/ Việc khó và dễ trong khi tu đạo của người mới dụng công và người tu hành lâu năm.

a/ Việc khó và dễ của người mới dụng công.

*/ Việc khó của người sơ phát tâm tu đạo là tâm vọng không dứt.

*/ Việc dễ của người sơ cơ là có thể xả bỏ hết tất cả, chỉ còn một niệm.

b/ Việc khó và dễ của người tu hành lâu năm.

*/ Việc khó của người tu hành lâu năm là trên đầu cây tre trăm thước không thể tiến thêm một bước.

*/ Việc dễ của người dụng công lâu năm là công phu thầm lặng liên tục.

2/ Kết Luận.

XVI. Tham thiền cảnh ngữ (lời răn nhắc đến những người tu thiền).

XVII. Tu cùng không tu.

XVIII. Khai thị trong kỳ pháp hội Thủy Lục Không tại Thượng Hải.

XIX. Bài 'Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật' nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang, năm 1952.

XX. Thiền thất khai thị lần thứ nhất tại chùa Ngọc Phật, thành phố Thượng Hải, năm 1953.

1/ Ngày thứ nhất, (22/2).

2/ Ngày thứ hai, (23/2).

3/ Ngày thứ ba, (24/2).

4/ Ngày thứ tư, (25/2).

5/ Ngày thứ năm, (26/2).

6/ Ngày thứ sáu, (27/2).

7/ Ngày thứ bảy, (28/2).

XXI. Thiền thất khai thị lần thứ hai.

1/ Ngày thứ nhất, (29/2). 96

2/ Ngày thứ hai, (3/1). 99

3/ Ngày thứ ba, (3/2). 101

4/ Ngày thứ tư, (3/3). 103

5/ Ngày thứ năm, (3/4). 104

6/ Ngày thứ sáu, (3/5). 105

7/ Ngày thứ bảy, (3/6). 106

8/ Giải thất, (3/7). 106

9/ Pháp ngữ giải thất. 111

XXII. Phương tiện khai thị tại núi Vân Cư, năm 1955. 111

1/ Ngày mười một tháng ba. 111

2/ Ngày mười hai tháng ba. 113

3/ Ngày mười ba tháng ba. 113

4/ Ngày mười bốn tháng ba. 115

5/ Ngày hai mươi mốt tháng ba. 117

6/ Ngày hai mươi bốn tháng ba. 122

7/ Ngày hai mươi sáu tháng ba. 124

8/ Ngày ba mươi tháng ba. 128

9/ Mồng ba tháng tư. 130

10/ Mồng năm tháng tư. 132

11/ Mồng chín tháng tư. 135

12/ Ngày mười một tháng tư. 135

13/ Ngày mười lăm tháng tư. Khai thị nhân dịp kiết hạ an cư. 137

14/ Ngày mười sáu tháng tư. 140

15/ Ngày mười bảy tháng tư. 142

16/ Ngày hai mươi mốt tháng tư. 145

17/ Ngày hai mươi hai tháng tư. 147

18/ Ngày hai mươi ba tháng tư. 149

19/ Ngày hai mươi lăm tháng tư. 153

20/ Ngày hai mươi sáu tháng tư. 155

21/ Ngày hai mươi bảy tháng tư. 156

22/ Ngày hai mươi tám tháng tư. 157

23/ Ngày hai mươi chín tháng tư. 158

24/ Khai thị trong ngày tết giữa năm. 159

25/ Rằm tháng năm. 160

26/ Ngày mười sáu tháng năm. 161

27/ Ngày mười bảy tháng năm. 163

28/ Ngày mười tám tháng năm. 167

29/ Ngày hai mươi tháng năm. 170

30/ Ngày hai mươi mốt tháng năm. 172

31/ Ngày hai mươi ba tháng năm. 176

32/ Ngày hai mươi sáu tháng năm. 179

33/ Mồng hai tháng sáu. 182

34/ Mồng ba tháng sáu. 185

35/ Ngày mười sáu tháng sáu. 187

36/ Ngày hai mươi ba tháng sáu. 188

37/ Ngày hai mươi lăm tháng sáu. 191

38/ Ngày hai mươi bảy tháng sáu. 194

39/ Mồng tám tháng bảy. 197

40/ Mồng mười tháng bảy. 199

41/ Ngày mười một tháng bảy. 202

XXIII. Khai thị trong kỳ truyền giới tại núi Vân Cư, vào tháng mười năm 1955. 203

1/ Duyên khởi của kỳ truyền giới. 204

2/ Nguyên nhân những vị bên ngoài đến không thể tham gia

thọ giới. 205

3/ Khai thị phương tiện tự thệ thọ giới. 205

4/ Y bát. 207

5/ Giới luật là nền tảng căn bản của Phật pháp. 210

6/ Giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng. 210

A/ Giới pháp. 210

B/ Giới thể. 211

C/ Giới hạnh. 212

D/ Giới tướng. 212

7/ Những điểm giống nhau và khác nhau giữa giới luật đại thừa và tiểu thừa. 213

8/ Tam quy y, ngũ giới. 214

9/ Mười giới, cụ túc giới, tam tụ tịnh giới. 215

10/ Kết khuyến. 219

XXIV. Thiền tông cùng Tịnh Ðộ tông. 219

XXV. Phương tiện khai thị thuyết pháp vào ngày mười chín tháng mười, năm 1958. 225

XXVI. Biểu tướng của Tăng Ðồ trong đời mạt pháp. 229

XXVII. Mười hai bài kệ tham thiền. 232

XXVIII. Bài ca đi, đứng, nằm, ngồi. 233

(Phụ chú A:

1/ Ðại lão hòa thượng Hư Vân tiếp nối mạch nguồn năm hệ phái Thiền tông. 234

2/ Nhân duyên của quyển Tăng Ðính Phật Tổ Ðạo Ảnh. 237

Phụ chú B: Sơ lược tiểu sử của cố đại lão hòa thượng Ðộ Luân tự Tuyên Hóa (1918-1995). 237


Lời Giới Thiệu

Tuy thuyết pháp trong bốn mươi chín năm trường mà đức Phật Thích Ca tự bảo rằng Ta chưa từng nói một lời nào. Tuy truyền trao tâm ấn cho tôn giả Ma Ha Ca Diếp qua hình ảnh "Niêm Hoa Vi Tiếu", mà đức Phật cũng chưa hề nói một chữ "Thiền". Tuy bao đời lịch đại tổ sư, thầy trò "Dĩ Tâm Truyền Tâm" với nhau, nhưng chưa từng nói rằng có một pháp nào để truyền thừa. Tiếp nối tông chỉ này, thiền sư Hư Vân, bậc minh nhãn thiện tri thức thời cận đại, tuy giảng kinh thuyết pháp, hoằng truyền tông giáo, khơi dậy mạch nguồn Thiền tông, tiếp thừa hệ phái ngũ gia (Lâm Tế, Tào Ðộng, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng), hóa độ hàng chục ngàn tăng ni và hàng triệu cư sĩ tại gia trải qua một thế kỷ, mà chính tự tay Ngài chưa từng viết một quyển khai thị hay pháp ngữ nào. Mãi cho đến khi Ngài bị công an Cộng Sản Trung Quốc tra tấn dã man trong hai lần liên tục, chư đệ tử mới khẩn thỉnh Ngài tự thuật lại cuộc đời tu hành, hoằng pháp lợi sanh, hầu mong làm tấm gương sáng cho hậu thế. Vì lòng từ bi quảng đại, tuy bị trọng thương qua hai lần bị tra tấn cực hình, Ngài vẫn cố gượng kể lại cuộc đời tu hành của mình, mà sau này chư đệ tử viết lại thành quyển "Biên Niên Tự Thuật" (đã được chúng tôi và anh Nguyên Phong phiên dịch cùng phóng tác ra Việt ngữ, qua quyển "Ðường Mây Trên Ðất Hoa"). Lại nữa, vì hương thơm đức hạnh tu hành của Ngài lan truyền khắp nơi, khiến chư đệ tử phải thâu thập những bài giảng thuyết, khai thị, pháp ngữ của Ngài, rải rác trong bao thập niên, rồi gom lại thành tập "Pháp Ngữ", để lưu truyền hậu thế. Tuy bị công an Cộng Sản Trung Quốc tra tấn, chết đi sống lại hai lần, nhưng xuyên qua những bài pháp ngữ cùng trong quyển "Biên Niên Tụ Thuật", Ngài chưa từng đả kích hay lên án chế độ Cộng Sản, mà chỉ bảo là do nghiệp duyên tiền kiếp, nên nhẫn nhịn gánh chịu. Lịch đại tổ sư đã từng bị bao nghịch duyên oan trái như tôn giả Mục Kiền Liên bị ngoại đạo đánh chết, tổ Sư Sử bị vua Di La Quật chém đầu, tổ Bồ Ðề Ðạt Ma bị người hãm hại bằng thuốc độc, nhưng các ngài chẳng hề oán trách ai, mà chỉ vui lòng thọ nhận oan khiên tiền kiếp, vì đã nhận ra "Bổn Lai Diện Mục", tức chủ nhân ông trong thân tứ đại bọt bèo huyễn hóa. Ngược lại, phàm phu vừa bị một trong tám gió thổi đến, thì tham sân si bèn nổi lên.

Quyển Pháp Ngữ mà hiện tại quý độc giả đang cầm trên tay, được chúng tôi phiên dịch từ quyển "Hư Vân Hòa Thượng Khai Thị Lục" do pháp sư Tịnh Huệ, và một phần trong quyển "Hư Vân Văn Tập" do hai cư sĩ Hồng Khánh Sùng cùng Hoàng Khánh Lâm biên tập ghi chép lại.

Ðối với hành giả Thiền Tông nói riêng và hàng Phật Tử thành tâm cầu đạo giải thoát nói chung, sẽ thấy quyển này vô vàn quý giá vì là kim chỉ nam và cẩm nang cho người tu tập pháp Tổ Sư Thiền, như những bài "Ðiều kiện tiên quyết khi tu thiền", hay "Phương pháp quán thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh", mà chính thiền sư Hư Vân đã "Thật Tu Thật Chứng". Lại nữa, nếu muốn thâm nhập vào ba môn vô lậu học, tức giới định huệ của Phật giáo Ðại Thừa, hành giả phải nên đọc qua quyển Pháp Ngữ này, vì trong đây thiền sư Hư Vân giảng sâu rộng về phương thức trì giới thanh tịnh, thâm nhập chánh định, phát khởi trí huệ vô sư.

Ngoài ra, có đọc qua những bài pháp ngữ này, chúng ta mới cảm kích thâm sâu hạnh nguyện nhẫn nhục, tâm hồn vị tha vô ngã, đạo tâm kiên cố trường viễn, hành tung bình dị, hạnh tu đầu đà của thiền sư Hư Vân, một vị thánh tăng trong đời cận đại, cho dầu thế sự có đảo điên, hay "Nội Ưu Ngoại Hạn" của quốc gia dân tộc.

Phiên dịch quyển Pháp Ngữ này, chúng tôi hy vọng quý độc giả mến chuộng tu thiền sẽ nghiền ngẫm và áp dụng những lời vàng ngọc của thiền sư Hư Vân vào cuộc sống tu tập hằng ngày, hầu mong ly khổ đắc lạc, và sống lại với tự tánh thanh tịnh bản nhiên của mình.

Kế đến, chúng con thành tâm đốt nén tâm hương kính lễ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, ba đời mười phương chư Phật, chư Bồ Tát chư hiền thánh Tăng, đại lão hòa thượng Hư Vân, ân sư đại lão hòa thượng Tuyên Hóa trong cõi Niết Bàn thấu rõ và chứng minh cho bản dịch Pháp Ngữ này.

Trong kinh thường dạy: "Hãy chí thành viết một chữ hay truyền cho kẻ khác chừng một câu thì công đức phước báu vô lượng". Vậy có bao nhiêu công đức do dịch quyển Pháp Ngữ này, chúng con thành tâm hồi hướng cầu nguyện cho quê mẹ Việt Nam và thế giới được thanh bình; Phật giáo Việt Nam và Thế Giới mãi được trường tồn; tất cả chúng sanh đồng phát tâm Bồ Ðề chứng quả vị Phật.

Cuối cùng, chúng con thành tâm cầu xin chư vị thiện tri thức trong mười phương từ bi xá tội và chỉ dạy những lỗi lầm sơ suất trong bản dịch này.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chùa Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ Quốc.

Mùa xuân năm 1998.

 


I. Quý cư sĩ tại Thượng Hải thỉnh giảng năm 1911.

Hôm nay, tôi được quý cư sĩ yêu cầu lược giảng Phật pháp. Bàn về việc này, lão nạp rất hổ thẹn muôn phần. Chướng duyên che lấp, tự mình chẳng có chút tu hành chân thật. Tuy đàm luận những lời thô thiển, nhưng không ngoài việc nhắc lại những lời dư thừa của cổ nhân, mà chẳng có chút gì liên hệ với mình.

Nhớ lại, đức Phật vì đại sự nhân duyên mà giáng thế. Ngài giáo huấn và dạy bảo hơn tám mươi bốn ngàn pháp môn. Tất cả đều nhằm vào mục đích tùy theo căn bịnh mà cho thuốc. Nếu không có bịnh, thì dùng thuốc để làm gì? Song, một khi còn bịnh, chẳng thể không dùng thuốc. Các phương thuốc tại cõi Hoa Mạn là những toa linh dược rất linh nghiệm, mà không ngoài: Thiền-tông, Luật-tông, Giáo-tông, Tịnh-độ-tông, Mật-tông. Những phương thuốc trên, đã từng phát triển rạng rỡ ở phương này. Những tông phái được xem là hưng thịnh một thời, như tông Thiên Thai, tông Hiền Thủ, tông Duy Thức, Ðông Mật (mật giáo Nhật Bản), Tây Mật (mật giáo Tây Tạng). Chư pháp tuy thù thắng vi diệu, nhưng chỉ có thiền tông và luật tông là nhiều người chẳng chú ý.

Hiện tại là đời mạt pháp, nhưng thực ra pháp không mạt tận, mà chỉ tại do người. Tại sao? Người người chỉ lo đàm luận suông thiền này Phật nọ. Giảng Phật học rất nhiều, nhưng không chịu học Phật. Xem thường hạnh Phật, chẳng rõ nhân quả, phá giới luật Phật chế. Những tệ đoan xấu xa, đại khái phát xuất từ những nguyên nhân đó. Vì vậy, chúng ta, những người chân chánh vì sanh tử mà học Phật, phải cẩn thận chú ý, chớ xem thường bỏ qua.

Pháp môn tuy nhiều, nhưng mỗi mỗi đều vì cắt đứt sanh tử luân hồi. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Xoay về nguồn tánh thì không hai, nhưng phương tiện lại có nhiều."

Trong hai mươi lăm vị thánh, mỗi vị chuyên môn tu một pháp môn. Do đó, bảo rằng thâm nhập một môn.

Chư thánh hiền nếu tham tu tập nhiều pháp môn thì e rằng không thể chứng viên thông. Vì vậy, thọ trì sáu mươi hai ức hằng sa danh tự của các vị Pháp Vương Tử, không bằng thọ trì một danh tự Quán Âm Bồ Tát.

Người học Phật, quý tại chân thật, không hư vọng, thường dẹp trừ những tâm kiêu xa giả dối, chí nguyện kiên cố, chẳng tham đắm thần thông diệu dụng, thâm tín nhân quả, kiên trì giữ giới như giữ hạt sương mai buổi sớm, tận lực hành trì chẳng phạm giới pháp, thì sẽ có ngày thành Phật, tuyệt không kỳ đặc. Tâm, Phật, chúng sanh vốn không sai biệt. Tự tâm là Phật. Tự tâm làm Phật. Sao có tu chứng? Vì do sự khác biệt giữa mê và ngộ, cùng tình ái, tập khí nặng nề, mới tạm phân thành mười pháp giới. Phải nên hiểu rằng mười pháp giới tức là nhất tâm, hay gọi là Phật. Vì thế, phải tận lực hành trì, tiêu diệt hoặc nghiệp. Tập khí tật bịnh nếu trừ hết, thì tự nhiên không cần dùng đến thuốc. Người xưa bảo:

- Dẹp hết tình phàm, thật không có chư thánh giải thoát.

Ví như nước dơ, bỏ phèn vào thì trở thành thanh tịnh. Tu đạo cũng như thế. Tập khí tình ái như bụi trần. Nước như tự tâm. Phèn lọc nước dơ. Nước dơ liền thanh tịnh. Phàm phu tu hành, hãy cố chuyển tánh phàm thành tánh thánh. Tuy nhiên, phải phân rõ gì là chánh, và gì là phụ. Hoặc niệm Phật là chánh, còn các pháp môn khác là phụ trợ, rồi hồi hướng công đức tu hành về cõi Tịnh Ðộ. Niệm Phật quý nơi tâm và miệng không khác biệt. Niệm niệm không gián đoạn. Niệm đến lúc không niệm mà niệm. Thức ngủ luôn nhất như. Dụng công như vậy, sao lo gì không đến cõi cực lạc?

Tham thiền vốn là pháp môn siêu vượt hơn các pháp khác. Dâng cành hoa mỉm cười, khiến xuất sanh biết bao bậc minh tâm kiến tánh. Ðây thật là tông chỉ truyền ngoài giáo lý của đức Như Lai, mà phàm tình không thể hiểu nổi. Nếu chưa gặp được bậc minh tâm kiến tánh, chỉ nên nỗ lực tham quán một câu thoại đầu. Chớ nên đem tâm cầu giác ngộ, hay để tâm trống không, rồi ngồi khởi vọng tưởng, cùng tham nghĩa huyền diệu, công án, thần thông, v.v... Phải nên quét sạch tri kiến, chỉ trụ một câu thoại đầu, rời ngoài niệm ý thức. Lúc một niệm chưa sanh, hãy nhìn thẳng vào, dầu lâu chẳng thối, chẳng màng ngộ hay không ngộ. Khi nghi tình hiện rõ, tâm tự kết thành phiến. Lúc động tịnh nhất như, nếu gặp được cơ duyên, ngồi thiền liền cắt đứt mạng căn, như quả đã chín thì phải rụng, rồi mới thật tin rằng mình cùng Phật không khác. Ngài Quy Sơn bảo:

- Ðời đời nếu không thối chuyển, quả vị Phật quyết sẽ có kỳ.

Sao tự khi dối mình! Mỗi suy nghĩ cách nhìn đều không biết tông chỉ, nên lầm chấp giữ tà tín xằng bậy. Dùng cuồng thiền tà định, chế nhiễu hủy báng và bảo rằng thiền tông thế này thế nọ, mà chẳng biết việc tốt xấu. Nào biết đâu, từ xưa đến nay, thành Phật làm Tổ, như lột vỏ lúa, độc chỉ có tông này, siêu vượt hơn những môn học khác.

Luận về đời nay, trong thiền môn những bậc ngoại hộ thật ích sư tử hống, thật rất hiếm có. Những tông phái khác cũng đều tệ hại như thế. Người đời nay chẳng có chút tinh tấn tu hành, cứ mắc bịnh nơi bảo ăn mà chẳng ăn, hay chỉ lo đếm trân bảo cho người khác, hoặc bỏ vứt nhân quả luật nghi, tệ hại quá lắm!

Nếu thiền gia dùng công phu tu thiền mà niệm Phật thành phiến, thì vẫn giống như người thường niệm Phật, sao lo gì không gặp Phật Di Ðà? Nếu người niệm Phật, dùng tâm niệm đến lúc không niệm mà niệm, thức ngủ như nhau, để tham thiền như thiền gia, thì lo gì không ngộ đạo?

Tổng quát, phải nên nghiên cứu hành trì thâm sâu vào một pháp môn. Tu pháp môn nào cũng đều như thế. Nếu dụng công tu hành như vậy, thì tôi dám bảo đảm rằng ai ai cũng sẽ thành Phật. Sao sợ nghiệp căn sâu dầy, tập khí thâm sâu, mà không được đốn ngộ giải thoát? Ngoài những pháp này, nếu có những pháp thuật khác hay hơn, thật tôi không biết đến!

Những người học đạo, khó tinh tấn hay khó đạt được ích lợi, phần nhiều vì tâm làm biếng và tham lam chưa dứt. Nay tham thiền, mai niệm Phật, rồi trì mật chú, cùng tu bao loại pháp môn khác, mà không phân biệt môn nào chánh, môn nào phụ. Luôn luôn thay đổi cửa ngõ môn đình, mà vọng muốn thành Phật; chẳng hành chút hạnh Phật, chỉ tạo bao nghiệp ma, nên thường làm quyến thuộc ma. Tu đến khi tóc bạc mà chẳng thành, bèn trở lại phỉ báng chế giễu chánh pháp. Người xưa bảo:

- Nếu không muốn bị đọa vào ngục vô gián, chớ phỉ báng chánh pháp của Như Lai.

Ngày nay gặp thắng hội Ðại Sĩ, mọi người đồng tâm làm lễ, và phải tự nhận ra đại sĩ Quán Tự Tại trong nhà mình. Ðại sĩ Quán Tự Tại tù văn, tư, tu, rồi nhập vào tam ma địa. Ngài A Nan vì ỷ trí nhớ hay, nên không tránh khỏi tà tư. Dùng tánh nghe để trì danh hiệu Phật, sao không tự biết cái nghe? Nghe lại tự tánh, tánh liền thành đạo vô thượng.

Hư Vân tôi vốn là kẻ nương núi rừng hoang dã, tri thức cạn cợt, chỉ vì do ý tốt của quý vị, thỉnh mời đến đây, để lược bày những việc hành trì thối thất và tăng ích.

Hôm nay là ngày mười chín tháng chín, cùng với quý vị, dùng miệng thô tục niệm Quán Âm. Ðại sĩ Quán Âm do từ cái nghe mà nhập vào cửa pháp. Mắt mũi, thân ý đều xả bỏ. Ðoạn mọi sở hữu, quên hết có không, nơi chốn, thân tạng. Quý vị hãy quán tâm tự tại!

II. Phật thất khai thị tại Phước Kiến Công Ðức Lâm, năm 1933.

Tu hành trong Phật thất, quý tại nhất tâm. Tâm nếu không nhất như, thì mắt nhìn đông, hay tai nghe tây. Tu hành cách đó, cho đến Phật Di Lặc hạ sanh, nghiệp chướng vẫn còn ràng buộc nơi thân. Phật pháp hay thế gian pháp cũng đều giống nhau. Chẳng chú tâm làm việc pháp thế gian còn không được, huống gì tu Phật pháp! Người niệm Phật, từ đầu đến cuối, phải liên tục niệm thầm lặng. Mỗi câu mỗi chữ, phải niệm rõ ràng, không thể lộn xộn. Phật đến cũng niệm. Ma đến cũng niệm. Niệm đến lúc gió thổi không vào thân, hay mưa rơi không ướt mình, thì mới có ngày thành tựu. Tại sao? Phật là bậc giác ngộ. Nếu muốn giác ngộ thì phải tự biết dùng lực chuyên tâm mà niệm. Ma tức là phiền não. Chúng não hại huệ mạng của chúng sanh. Biết ma vốn thường não hại huệ mạng, đương nhiên phải nên dụng công lực, chuyên tâm niệm Phật để hàng phục chúng. Thế nên, khi giác ngộ viên mãn, thì thường thấy Phật. Khi bị tổn hại thì đó là gặp ma.

Trong đạo tràng niệm Phật, nếu ngồi bất động, liên tục niệm Phật, thì chắc chắn sẽ gặp Phật. Khi tôi đến, quý vị ra đón tiếp lễ bái. Quý vị đón tiếp để làm gì? Thật có uổng phí thời gian lắm không? Làm sao chứng đắc được gì? Có phải khi tôi đến, khiến làm não hại tịnh nghiệp nhất tâm của quý vị không? Việc này, cũng vì quý vị đặt tôi vào điện Diêm Ma La. Thật buồn thay!

Thương thay cho người thế tục! Họ không biết cung kính Tam Bảo. Họ đem heo quay, gà quay, cá nướng đến cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm; đó là phạm giới giết hại, lại không biết cung kính Ngài. Lần nọ, tôi ở Thượng Hải, gặp lúc bọn phường mai lan đến diễn hý. Một vị cư sĩ nọ, mua vé cho vài chỗ ngồi, mất cả trăm đồng. Ông ta mời tôi đi xem diễn kịch. Tôi bèn bảo ông ta rằng hãy nói thử xem, đệ tử tại gia khi thọ tám giới quan trai, không được đi xem diễn xướng, hà huống tôi là người xuất gia! Ông mời tôi đi xem diễn kịch, cũng giống như đem heo quay cúng Bồ Tát. Ông ta liền cúi đầu sám hối, và bảo rằng hôm nay bỏ ra cả trăm đồng mới được nghe lời giáo huấn, cùng biết cách thức cung kính chư tăng.

Phật pháp vô thượng, quý tại dụng tâm.

III. Thư đáp tướng Tưởng Giới Thạch.

...Ngày nay, Phật giáo lan truyền khắp thế giới. Phật giáo tiên phong mở đường cho chủ nghĩa đại đồng. Trên thế giới, xem xét kỹ càng, nhận thấy có hai luồng tư tưởng: ...Luận duy thần và luận duy vật. Song, chủ thuyết quả báo luân hồi, ảnh hưởng phổ cập khắp nơi. Thật không thể nghĩ bàn! Theo luận duy thần của đạo Cơ Ðốc, thì bảo rằng thần thường ban an vui cho người hiền, nhưng lại trừng phạt những kẻ ác. Vì vậy mà chấp nhận sự tồn tại của thần linh, và cho đó là lẽ tự nhiên. Song, họ chẳng biết giáo điều như thế, không thể khiến người đời thâm tín, nên đưa đến việc họ cùng những nhà duy vật tranh cãi bài bác. Do đó, đạo Cơ Ðốc không thể duy trì nền hòa bình cho thế giới. Thật ra, thần tức là vật. Vật tức là tâm. Tâm cũng là thần. Song, thần cũng chẳng phải thần, hay vật cũng chẳng phải vật, và tâm cũng chẳng phải tâm. Ðức Phật giải thích rõ rằng ba cõi (vũ trụ) vốn không có kiến lập một pháp (sự vật) nào cả, mà chúng đều là vọng khởi từ chân tâm. Từ chân tâm này, sanh ra muôn pháp. Gọi "Chân Tâm", nhưng thực ra vì có vật chất hư vọng đối đãi nên mới giả lập danh tự. Bàn đến lẽ cùng tột, gọi là "Chân Tâm" cũng không đúng.

Ví như trong biển cả, tâm là nước, và muôn pháp (muôn sự vật) là sóng. Khi biển êm gió lặng thì gọi là nước biển. Khi gió thổi biển động thì gọi là sóng biển. Khi sóng lặng thì là nước biển. Lúc nước biển khởi dậy thì biến thành sóng biển. Giả như không có tướng nước chảy cuồn cuộn, thì không thể lập danh từ hư giả là sóng biển. Nếu không có danh từ sóng biển, thì danh từ nước biển hư giả do đâu mà sanh ra! Những danh từ hư giả này, chỉ do chúng ta tùy tiện lập ra. Vì vậy, vật tức là tâm. Hữu vi tức là vô vi. Sắc tức là không. Vọng tức là chân. Phiền não tức là Bồ Ðề. Chúng sanh tức là chư Phật. Lúc một niệm bị mê hoặc, thì tâm trở thành vật; vô vi biến thành hữu vi; không biến thành sắc; chân biến thành vọng; Bồ Ðề biến thành phiền não; chư Phật biến thành chúng sanh; nước biển chảy cuồn cuộn thì biến thành sóng biển. Khi có một niệm giác ngộ thì vật chẳng khác tâm; hữu vi chẳng khác vô vi; sắc chẳng khác không; vọng chẳng khác chân; phiền não chẳng khác Bồ Ðề; chúng sanh chẳng khác chư Phật; sóng biển lặng thì là nước biển. Lại nữa, vì do khởi mê hoặc, nên mới giả lập ra vật chất, hữu vi, sắc tướng, không vọng, phiền não, chúng sanh, v.v... để đối đãi với chân tâm, vô vi, chân không, Bồ Ðề, chư Phật. Vì thế, gọi là duy tâm, duy vật, hữu thần, vô thần, đều do tâm thức phân biệt đặt để. Có người bảo:

- Nếu như thế thì Phật giáo cũng theo luận duy tâm!

Nhà Phật tuy nói duy tâm, nhưng khác hẳn với luận lý duy tâm của các nhà triết học. Luận duy tâm của triết học là nơi tâm chấp có, và nơi vật chấp không. Vì vậy, Phật Thích Ca bảo rằng chúng sanh chấp tâm phan duyên làm tự tánh; chấp vọng tưởng sanh tử làm thật thể. Người theo chủ nghĩa duy vật, chấp vật thể là có thật, và chấp tâm là hư vô. Phật Thích Ca bảo rằng những người này thường làm những việc điên đảo, ngộ lầm vật chất mà cho là mình, nên mãi mãi lưu chuyển trong dòng sanh tử. Luận duy thần phân tách rõ ràng vật chất thật thể, và thần linh thật thể. Vì thế, luận duy thần và duy vật, phân biệt thành hai thế giới riêng biệt. Phật Thích Ca bảo rằng khi tâm thức bị mê hoặc, nhận lầm bọt biển làm biển cả. Ðó gọi là chấp biến tri. Hoặc vì gần gũi, thấy hình trâu mà cho là trâu thật. Hoặc nhìn sơ qua sừng trâu, mà lầm nhận sừng trâu là con trâu. Hoặc do thấy đầu trâu mà cho đầu trâu là con trâu. Song, chẳng phải như thế! Họ không nhìn thấy toàn thể tướng chân thật của con trâu. Phật giáo đàm luận cùng nguyên triệt lý, chỉ rõ ra con trâu trắng chân thật. Nếu chỉ xem sơ qua, mà chưa thật thấy toàn thể con trâu, đó là muốn cầu thiên chấp luận duy tâm duy vật.

Biệt danh chân lý của nhà Phật là minh tâm kiến tánh, bản nhiên thanh tịnh, chân tâm thường trụ, giác tánh chân như, thật tướng pháp thân, v.v... Rời các danh tướng thì không có phương sở. Thể tự giác vốn tự sáng soi, tức là đức tánh bổn hữu, mà không có năng (tức là chủ, hay chủ động) và sở (tức là khách, thường bị động) đối đãi. Gốc vốn không có gì gọi là thập phương (đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên, dưới) tam thế (quá khứ hiện tại vị lai). Lại nữa, chẳng có chi gọi là đất đai, con người, thú vật, cây cỏ, ngói đá, địa ngục, thiên đường, v.v...Thật ra, chỉ vì một vọng niệm mà khởi ra pháp hữu vi (muôn vật, muôn sự trong vũ trụ).

Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài Phú Lâu Na bạch hỏi Phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Tánh giác vốn tự thanh tịnh. Sao lại chợt sanh ra đất đai núi sông?

Phật đáp:

- Này Phú Lâu Na! Như lời ông hỏi, tánh bản nhiên thanh tịnh, vì sao bỗng nhiên lại sanh ra núi, sông, đất liền. Ông chẳng thường nghe Như Lai chỉ dạy, tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu hay sao?

- Bạch đức Thế Tôn! Ðúng như thế, con thường nghe Phật dạy nghĩa ấy.

- Ông bảo cái giác minh, là vì bản tánh nó là minh, nên gọi là giác, hay vì cái giác chẳng minh mà gọi là giác?

- Bạch đức Thế Tôn! Nếu cái chẳng minh đó gọi là giác, thì không có sở minh.

- Nếu không có sở minh là không có minh giác, còn có sở minh thì không phải là giác; không sở thì không phải là minh; không minh lại chẳng phải tánh giác trạm minh. Tánh giác hẳn là minh, do vọng làm thành minh giác.

Giác không phải là sở minh; nhơn minh mà lập sở; sở đã vọng lập liền sanh cái vọng năng nơi ông.

Trong cái không "đồng" "khác", rõ ràng thành khác. Khác với cái "khác" kia, nhơn cái khác đó mà lập thành cái "đồng". Ðã thành cái đồng cái khác rồi, nhơn đây lại lập cái "không đồng không khác".

Rối loạn như thế, đối đãi lẫn nhau mà sanh lao lự; lao lự càng lâu thì phát sanh ra trần tướng, tự làm vẫn đực lẫn nhau. Do đó, đưa đến trần lao phiền não.

Nổi lên làm thành thế giới. Lặng xuống thì thành hư không. Hư không là đồng. Thế giới là khác. Cái không đồng khác kia thật là pháp hữu vi.

Cái giác thì sáng suốt, còn hư không thì mờ tối. Chúng đối đãi thành ra dao động, nên có phong luân nắm giữ thế giới. Nhơn hư không mà sinh ra dao động; kiên cố cái sáng mà thành có ngăn ngại. Các loại kim bảo kia đều do minh giác lập ra tánh cứng chắc, nên có kim luân giữ gìn cõi nước.

Kiên cố cái giác thì thành có kim bảo. Lay động cái minh thì có phong đại hiện ra. Phong đại và kim bảo cọ xát với nhau cho nên có lửa sáng, khiến trở thành tánh biến hóa. Ánh sáng kim bảo đượm ướt; lửa sáng xông lên, cho nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi nước. Lửa bốc lên, nước rơi xuống, khiến giao nhau, phát triển thành tánh cứng. Chỗ ướt là biển lớn. Chỗ khô là đại lục và cồn đảo. Do nghĩa đó, nên trong biển lớn có hơi nóng thường bốc lên. Trong đại lục và cồn đảo có sông ngòi thường chảy xuống.

Thế nước kém hơn thế lửa thì kết thành núi cao. Do đó, đập đá núi ra thì tóe lửa, còn nấu thì chảy ra nước. Thế đất kém hơn thế nước, thì rút lên làm cỏ cây. Vì vậy, đốt cây cỏ rừng rậm thì thành đất, và vắt chúng ra thì có nước.

Vọng tưởng giao xen phát sinh, lần lượt làm thành chủng tử cho nhau. Do nhân duyên ấy, thế giới tiếp nối.

Lại nữa, Phú Lâu Na! Cái minh vọng không phải gì khác, mà do giác minh hóa ra lầm lỗi. Cái sở minh hư vọng đã lập thì phạm vi của năng minh không thể vượt khỏi được.

Do nhân duyên đó, mà nghe không ngoài tiếng, và thấy không ngoài sắc; sáu thứ vọng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp được thành lập. Vì thế, phân chia ra có thấy nghe, hiểu biết.

Ðồng nghiệp trói buộc lẫn nhau mà có hợp, có tan, có thành, có hóa.

Cái thấy sáng tỏ thì các sắc phát ra. Nhận rõ sự thấy thì kiến chấp thành tư tưởng; ý kiến khác nhau thì thành ra ghen ghét; tư tưởng đồng nhau thì thành ra yêu thương.

Dòng ái lan ra làm thành hạt giống, rồi do giao cấu phát sanh, khiến thu nạp tưởng thành bào thai, tức hấp dẫn đồng nghiệp, nên có nhân duyên sinh yết la lam, át bồ đàm, v.v...

Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hay hóa sinh, tùy chỗ của các loài ấy mà ứng hiện. Loài noãn sanh chỉ do tưởng mà sinh; loài thai sinh nhơn tình mà ứng; loài thấp sinh do hợp mà cảm; loài hóa sinh do phân ly mà hiện.

Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau, nên các loài thọ nghiệp báo và theo đó mà có thăng trầm, lên xuống. Do nhân duyên ấy mà chúng sanh tiếp nối nhau mãi không ngừng.

Này Phú Lâu Na! Tư tưởng yêu thương ràng buộc lẫn nhau, khiến mến luyến mãi không rời. Thế nên, trong thế gian, cha mẹ con cháu nương nhau sinh ra tiếp nối không dứt. Những việc như thế, đều do tham dục làm gốc.

Lòng tham và yêu mến cùng tăng trưởng. Tham mãi không dừng, nên trong thế gian, các loài noãn sinh, hóa sinh, thấp sinh, thai sinh, tùy theo sức mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau. Những việc như thế, đều do tâm tham giết hại làm gốc.

Do người ăn thịt dê. Dê chết làm người. Người chết làm dê. Như thế cho đến mười loài chúng sanh, chết sống và sống chết ăn nuốt lẫn nhau, khiến đồng tạo ác nghiệp, tận đời vị lai. Những việc như thế, đều do tâm tham lam trộm cắp làm gốc.

Người này mắc nợ mạng thân mạng người kia. Người kia trả nợ cũ của người này. Do nhân duyên đó mà trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sanh tử.

Người này yêu tâm người kia; người kia thích sắc người này. Do nhân duyên đó, trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong vòng ràng buộc.

Song, chỉ có ba thứ như giết hại, trộm cắp, dâm dục làm cội gốc. Vì nhân duyên đó, nghiệp quả tiếp nối không ngừng.

Này Phú Lâu Na! Ba thứ điên đảo tiếp nối nhau như thế, đều do tánh rõ biết sáng suốt của giác minh. Vì rõ biết mà phát ra tướng. Từ vọng thấy sinh ra núi, sông, đất liền; các tướng hữu vi theo thứ lớp mà đổi dời. Vì hư vọng này xoay vần sau rồi lại trước.

Trong cái chân như giác tướng bỗng nhiên sanh ra chân vọng. Từ đó lại phân thành bất biến và tùy duyên. Bình đẳng bất biến, ngoài tướng sai biệt, chẳng phàm chẳng thánh, không thiện không ác, chân thật như thường, vốn là chân như bất biến.

Tùy duyên sanh diệt, khởi tướng sai biệt, có phàm có thánh, có thiện có ác, đó là chân như tùy duyên. Lại nữa, gọi là chân như bất biến, vì muôn pháp vốn là chân như, chẳng phải tâm, vật, thần. Gọi là chân như tùy duyên, vì chân như này vốn là muôn pháp, tức là tâm, vật, thần. Luận duy tâm lầm nhận thần linh, tức là chân như tùy duyên, và cho đó là chân tâm.

Ðề xướng luận vô thần, tức nhà duy vật, lại hẹp hòi biên kiến (chỉ nhìn một bên), vốn thuộc về chân như tùy duyên, tức chỉ thấy có vật chất. Người theo chủ thuyết duy vật, lại căn cứ theo vật chất mà đề xướng luận vô thần. Người theo luận duy thần, cũng hẹp hòi biên kiến, vọng sanh phân biệt, lầm nhận vật chất và thần linh, tức chân như tùy duyên.

Người đề xướng luận duy thần, nào biết tâm tức là vật, và vật tức là thần! Tâm, vật, và thần đồng một thể tánh. Có tâm tức có vật. Có vật tức có thần. Vô tâm tức vô vật. Vô vật tức vô thần. "Có" không phải có trong cái có không, lại chẳng có mà có trong diệu hữu. Cái "không" chẳng phải cái không đoạn diệt, lại vượt ngoài cái diệu không của cái có không. (Cái "có, không" vi diệu đã bàn rồi. Cái sanh trong vô sanh, và cái sanh trong hữu sanh, nghĩa lý rất thâm sâu, không thể dùng lời nói văn tự mà diễn bày hết được. Ðây là những cửa ải quan trọng của nhà thiền.)

Luận duy tâm, duy vật, duy thần, chưa từng hiểu rõ nghĩa lý này, nên cùng nhau công kích đả phá. Thật ra, họ đều đúng và đều sai. Người nghiên cứu học Phật pháp, hãy nên phá vỡ những tảng băng đá này!

Ðối với việc nghiên cứu bản thể vũ trụ của nhà Phật, tôi đã tường thuật rõ ràng bên trên rồi. Ngoài ra, những việc như sự cấu tạo thành hoại của thế giới, hệ thống tổ chức khí quản của thân người, cùng bao vấn đề khác, trong kinh Lăng Nghiêm và những bộ kinh luận khác, đều đã thuyết minh, luận bàn tường tận rõ ràng. Ða số, những điều này đều phù hợp với những phát minh của các học giả, triết gia, khoa học gia trong hiện thời và tương lai.

Song, giá trị nhân sanh, pháp tắc và hạnh nguyện của chư đại Bồ Tát, chỉ có chư thánh hiền mới biết được. Những điều này, trong kinh điển thường nhắc đến. Vì vậy, thấy rằng Phật giáo rất thần diệu và vĩ đại. Song, Phật giáo tuyệt không khoe khoang những điều kỳ lạ, lại cũng không làm những việc hư dối, khiến mê hoặc quần chúng. Mỗi lời nói và hành vi đều y theo ba môn vô lậu học giới định huệ, mà thi hành thực tiễn.

Sao gọi là giới định huệ? Phòng phi chỉ ác (ngăn ngừa việc xấu, và ngừng việc ác), gọi là giới. Khi sáu căn tiếp xúc với cảnh, tâm không tùy duyên (mà khởi), nên gọi là định. Tâm cảnh tròn đầy như hư không, và thường giác chiếu mà không mê hoặc, đó gọi là huệ. Phòng ngừa việc xấu, và đình chỉ việc ác của ba nghiệp, khiến dòng nước tâm tự lắng đọng trong sáng, tức do giới mà sanh định. Nước tâm lắng đọng trong sáng, khiến tự tánh chiếu soi khắp xum la vạn tượng, tức do định mà sanh huệ. Nhà nho cũng có câu:

- Ðịnh rồi lại năng tĩnh. Tĩnh rồi lại năng an. An rồi lại năng suy lự. Suy lự rồi lại năng đắc đạo. Vật có gốc ngọn. Sự có trước sau.

Các nhà triết gia cũng thường trầm tư mặc lự về sự tướng cùng sở học. Song, nhà nho, nhà triết học, và nhà khoa học đều dùng tâm phan duyên, để suy tư về vạn vật và vũ trụ. Họ nào biết đâu vũ trụ và vạn vật cũng do từ tâm phan duyên tạo thành! Năng tư sở lự, đều là tâm phan duyên. Nếu muốn cầu chân lý thâm sâu, phải ngồi thiền tĩnh lự. Các nhà triết học hiện nay, đối với sự nhận thức về các luận lý, thường lao xao tranh cãi, mãi không kết thúc.

Phật pháp rời ngôn từ, tuyệt tư lự, nên khiến trí huệ giác chiếu khắp vũ trụ cùng muôn vật muôn sự.

Nếu ngồi xuống, ung dung tự tại mà bàn luận, thì thấy rằng Phật giáo vốn tiên tri tiên giác, và bao hàm cả triết học, khoa học, tôn giáo. Lò nào cũng cùng một xưởng.

Nhật Bổn tôn sùng Phật giáo làm quốc giáo, nên thời cận đại đạo Phật rất hưng thịnh. Những nhà duy tân và hiền sĩ đắc lực từ thiền học không ít. Việc của chúng dân, các ngài đều hiểu thấu. Nếu chẳng dùng võ lực quân phiệt mê tín, chẳng dùng sức mạnh bạo lực để giết chóc, và chẳng dùng chính sách xâm lược, khiến trái ngược với đạo, thì ngày nay được an ổn, đâu đến nỗi phải bị thảm bại.

Có người nghi rằng Phật giáo rất tiêu cực và mê tín, nên không xứng làm quốc giáo; đây là vọng tưởng của những người chưa hiểu gì về đạo Phật. Thật ra, Phật giáo không hủy hoại tướng của thế gian, cớ sao gọi là tiêu cực? Ðạo Phật dẫn dắt con người đi từng bước để bỏ mê hợp với tánh giác, cớ sao gọi là mê tín? Kiểm nghiệm chữ Phật, theo tiếng Phạn, nói cho đủ là Phật đà, được dịch là bậc giác giả, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Bồ Tát, tiếng Phạn gọi là Bồ Ðề Tát Ðỏa, dịch là giác hữu tình và hữu tình giác. Bồ tát có hai hạng là xuất gia và tại gia. Bồ Tát thường phát tâm rộng lớn vì chúng sanh mà cầu đạo Bồ Ðề vô thượng. Các ngài vừa tự tu hành, vừa giáo hóa tha nhân. Ðó là hạnh chánh tín và tích cực của chư Bồ Tát. E rằng trên thế gian hiếm có ai phát được những hạnh nguyện này.

Phật giáo y theo hai nghĩa chiết và nhiếp, mà lập nhiều môn phương tiện. Sao gọi là chiết? Chiết tức là chiết phục kẻ ác. Xưa kia, khi Thạch Lặc hỏi về giới cấm giết hại, thì ngài Phật Ðồ Trừng đáp:

- Ông là vua trăm họ, chớ nên giết hại chúng dân bừa bãi. Ðó là nghĩa của giới cấm giết hại.

Lại nữa, chư Bồ Tát quyền thừa tại gia, phải chiết phục kẻ ác để lợi sanh. Tuy cầm đao trượng, cho đến chặt đầu kẻ ác, mà không thật phạm giới cấm giết hại; ngược lại còn sanh thêm công đức. Nếu ác ý mà giết người, thì biết là không thể được. Vì thiện ý mà giết người, đó là thủ nhãn của đại Bồ Tát Kim Cang quyền thừa.

Sao gọi là nhiếp? Nhiếp tức là nhiếp thọ người hiền. Chư Phật Bồ Tát vì lợi ích của chúng sanh, nên không quản ngại gian nan hiểm nạn. Có bốn pháp nhiếp thọ. Thứ nhất, bố thí nhiếp, tức là nếu có chúng sanh muốn tiền tài thì Bồ Tát bố thí tiền tài. Nếu chúng sanh muốn nghe pháp thì Bồ Tát bèn thuyết pháp bố thí, để khiến cho họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ hai, ái ngữ nhiếp, tức là tùy theo căn tánh của chúng sanh, Bồ Tát ban những lời khuyên nhủ, thí dụ ngọt ngào, để khiến cho họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ ba, lợi hành nhiếp, tức là thân miệng ý của Bồ Tát luôn hành thiện nghiệp, làm lợi ích chúng sanh, khiến họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ tư, đồng sự nhiếp, tức là dùng pháp nhãn mà quan sát căn tánh của chúng sanh; tùy theo sở thích của họ mà Bồ Tát phân hình thị hiện, và cùng họ làm những việc ích lợi, để họ phát tâm thọ đạo. Ðó là những hạnh tích cực của chư Phật và Bồ Tát.

Sao gọi là phương tiện? Tức là các ngài phân lượng căn khí của chúng sanh mà cứu độ bằng những phương tiện quyền xảo. Bên trên đã bàn về bốn pháp nhiếp thọ, đó cũng là những môn phương tiện quyền xảo. Phẩm Hóa Thành Dụ trong kinh Pháp Hoa thuyết:

"...Thí như trong đường hiểm

Chỉ toàn loài ác thú

Lại chẳng có cỏ nước

Nơi người thường sợ hãi.

Vô số trăm ngàn chúng

Muốn thoát đường hiểm đó.

Ðường ấy rất rộng dài.

Qua năm trăm do tuần

Có một vị đạo sư

Mạnh khỏe có trí huệ

Tâm sáng suốt cương quyết

Tại đường hiểm cứu nạn.

Chúng nhân đều mỏi mệt

Mà bạch đạo sư rằng:

Chúng con đều mệt nhọc

Nơi đây muốn thối lui.

Ðạo sư bèn suy nghĩ:

Bọn trẻ thật đáng thương

Sao lại muốn thối bước

Bỏ mất châu báu lớn?

Nên nghĩ kế phương tiện

Mà thiết lực thần thông

Hóa ra thành ấp lớn

Các phòng xá nguy nga.

Chung quanh có vườn rừng

Sông ngòi cùng ao tắm

Lầu gác cao, cửa lớn,

Trai gái đều đầy đủ.

Liền hóa làm thế rồi

An ủi chúng đừng sợ.

Các ngươi hãy vào thành

An trú tùy sở thích.

Chúng nhân liền vào thành

Tâm đều mừng vô ngần

Ðều sinh tưởng an vui,

Tự cho là được độ.

Ðạo sư biết đã nghỉ

Hợp chúng lại bảo rằng:

Ðây chỉ là hóa thành

Thấy các ông quá mệt

Giữa đường muốn thối lui

Nên quyền thiết hóa thành.

Nay đương cần tinh tấn

Phải cùng đến bảo sở..."

Xem qua, chúng ta biết rõ thâm ý của Phật Thích Ca phân thời thiết giáo, quyền thiết phương tiện. Thế nên, những bậc thượng thiện căn thường hợp với thiền và giáo. Người chú trọng sự phân chiết thì hợp với Duy Thức học. Pháp môn phổ cập trong quần chúng là Tịnh Ðộ. Người xuất gia hay kẻ tại gia, dẫu tu theo đại thừa hay tiểu thừa, đều vì nhiệm vụ cứu độ giáo hóa rộng khắp quần sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều thọ pháp ích lợi.

Gần đây, có những người theo lập trường vô thần, thấy chư Phật tử lễ bái hay trì danh niệm Phật, đều cho là mê tín. Họ không biết rằng lễ bái chư Phật chư Bồ Tát nào khác gì với sự cung kính các bậc trưởng thượng! Sự niệm Phật, đối với việc tu tâm, chẳng phải là công phu tu hành sao? Vã lại, trì danh niệm Phật, bất quá chỉ là một pháp môn phương tiện giản dị cho người sơ cơ. Ngoài ra, trong tông Tịnh Ðộ còn có các pháp môn như quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, thật tướng niệm Phật, v.v... Tông Tịnh Ðộ vốn rất diệu dụng vô cùng tận, mà họ tự không hiểu rõ, lại cho là mê tín.

Lại nữa, có người bảo rằng đạo Cơ Ðốc cũng thoát thai từ tông Tịnh Ðộ. Xem xét chúa Giê Su mặc y phục cũng tương đồng với Phật. Trong kinh "Phật Thuyết A Di Ðà" thường nhắc đến thế giới Cực Lạc ở Tây Phương. Tín đồ đạo Gia Tô cũng thường nói đến Thiên Quốc Cực Lạc. Vãng sanh qua cõi Tịnh Ðộ, được phân thành chín phẩm. Gia giáo Lý Lâm Thiên Thần Phổ cũng nói là có chín phẩm vị thiên thần. Trong kinh A Di Ðà, Phật Thích Ca nói rằng không thể dùng chút ít nhân duyên phước đức thiện căn mà được sanh qua cõi Cực Lạc. Ðạo Gia Tô cũng nói rằng nếu ở tại nhân gian mà không lập công bồi đức thì Thiên Chúa sẽ không rước về Thiên Quốc. Người tu theo tông Tịnh Ðộ, phải niệm danh hiệu Phật A Di Ðà trong mười hai thời, cần cầu Phật tiếp dẫn. Ðạo Gia Tô cũng bảo tín đồ rằng ngày đêm sáng tối phải thường cầu khẩn Thượng Ðế gia hộ. Trong nhà Phật có pháp quán đảnh. Ðạo Gia Tô có lễ rửa tội. Xem xét những điều như trên, thấy rằng tông chỉ của đạo Gia Tô và tông Tịnh Ðộ thật rất tương đồng. Giê Su giáng sanh sau Phật Thích Ca hơn năm trăm năm. Ngài đã từng thọ giáo huấn của Phật Thích Ca, nên mới được kinh A Di Ðà, rồi y cứ theo đó, mà sáng lập tôn giáo mới. Ðiều này không thể nào nghi ngờ được. Lại nữa, Giê Su đã từng qua Ấn Ðộ ẩn tích ba năm để tham học. Sự tuy vô căn cứ, mà dấu tích vẫn còn tồn tại. Ðạo Gia Tô tuy tựa như pháp môn trì danh niệm Phật của tông Tịnh Ðộ, nhưng rất kém xa. Tín đồ Gia Tô chỉ cầu tha lực. Tuy tin tha lực như thế, mà họ lại không hiểu tại sao phải tin. Gần đây, có những người miễn cưỡng trì danh niệm Phật, chỉ chú trọng vào tha lực, tự bảo là tương ưng với đạo.

Chương Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm viết: "...Thập phương Như Lai, thường lân mẫn thương xót nghĩ nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cứ chạy lẫn trốn thì mẹ có thương nhớ cũng vô ích. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con đều không cách xa. Nếu tâm chúng sanh thường nhớ Phật niệm Phật, thì hiện tiền và tương lai, tất sẽ thấy Phật, và không xa cách Phật. Không cần giả lập phương tiện, tâm vẫn tự được khai ngộ... Nhân địa của con, dùng tâm niệm Phật mà nhập vào vô sanh pháp nhẫn. Hôm nay tại nơi đây, nhiếp thọ người thường niệm Phật, quy nơi Tịnh Ðộ."

Có nhân thì có quả, tức sự lý vô ngại. Ðạo Gia Tô bảo rằng người hiền lương sẽ sanh qua Thiên Quốc vĩnh viễn. Tông Tịnh Ðộ bảo rằng vãng sanh Tịnh Ðộ, thì mãi sanh nơi cõi Phật, thấy Phật nghe pháp, ngộ vô sanh pháp nhẫn. Dùng diệt mà hiển thị sanh, nên có sanh diệt đối đãi. Cuối lúc diệt, sanh trong cái vô sanh, tức vốn tự vô sanh, nên không có diệt. Vì vậy, gọi là Vô Lượng Thọ (biệt danh của Phật A Di Ðà).

Hạnh nguyện Bồ Tát, thường cầu đạo vô thượng, chẳng phải chỉ có chúng xuất gia, mà người tại gia cũng hành được. Bất quá, người xuất gia chỉ sống xa quốc chủ, rời thân bằng quyến thuộc, xả bỏ ân ái gia đình, ý tại thoát ly tình dục trói buộc. Người xuất gia xả bỏ tình riêng mà phát triển đồng tình Phật tánh. Xả bỏ ân ái riêng tư để trở thành bậc bác ái vĩ đại. Lấy việc cứu độ tất cả chúng sanh làm trung. Dùng sự nhiếp thọ chúng sanh làm hiếu. Ðó là ý nghĩa của chủ nghĩa đại đồng. Tiên sinh Tôn Trung Sơn thường nói:

- Phật giáo lấy việc cứu thế gian làm nhân đức. Phật học là mẹ của mọi ngành triết học. Tôn giáo tạo thành dân tộc, cùng duy trì lực đại hùng và thiên tánh tự nhiên của dân tộc. Nhân dân chẳng nên không có tư tưởng tôn giáo. Nghiên cứu Phật học khiến bổ xung vào những điểm khiếm khuyết của triết học.

Hôm nay, Ngài (Tưởng Giới Thạch) đã cho phép thâu nhập Phật giáo vào nền văn hóa, tức là bổ ích thêm cho tư tưởng học thuật của nước nhà. Hiện tại, Phật giáo đang lan truyền rộng rãi khắp thế giới. Phật giáo luôn chủ trương khuyến tấn đại giáo đại đồng duy nhất. Ðây chẳng phải là lời trống rỗng.

Vã lại, ngày nay tự do tôn giáo, chẳng nên cưỡng ép người theo những đạo mê tín, thì mới khiến nhân tâm trung thành khâm phục mà sanh chánh tín. Nếu bỏ Phật giáo thì quy ngưỡng vào nơi nào?

IV. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, vào ngày mười bảy tháng giêng, năm 1943.

Hôm nay, quý vị phát tâm quy y Tam Bảo. Lão nạp rất vui mừng. Quý vị không quản đường xa, băng sông lội suối đến đây, không ngoài việc hy vọng đạt được sự lợi ích này. Song, nếu muốn đắc được lợi ích, phải tự thuận theo tự tướng mà hành trì. Nếu chỉ quảy đeo hư danh trống rỗng, sẽ không đạt được gì. Quý vị nên biết rằng hôm nay quy y, tức làm đệ tử Phật. Ví như sinh vào nhà đế vương, tức làm con cháu đế vương, nhưng phải cố gắng đôn đúc tu hành, đừng để bị trục đuổi, thì mới thật là phượng các loan đài, có phần lợi ích.

Từ nay về sau, phải y chiếu theo lời di giáo của Phật mà hành trì. Phải sớm biết muôn sự trên thế gian này như huyễn hóa. Suốt cuộc đời của con người, làm này tạo nọ, chỉ giống như ong hút mật, tằm dệt lưới. Do một niệm động khởi, nên chúng ta nhập bào thai. Sanh ra, lại từ từ biết phân biệt mình người, khởi niệm tham sân si. Lớn lên, dần dần tiếp xúc với xã hội. Mọi toan tính đều vì lợi ích cho mình; tích lũy tiền tài riêng tư cho quyến thuộc. Bận rộn cả đời, chỉ lo chuyện vợ con. Kết quả, không một giây phút rảnh rỗi. Tự mình bó buộc không lối thoát, có khác gì ong hút mật! Cả đời làm lụng này nọ, tạo bao nghiệp chướng, nên phải chịu quả xấu, phá vỡ chẳng được, nào khác chi tằm tự quấn tơ! Cuối đời bị đọa lạc vào vạc lửa dầu sôi, ba đường ác. Hãy suy nghĩ kỹ càng!

Vì thế, mọi người phải y chiếu theo lời Phật dạy. Phải ăn chay trường suốt đời, chớ chỉ ăn chay tạm. Chẳng nên giết hại sinh mạng loài khác. Sao nhẫn tâm giết hại sinh mạng loài vật để bổ dưỡng cho thân mình? Thử xem lúc giết gà, nó tất phải cố kêu la bỏ chạy. Chỉ vì chúng ta mạnh nó yếu, không đủ sức đề kháng chống cự, nên phải chịu nhẫn thọ, nhưng lại tích oán trong tâm, đợi đến đời sau, nếu có dịp sẽ báo thù. Hiện tại, các cường quốc dùng các loại vũ khí ác độc, hủy diệt các dân tộc nhược tiểu, cùng việc giết gà đồng nhau không khác.

Quý vị đã là Phật tử, nếu việc gì trái với sự lý, chớ nên làm càn. Phật pháp vốn chẳng có gì kỳ lạ, luôn tuân theo chánh tâm, thuận theo lý đạo.

Có nhiều người thấy tôi tuổi lớn cơ tuần, nên mỗi lần gặp mặt thì tham thảo tìm tòi thần thông tình tự; họ kiểm nghiệm coi tôi có biết đời quá khứ vị lai của người khác hay không, hoặc thường hỏi chiến tranh bao giờ kết thúc, thế giới bao giờ hòa bình! Thật ra, không những thiên ma ngoại đạo, mà ngay cả quỷ thần súc sanh cũng có năm loại thần thông. Những thần thông này, trong tự tánh vốn có đủ, chớ nên để tâm chú ý. Chúng ta học Phật pháp, phải vì việc minh tâm kiến tánh, giải thoát sanh tử, phát tâm Bồ Ðề, hành đạo Bồ Tát. Lời cạn cợt thô thiển của tôi:

- Các việc ác chớ làm. Hãy nên hành các việc lành.

Không nên làm tổn hại người, để lợi mình, mà phải tổn mình lợi người. Phải thường thiết thật hành trì giới; do giới sanh định, rồi do định sanh huệ. Tất cả việc đều tự biết tự thấy, thì việc quy y hôm nay chẳng phí uổng.

Vừa rồi có vài vị hỏi về ý chỉ của kinh Lăng Nghiêm. Thể theo cơ duyên của đại chúng nơi đây, nay lược thuyết đại khái.

Ở Ấn Ðộ, bộ kinh này vốn có một trăm quyển, nhưng tại cõi này, chỉ phiên dịch có mười quyển. Bốn quyển đầu nói về việc kiến đạo. Quyển thứ năm và thứ sáu nói về việc tu hành. Quyển thứ tám và thứ chín bàn về chứng quả của cách tu tiệm thứ. Quyển cuối cùng nói về những vọng tưởng phát xuất từ các ấm ma. Tôn giả A Nan vì đại chúng mà thị hiện hỏi đạo. Ðầu tiên, đức Phật chứng minh các pháp đều do tâm mà sinh ra. Vì tôn giả A Nan thấy Phật có ba mươi hai tướng tốt, như các màu sắc vàng tím hội tụ, nên sanh tâm thích mến. Phật hỏi:

- Những tướng này dùng vật gì để thấy?

A Nan đáp:

- Con dùng mắt để xem thấy tướng hảo thù thắng của Như Lai.

- Tâm mắt trú tại nơi nào?

- Con quán thấy Như Lai, mắt xanh biếc như hoa sen, tại trên mặt của Ngài. Nay con quán thấy bốn căn phù trần, ngay nơi trước mặt. Tâm thức này, thật trú tại trong thân.

Tâm chẳng ở trong, ở ngoài, hay chính giữa. Nếu không chấp trước mọi việc, thì tâm không trụ nơi nào hết. Những vị tu hành, không thể đắc được đạo Bồ Ðề vô thượng chỉ vì không biết hai việc căn bản. Thứ nhất, cội gốc của sinh tử từ xưa đến nay, chỉ vì chúng sanh, dùng tâm phan duyên làm tự tánh của mình. Thứ hai, vô thủy Bồ Ðề Niết Bàn, thể vốn thanh tịnh. Song, ngay nơi tánh thức sáng trong, lại sanh ra các duyên. Do những duyên này, nên chúng sanh quên cội gốc tròn đầy trong sáng. Tuy cả ngày thường mang theo tánh giác mà chẳng tự giác, nên oan uổng đi vào ba con đường ác. Phải biết sanh ra các pháp, vì do tâm hiện. Mọi nhân quả thế giới vi trần, đều do tâm tạo ra. Chúng sanh không thể thành tựu đạo Bồ Ðề, chỉ vì ngộ nhận khách trần phiền não là mình. Sáu trần là màu sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm, pháp. Sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Ðó là mười hai xứ. Lại thêm nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, tất cả cộng thành mười tám giới. Ðất nước gió lửa hợp với không đại, kiến đại, thức đại, làm thành bảy đại. Gom hết lại thành số hai mươi lăm. Từ đây, hai mươi lăm vị Thánh, mỗi vị tự trần thuật nói rõ nhân duyên đường lối tu hành nhập đạo thuở xưa.

Nơi sáu đường luân hồi, dâm dục là gốc. Lưu chuyển trong ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), do ái làm căn bổn. Tôn giả A Nan vì chúng sanh mà thị hiện tướng là tuy bao kiếp tu hành, nhưng không thoát được nạn Ma Ðăng Già. Trong các tội chướng, dâm dục đứng đầu. Vì dâm dục nhiều, tổn hại thân thể, nên giết hại sanh mạng chúng sanh để bổ dưỡng. Những tội ăn cắp nói láo v.v..., cũng theo đó mà phát sanh.

Ngài A Nan thấy ba mươi hai tướng tốt của đức Như Lai, như ánh sáng vàng tím hội tụ, nên đối với sắc đẹp của Ma Ðăng Già, chẳng ưa thích. Trai thích nhìn gái đẹp, hay nghĩ tưởng mình là thân gái. Gái thích nhìn trai, hay nghĩ tưởng mình là thân trai. Những vọng tưởng điên rồ này, cả ngày cứ xoay vần trong tâm niệm. Ví như lúc nhỏ, khi còn ở nhà, chua xuất gia, tôi thường để râu tóc, mặc đồ thế tục. Cả ngày va chạm, nghĩ tưởng những việc thế tục. Tối đến lại mộng thấy cha mẹ nội ngoại, quyến thuộc, bao việc thế tục. Từ khi xuất gia, những việc làm và suy nghĩ, không ngoài việc Phật sụ. Tối ngủ, mơ thấy những sự không ngoài việc niệm Phật, v.v...

Lại nữa, năm loại hành tỏi không thể ăn được, để tránh sự kích thích dục niệm. Trừ dẹp những trợ nhân đó, rồi tu chánh tánh, tinh tấn chuyên cần, tự có thể từ từ thành tựu. Tự mình chuyên cần phấn tấn mà không ỷ lại người khác.

Tôn giả A Nan là hoàng tử, cũng là em Phật. Tôn Giả xả bỏ vinh hoa phú quý, theo Phật xuất gia, và hy vọng Phật sẽ tiếp tay giúp sức, siêu đắc quả vị. Song, nên biết phải tự tu tự chứng, mà không thể nương nhờ người khác. Chúng ta nếu không làm biếng giải đãi, luôn phát tâm cần tu tinh tấn, thì sẽ đạt được thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, đến thập địa, rồi tới địa vị diệu giác, đẳng giác. Ba cõi (Dục-giới, Sắc-giới, Vô-sắc-giới), bảy loài, đều là huyễn vọng, và vốn không ngoài một tâm. Tất cả tánh giác vi diệu trong sáng của chư Phật, cũng không ngoài một tâm. Thế nên, tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không khác biệt. Ðồng Tử Hương Nghiêm cũng có thể gọi là mũi của chúng ta. Bồ Tát Kiều Phạm cũng có thể gọi là lưỡi của chúng ta. Nhân địa, cách thức tu hành của hai mươi lăm vị hiền thánh tuy không đồng, nhưng sự tu hành chứng ngộ vốn không hơn kém.

Hiện tại, những người sơ phát tâm tu đạo, có thể theo pháp tu của Bồ Tát thứ hai mươi bốn và hai mươi lăm, tức là ngài Ðại Thế Chí và Quán Thế Âm, mà hỗ tương dụng công. Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ là vị Phật kế tiếp sau Phật A Di Ðà ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Sau Bồ Tát Quán Thế Âm, ngài Ðại Thế Chí sẽ làm Phật tại cõi đó. Ngài Ðại Thế Chí dùng pháp môn niệm Phật tu hành chứng được viên thông. Chúng ta cũng phải tu tập, niệm Phật để nhiếp thọ sáu căn, đạt được tịnh niệm tương tục, đắc tam ma địa. Mười phương chư Như Lai, đều lân mẫn thương xót chúng sanh, như mẹ thương con. Song, con cứ chạy trốn mãi, thì mẹ nhớ cũng chẳng có ích gì! Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không xa cách. Nếu tâm chúng sanh, nhớ Phật niệm Phật, thì đời này đời sau, quyết định thấy Phật. Bồ Tát Quán Thế Âm từ văn tư tu, nhập tam ma địa; trên hợp với mười phương chư Phật, đồng một lực từ; dưới hợp với chúng sanh trong sáu đường, đồng một bi ngưỡng. Nếu gặp thiện nam tử, thường trì năm giới, thì Ngài sẽ hiện thân nam mà vì người đó thuyết pháp, khiến cho được thành tựu đạo Bồ Ðề. Nếu gặp người nữ, thường thọ trì năm giới, Ngài cũng sẽ hiện thân nữ mà vì họ thuyết pháp, khiến được thành tụu đạo Bồ Ðề. Như thế, hoặc hiện thân trời người, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến thân Phật, ba mươi hai ứng thân, cùng mười bốn lực vô úy, bốn pháp bất tư nghị, trải qua vô lượng kiếp, Ngài độ vô lượng chúng sanh. Chúng sanh vô tận, bi nguyện vô tận. Quý vị hãy tự suy gẫm!

V. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, vào ngày mười tám tháng giêng, năm 1943.

Hôm nay cùng quý vị đàm luận. Ðối với hai chữ khai thị, thật tình tôi rất xấu hổ, không dám đảm nhận. Hư Vân tôi, ngay chính mình cũng chẳng rõ, sao dám hàm hồ dạy người!

Lời Phật dạy trong các kinh điển, nhiều vô số. Những lúc tọa hương ngồi thiền, đả Quán Âm thất, Phật thất v.v... tại các tùng lâm, chư vị ban thủ luân phiên khai thị. Song, bái sám lễ lạy thì không như ngồi thiền đả thất. Khi lễ sám, năm thể phải chạm đất, và ba nghiệp phải thanh tịnh, mà không nên tăng thêm những lời tán ngôn loạn ngữ. Trên đàn sám không ban những lời khai thị. Lúc lễ sám phải quán tưởng: "Người lễ, bậc thọ lễ, tánh không tịch. Cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn. Nay con đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Âm, cảm ứng đạo giao tự hiện tiền."

Thân tâm mình lễ. Phật và Bồ Tát là những vị thọ nhận lễ. Tâm mình vừa lễ, vừa quán tưởng thâm sâu về quá khứ, hiện tại, vị lai, nơi mọi thời, đều không thể đắc được. Tất cả đều không tịch, thì tạng tánh Như Lai sẳn có, tự nhiên hiển lộ. Kinh Kim Cang nói: "Nếu lấy sắc cầu Ta, lấy âm thanh cầu Ta, người này hành tà đạo, không thể thấy Như Lai... Nếu thấy các tướng mà không phải tướng, tức thấy Như Lai."

Ðây là hai ý nghĩa vừa ẩn vừa hiển. Không chẳng phải không và sắc chẳng phải sắc, thì mới là không chân thật và là sắc chân thật.

Chúng ta đều là những người xuất gia. Nơi trong lửa bỏng dầu sôi, nước non loạn lạc, không gặp đạn dược cũng gặp phi cơ. Thật không may mắn! Song, trong cái không may mắn lại có những sự may mắn. Vì sao? Người xuất gia, vốn: "Một bình bát, ăn cơm ngàn nhà. Thân đơn độc, đi muôn vạn dặm."

Song, hiện tại không thể hành được những hạnh này.

Chúng ta phải nên xả bỏ tất cả, cùng kiểm điểm thân tâm. Thân vốn là gốc khổ. Tâm nguyên là nguồn tội. Hiện tại, nếu không nỗ lực tu hành thì đợi đến chừng nào? Một khi mất thân này, thì muôn kiếp khó hoàn phục. Xả bỏ vọng tưởng, thì bản tâm như như; không thể từ bên ngoài mà đắc được. Luôn tinh cần tu trì, sao lo không cắt đứt sanh tử? Nhà Nho có câu: "Từ thiên tử (nhà vua) đến thứ dân, mọi người phải lấy việc tu thân làm gốc."

Tâm người đời hiện nay khác xưa. Họ không biết sự quan hệ giữa chánh trị và tôn giáo. Dùng chánh trị để sửa thân. Dùng tôn giáo để trị tâm. Những ý nghĩa này, họ đều không biết đến. Gần đây, chắc có nhiều vị trí thức biết rõ rằng nếu không nhờ sự nỗ lực nhất chí của chánh phủ và tôn giáo thì không thể cứu tế được thiên tai hoạn nạn trong đại kiếp nầy. Hiện tại, tổng thống cùng các vị bộ trưởng, đồng phát tâm kiến lập pháp hội Ðại Bi Hộ Quốc Giải Trừ Thiên Tai Hoạn Nạn, cũng không ngoài ý này.

Xưa kia, việc kiến lập pháp hội là việc thường. Ðối với pháp hội Thập Luân, Kim Cang v.v..., tôi nhớ không hết, nhưng biết rõ rằng sự dụng tâm tại những pháp hội đó, không giống nhau. Các vị Lạt Ma Tây Tạng gần đây hoằng pháp tại Trung Nguyên rất nhiều. Chánh phủ rất mực tôn sùng kính trọng. Không biết có phải là tín ngưỡng đặc biệt của chánh phủ hay không? Tăng chúng áo xanh (tu mật tông Nhật Bổn), ngày càng lộng hý. Họ phá chùa đuổi tăng áo vàng (tu mật tông Tây Tạng). Tăng chúng áo xanh hay áo vàng, đều là đệ tử Phật. Mật tông được truyền từ Nhật Bổn gọi là Ðông Mật. Mật tông được truyền từ Tây Tạng, gọi là Tạng Mật. Những năm gần đây, Mật giáo tại Trung Quốc được thịnh hành một thời, vì đều có thể hiển hiện bao loại thần thông biến hóa. Song, lúc nhàn rỗi, không chịu thắp hương. Gặp lúc khẩn cấp mới chạy đến ôm chân Phật, thì không thể nào thành tụu được.

Hư Vân tôi đi khất thực khắp nhân gian; những nước lân cận hầu hết đã đến. Tôi vốn là phàm phu, không có thần thông, không biết biến hóa, nên không dám ăn thịt, cũng không dám ăn quá giờ. Có một số người, chẳng hiểu Phật pháp, chưa quên danh lợi, và thường cầu thần thông biến hóa. Tồn trữ những vọng tưởng như thế, chẳng là tà cũng tức là ma. Phải nên biết rằng Phật pháp tại tâm mình, nên không thể đem tâm hướng ngoại cầu pháp. Thần thông phát khởi do trình độ dụng công. Sao khởi tâm hy vọng mong cầu? Dụng tâm như thế, làm sao khế hợp với chân lý vô trụ? Ðức Phật bảo rằng những người này thật đáng thương hại!

Hiện tại, quý vị Bồ Tát đại tâm, phát nguyện tu trì Ðại Bi Sám Pháp, vì muốn hộ quốc tiêu tai, nên yêu cầu Hư Vân tôi ra làm chủ trì. Công đức Hộ Quốc Tiêu Tai, mọi người đều nên thành tâm nhất ý, cùng làm cùng tạo. Chúng ta bái sám, xưng dương thánh hiệu; Bồ Tát Quán Âm linh cảm vô vàn. Duyên lành của ngài Quán Âm đối với cõi này, thật rất thâm sâu. Song, tâm nếu không chân thành thì không thể đạt được cảm ứng. Nếu thành tâm xưng thánh hiệu, thì Bồ Tát Quán Âm sao không tầm thanh cứu khổ? Giữa hai mươi lăm vị thánh trong kinh Lăng Nghiêm, duy chỉ có Bồ Tát Quán Âm là chứng quả vị viên thông vi diệu nhất.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Quán Âm trình bày cách tu chứng viên thông của mình:

- Ðức Phật kia (Phật Quán Âm), dạy con từ văn tư tu để nhập vào tam ma địa. Ngay trong cái nghe, không chạy theo âm thanh của trần cảnh, mà xoay cái nghe trở vào chân tánh (nhập lưu vong sở). Nhập vào liền được tịch tĩnh, khiến hai tướng động tịnh, chấm dứt không sanh.

Thứ nhất, khế hợp và đồng một lực từ với mười phương chư Phật. Thứ hai, đồng một bi ngưỡng với mọi loài chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm thật đại vô úy. Ngài luôn dùng ba mươi hai ứng thân để hóa độ chúng sanh. Kinh lại bảo: "Giáo thể chân thật này, thanh tịnh tại âm thanh."

Niệm danh hiệu của sáu mươi ức hằng hà sa Pháp Vương Tử, cũng đồng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.

Bộ "Ðại Bi Sám Pháp" do đại sư Tứ Minh Pháp Trí soạn. Bi nguyện thật không thể nghĩ bàn. Năng lực cảm ứng cũng không thể nghĩ bàn. Những câu chuyện cảm ứng được ghi trong sử sách rõ ràng tường tận. Sáng tối, năm thể chạm đất lễ sám, ba nghiệp thanh tịnh, thì đoạn được tội giết hại, ăn cắp, tà dâm, tham sân si, và chuyển mười việc ác thành mười việc lành. Tất cả đều phải phù hợp với diệu lý của sám pháp. Lại nữa, phát bốn lời đại nguyện, rồi dùng hương hoa, tự trang nghiêm phước đức trí huệ. Những sự lợi lạc như thế, sao lại không làm? Lời nói là giả, mà hành trì mới là chân. Hôm nay, đại khái đàm luận Phật pháp đôi chút. Phải nhớ rằng đức Phật là đấng trượng phu, mình cũng sẽ như thế. Tự tôn tự quý, thì tự nhiên được cảm ứng.

Ðời vua Khang Hy, hòa thượng Nguyên Thông trụ trì chùa Tây Vực. Ngày nọ, một vị tăng đắp y vàng đến chùa. Nhà vua rất tôn sùng kính trọng, mà bảo hòa thượng Nguyên Thông ra tiếp đãi. Hòa thượng Nguyên Thông bảo rằng đó chẳng phải là tăng hay người, mà là con nhái tinh. Thần thông của nó rất quảng đại. Bấy giờ, gặp lúc trời hạn hán. Nhà vua ra lịnh cho vị tăng mặc áo vàng kia cầu mưa. Quả nhiên có mưa, nên nhà vua lại càng cung kính. Hòa thượng Nguyên Thông bảo:

- Hãy lấy nước mưa mà đem so với cức rái của các con nhái!

Quả nhiên thật giống nhau; tà chánh rõ ràng. Năm mươi ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm, phải biết rõ ràng, bằng không thì sẽ bị chúng chuyển, khiến nhập vào đường ma. Xin đại chúng hãy lưu ý!

VI. Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh vào ngày mười chín tháng giêng, năm 1943.

Chư Bồ Tát! Trong pháp hội này, Hư Vân tôi thật không biết tự lượng sức mình, lại không biết quý vị lên chánh điện, đến tổ đường, làm việc Phật sự, khổ nhọc muôn phần. Tối đến, lại thỉnh quý vị ra niệm Phật, nghe khai thị. Tôi có thật cản trở sự tu hành của quý vị không? Trong lòng tôi còn vài việc, chưa thổ lộ được. Có một số cư sĩ tại pháp hội này, muốn nghe khai thị. Chư Phật Bồ Tát, khó làm mãn nguyện chúng sanh.

Tối hôm qua, tôi đã nói về sự khác biệt giữa bái sám và hành Phật thất, nhưng chưa bàn về những điểm then chốt. Quý cư sĩ đó, phát tâm thật khó ai bì được. Hiện tại, tôi không phải là Hư Vân mà trở thành Hư Danh; thật tình thổ lộ không ra lời. Tôi đã từng nói với thầy trụ trì rằng kỳ pháp hội này, quý vị thọ khổ rất nhiều. Ngày ngày, ai ai cũng tự tu đạo tạo công đức, như dự các tịnh thất và làm công quả, nên không có thời gian nghỉ ngơi. Nơi thường trụ này, không có một mảnh ruộng, miếng ngói. Nếu không làm Phật sự thì không thể thành công. Song, nếu làm Phật sự thì không thể dụng công đả thiền thất. Vì Phật sự quá bận rộn, nên đến tối mới làm lễ Phóng Diệm Khẩu tại đại điện. Thế nên, tại đây tôi phương tiện giảng kinh thuyết pháp trong ban ngày, để quý vị cư sĩ có thể băng sông, trở về nhà sớm. Song, trên đàn sám có bốn mươi chín người bái sám. Họ không thể dừng lại nửa chừng để nghỉ ngơi, mà phải cần có người khác đến luân phiên. Thường trụ lại quá bận rộn, nên hai mươi bốn người không thể xuống đàn.

Bàn về chữ khai thị. Khai tức là khai khải. Thị nghĩa là biểu thị, tức giảng giải việc thiện ác của con người, cùng khai mở bổn lai diện mục của mọi người. Song, sắc tướng vốn chẳng có tướng lớn nhỏ, vuông tròn, phàm thánh, nam nữ, v.v... Phàm tất cả tướng đều là hư vọng. Nếu thấy tướng mà không phải tướng, tức thấy Như Lai. Dẹp hết tình phàm, thật không có giải thoát của chư thánh. Người học đạo phải chân thật, chớ treo đầu dê mà bán thịt chó. Phải tự tầm cầu bên trong, chớ tìm tòi bên ngoài. Lời nói không có nghĩa chân thật, đều giả dối. Hành trì mới là chân thật. Nếu được như thế, thì triển chuyển dây chuyền, từ một người đến nhiều người, từ một nhà đến một quốc gia, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia, toàn thế giới không cần trị mà an.

Không luận tu học pháp môn nào, phải lấy việc trì giới làm căn bản. Nếu không trì giới mà trí huệ lại tinh xảo, thì tất cả việc làm đều là việc ma. Hai mươi lăm pháp môn trong kinh Lăng Nghiêm đều có thể tu chứng viên thông. Vì vậy bảo rằng phương tiện thì nhiều pháp môn, nhưng quy về cội nguồn thì không hai.

Tự mình chọn lấy một pháp môn làm chánh hạnh, còn những hạnh khác thì chỉ làm phụ. Phải tu cả hai phước và huệ. Nếu chỉ tu phước thì sẽ hưởng phước hữu lậu ở cõi trời người. Nếu chỉ lo tu trí huệ, thì sẽ thành trí huệ khô khan. Tu hành mà không đoạn trừ tâm giết hại, đời sau nếu không làm thành hoàng thì sẽ làm thổ địa. Tôi thấy rất nhiều người, nửa ăn chay nửa ăn mặn. Tu học Mật tông lại ăn thịt. Thật rất đau lòng. Hoàn toàn ngược với tâm từ bi. Mạnh Tử nói:

- Nghe âm thanh, không nhẫn ăn thịt của chúng.

Mạnh Tử còn nói như thế, thì huống hồ gì chúng ta đã là Phật Tử! Giựt sanh mạng của loài vật, để thỏa lòng mình sao? Miệng chỉ hưởng được chút ít vị ngon, mà tạo vô biên nghiệp ác. Gì là giữ gì là xả? Gì là nhẹ, gì là nặng? Tôi thấy không ít các người Thích Tử xuất gia thường ăn thịt. Miệng mồm tôi không được hay, mỗi lần thấy những việc như thế thì không thể chẳng nói được. Xin quý vị hãy cố gắng tu hành!

VII. Khai thị tại chùa Kiềm Minh, Quý Dương, vào mồng một tháng hai, năm 1943.

Hư Vân tôi lại y theo lời thỉnh mời của thủ tướng chánh phủ cùng quý đại cư sĩ, để đến đây giảng thuyết và chủ trì pháp hội Ðại Bi Hộ Quốc Tiêu Tai. Vì thời gian có hạn, nên không thể đến các đạo tràng khác bái kiến vấn đáp. Xin hãy niệm tình bỏ qua!

Quý vị đều là các bậc thượng tọa tu hành lâu năm. Ðối với Phật pháp đã từng nghiên cứu tu học thâm sâu, đâu cần nghe nhiều lời của tôi. Song, vì quý vị nhất định muốn tôi ra thuyết giảng, nên không thể chẳng nói vài lời.

Hiện tại, các nước trên thế giới đang gây chiến tranh, giết hại lẫn nhau. Nhân dân đang sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Vì vậy nói: "Nhân dân không biết nương đâu mà sống."

Nơi đây may mắn có hòa thượng Quảng Diệu đang hoằng dương Phật pháp, độ khắp chúng sanh.

Hôm nay, Hư Vân tôi cùng quý vị hợp mặt tại chánh điện này. Thật chẳng phải là nhân duyên ngẫu nhiên. Song, bất quá Hư Vân tôi chỉ lớn tuổi hơn quý vị đôi chút, còn những việc khác chẳng hay ho chút nào.

Sau khi thành lập Dân Quốc, chánh phủ vốn đã chấp thuận, cho tự do tín ngưỡng. Lời di chúc của Quốc Phụ (Tôn Trung Sơn), đã được ban bố rõ ràng. Nhận thấy những tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Gia Tô giáo, Hồi Giáo, đều được chánh phủ bảo hộ. Song, việc phá chùa đuổi tăng, lại xảy ra trong toàn quốc. Bị oan ức, sao chẳng có nơi giải bày? Việc này quý vị hãy suy nghĩ đôi chút. Họ phá chùa đuổi tăng, cố nhiên là không đúng. Nhưng vì vật tự thúi rữa, nên mới sanh ra trùng. Hiện tại, các Phật tử phần nhiều bỏ bê trách nhiệm, không biết rằng nếu là người Phật tử thì phải luôn làm Phật sự. Phật sự là gì? Phật sự tức giới định huệ, là việc mà Phật tử phải tu hành. Nếu nhận chân tu trì, thì tự nhiên sẽ biết cách cảm hóa bọn ác ma, chuyển chúng thành những người hộ trì Phật pháp.

Ngày nay, các tăng ni phạm luật pháp thế gian, khiến làm lụy đến chư Phật. Chánh quyền chiếm chùa miếu, đuổi tăng ni. Họ không biết chùa chiền đâu có can hệ chi với những tăng ni bất hảo! Một đảng viên bất hảo, đâu có can hệ gì với toàn đảng. Nếu một tăng ni bất hảo thì đi phá chùa chiền, còn nếu một đảng viên bất hảo thì có nên hủy diệt toàn đảng không? Lý này, tôi hy vọng mọi người đều nên hiểu rõ. Mọi người hãy giúp một tay, lật đổ bồn cát này. Chớ nên bảo người Quý Châu chỉ lo Phật pháp ở Quý Châu. Phải nên biết Phật giáo là một hợp nhất. Mọi người không nên phân biệt oán thù hay thân thuộc, như đất chẳng phân biệt biên cương. Phải nên vì chủ nghĩa đại đồng chân chánh. Phải tự nhớ rằng sanh tử là việc lớn. Từ văn tư tu, nhập tam ma địa. Mọi người phải tự tinh tấn tiến bước. Chớ để một đời trôi qua vô ích.

VIII. Khai thị tại Ðại Hội Hoan Nghinh Các Giới Chức, tại hội quán Trung Sơn, Quảng Châu, vào ngày mười tám tháng tám, năm 1946.

Lần này, bốn chúng cùng quý vị đại hộ pháp tại các tỉnh hội mời Hư Vân tôi đến đây để hoằng dương Phật pháp. Hư Vân tôi tri thức cạn cợt, thẹn thùng chẳng dám đảm nhận. Hôm nay cùng quý vị đại biểu phân rõ ba điều: Thứ nhất, cung kính hoan nghinh quý vị đến đây. Thứ hai cám ơn quý vị đã cúng dường trai tăng. Thứ ba, không thể ở đây lâu được. Do quý vị đại biểu yêu cầu, Hư Vân tôi mới xuống núi. Ðến đây, lại được sự ân cần tiếp đãi của quý vị. Chùa Lục Dong nhỏ hẹp. Người đến đây không phải ai ai cũng được tiếp đón nồng hậu. Hôm nay, đại chúng đồng thỉnh tôi đến đây giảng vài lời. Có vị bảo rằng người như Hư Vân tôi thật rất khó gặp. Thật ra, tôi chỉ là một cây gỗ già nua mục nát rất vô dụng, chẳng có tài cán, lời hay ho, hoặc pháp gì để nói.

Hôm nay, các giới chức đồng phát tâm kiến lập pháp hội Thủy Lục, để truy điệu các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn. Vì vậy, tôi sẽ giảng thuyết sơ về duyên khởi của sự kiến lập đàn tràng Thủy Lục.

Sao gọi là Thủy Lục? Thủy tức là nước tại sông biển ao hồ. Lục tức là đất đai tại núi non, cao nguyên, đồng bằng. Thủy Lục (đất nước), bao hàm cả hư không. Nếu là vật có hình tướng thì không vượt ngoài ba vật này (đất, nước, hư không). Ðấng Như Lai của chúng ta khởi tâm đại từ bi, cứu tế khắp loài hữu tình, nên mới lập ra pháp môn này. Duyên khởi của pháp hội Thủy Lục là khi tôn giả A Nan tu tập thiền định trong rừng, có một con quỷ chúa, đến cầu xin cứu độ. Tôn giả A Nan trở về núi Linh Thứu, cầu Phật dạy bảo. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nhân đó mà thuyết pháp Thủy Lục. Con quỷ chúa vốn là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì thương xót chúng sanh trên đất liền đang chịu bao thống khổ, và muốn giúp cho âm hồn trong cõi địa ngục U Minh, được vãng sanh lên cõi Cực Lạc, nên thiết pháp siêu độ.

Pháp hội này khởi đầu từ đời vua Lương Võ Ðế, ở nước Tàu. Nhà vua phát tâm Bồ Ðề rất mực chân thành, mà cung thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn tràng "Thủy Lục", để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử. Sắp đặt đèn cầy xong, vua Lương Võ Ðế lễ một lạy, kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm một lạy. Khi đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời mưa hoa báu. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế.

Ðời Ðường, tại chùa Pháp Hải, thiền sư Anh Công lại kiến lập đàn tràng Thủy Lục, để cầu siêu độ cho vua Tần Trang Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị, Chẩn Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu thăng cõi trời. Cư sĩ Tô Ðông Pha đời Tống, đại sư Liên Trì đời Minh, v.v..., cùng chư thánh hiền bao đời, bổ sung thêm vào, khiến cho nghi thức lập đàn tràng Thủy Lục ngày một hoàn bị. Muôn pháp do tâm tạo. Mọi người đều thành tâm, tất sẽ có cảm ứng.

Hư Vân tôi thể theo lời khẩn thỉnh của các vị đại hộ pháp mà làm pháp chủ cho đàn tràng này, thật khó từ chối được.

Các chiến sĩ trận vong trong thời kỳ kháng chiến, xả thân báo quốc, nhưng hồn họ vất vưỡng, không nơi nương tựa. Vì tôn sùng ân đức này, chúng ta kiến lập đàn tràng siêu độ cho họ. Nghĩa dân bất khuất, lưu lạc đường hoang, nhà tan người mất, không hàng phục quân địch, trung thành vì nước. Cô hồn vô chủ, lang thang khắp nơi. Lại có những vong hồn uổng tử, chết vì bị trúng đạn, xe cán, bịnh dịch, chết đuối, chết oan v.v... Chúng ta phải đều cầu siêu độ hết, để an ủi chúng sanh ở cõi u linh. Kẻ chết được an, người sống được ích lợi, tức làm lợi ích khắp cõi dương và cõi âm.

Ðây là lý nhân quả tuần hoàn. Xoay lại đạo lý nhân tâm, không ngoài các việc ác chớ làm, phải hành theo những việc lành. Bao việc khổ sở trên thế gian, đều do đã trồng nhân xấu đời trước. Nếu tán tận lương tâm, bỏ quên hiếu để trung tín, lễ nghĩa, khiêm, sĩ, cứ làm càn làm bậy, thì khiến lụy đến người hiền, và thế giới vẫn còn loạn lạc. Ðất nước vừa được trùng quang độc lập, phải cực lực hưng thiện dẹp trừ việc xấu, cải ác theo lành, thì mới không bị nước ngoài xâm lăng. Nếu không lo chuyện đại cuộc, mà vẫn cứ khởi nội loạn, thì nhân dân không biết sẽ chết nơi nào. Lúc này, nếu người có lương tâm, phải sớm giác ngộ, biết đoàn kết, giải trừ kiếp vận cho đất nước. Nước Tàu từ lúc Hoàng Ðế khởi binh đánh vua nước Cửu Lệ, cho đến ngày nay, chiến tranh mãi không dừng.

Nếu muốn hòa bình mãi mãi, thì mọi người phải nên phát tâm Bồ Ðề, và tâm đại từ đại bi. Bồ Ðề là chữ Phạn, nghĩa tức là giác. Giác tức là đất tâm sáng chiếu. Sự khác biệt giữa chư Phật và chúng sanh là việc giác ngộ hay chưa giác ngộ. Giác ngộ trên thế gian, tất cả các pháp đều do duyên sanh như mộng như huyễn, và thể tánh vốn không, chẳng bị nhiễm ô, nên gọi là thánh hiền. Bất giác tức là vô minh. Một khi vô minh khởi lên thì mê mờ sự lý. Từ tự tâm của chúng ta, sanh ra mười pháp giới. Mười pháp giới đều do tâm tạo. Mười pháp giới gồm có bốn pháp giới thánh hiền và sáu pháp giới phàm phu. Bốn pháp giới thánh hiền là pháp giới của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Gọi là bốn thánh hiền, vì các ngài đã vượt ngoài ba cõi, không còn thọ luân hồi. Nếu phân biệt thì giữa bốn pháp giới thánh hiền, có phân sự cao thấp. Pháp giới tối thượng tức là pháp giới của chư Phật. Kế đến là pháp giới của Bồ Tát, rồi đến pháp giới của Duyên Giác, và cuối cùng là pháp giới của Thanh Văn. Sáu pháp giới phàm phu vẫn còn nằm trong biển khổ luân hồi là pháp giới của trời, người, A Tu La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Pháp giới của cõi trời có ba mươi hai tầng trời. Sau khi thọ hết phước báu, chư thiên vẫn bị luân hồi như thường. Con người từ đế vương, tể tướng cho đến nông dân, công thương, sĩ thứ, đều thọ hết tất cả khổ của sanh già bịnh chết. Loài A Tu La có phước nhưng không có đức như chư thiên nên cuối cùng vẫn phải bị hoại diệt. Trong loài súc sanh, cũng có sự khác nhau về việc hưởng lạc và thọ khổ, như loài rồng phượng, sư tử, lân giác thì thường hưởng lạc, và ít thọ khổ hơn loài trùng kiến thấp sanh, hóa sanh. Khổ nhọc an lạc trong loài quỷ cũng không đồng. Các quỷ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng, đều hưởng lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỷ cô hồn vô chủ, tức trong trăm ngàn năm chúng vẫn chưa được siêu thoát. Khổ nhất là loài ngạ quỷ. Loài địa ngục, danh tánh rất nhiều, thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng.

Mười pháp giới không ngoài một tâm. Giác ngộ hay chưa giác ngộ cũng từ tâm này ra. Ðức Phật của chúng ta thật rất đại từ đại bi. Ngài giảng kinh thuyết pháp để khiến cho mọi người phát tâm Bồ Ðề. Phát tâm Bồ Ðề cũng sai khác. Bậc lớn là phát tâm tu hành thành Phật. Bậc trung là phát tâm tu hành thành Bồ Tát. Bậc nhỏ là phát tâm tu hành thành Thanh Văn Duyên Giác. Chư thiên cũng có vị phát tâm Bồ Ðề. Do sự phát tâm rộng hẹp, lớn nhỏ, nên việc thành tụu đạo quả mau chậm không đồng. Chúng ta đang sống trong cõi người, phải nên phát tâm Bồ Ðề rộng lớn, cứu độ chúng sanh, thay họ chịu khổ. Lại nữa, nên nguyện rằng sẽ dẹp trừ khổ lụy và khiến chúng sanh được siêu thăng. Nếu người người đều phát tâm như thế, thì cõi nhân gian sẽ không còn khổ đau.

Có người hỏi tôi về thần thông biến hóa, thế giới chừng nào hòa bình, vận nước tốt xấu như thế nào? Song, tôi vốn là phàm phu, không biết việc chi, lại chỉ là cây gỗ già nua khô mục, không thể chạm khắc. Bất quá, so với quý vị thì ăn cơm hơn nhiều năm, ngu si hơn nhiều năm, nghe các ngôn ngữ lời nói nhiều hơn, xem nhiều quyển kinh hơn. Nhận biết làm người là khổ đau, nên tôi mới nói ra những lời này. Quý vị chớ nên hỏi việc quốc gia có hòa bình an lạc hay không, mà chỉ nên tự hỏi tâm địa của mình. Ngày đêm sáng tối, chớ nên phân biệt quan dân, nam nũ. Tự khắc phục tâm tánh, chớ để tự tâm mê mờ. Phải thật hành hiếu để trung tín, và cùng mọi người hỗ tương khích lệ. Trung thành quốc gia, giáo dục con cái, hòa thuận vợ chồng, lễ kính thân bằng quyến thuộc bà con láng giềng, giao hảo với bạn hũu đều có tín nghĩa. Nếu người người làm được như thế, thì thế gian tự nhiên thái bình. Ngược lại, nếu biết sai mà không sửa đổi, thì khổ não tất sẽ chạy theo, không thể tránh được. Dầu nhân tâm có phức tạp như thế nào, vẫn tự giữ bổn phận của mình, không chìm đắm trong muôn ngàn mong cầu.

Hôm nay, tôi bàn đến việc nước nhà bị ngoại xâm. Từ đời Thanh, niên hiệu Ðạo Hàm đến nay, người ngoại quốc đến nước Tàu, không phải hoàn toàn muốn chiếm đất đai, mà chỉ có mục đích quan trọng nhất là thông thương. Vì tiền tài lợi lộc nên mới muốn thông thương. Chúng ta phải tự giữ bổn phận của người quân tử. Quân tử không cầu an, ăn không cầu no, mến đạo không sợ nghèo, chẳng ham hưởng nhàn. Lịch sử mấy ngàn năm đều có những bậc quân tử như thế. Tại sao hiện nay lại không có được những vị như vầy? Nếu mọi người đều đồng tâm nhất chí, giữ bổn phận của mình, dùng đồ nội hóa, thì người ngoại quốc không thể mưu đồ lợi ích gì cả, và tự nhiên sẽ không sanh tâm xâm lược. Vàng bạc tiền tài nếu không mang ra nước ngoài thì dân giàu nước mạnh, mà không cần phải dùng đến máy bay, bom đạn.

Hiện tại, con người tham dục vô cùng. Ai ai cũng đều bỏ quên, khinh rẻ học đạo đức làm người. Kẻ có lương tâm, ưu sầu sống ẩn dật, vì sợ không có cách dạy bảo kẻ hậu lai, nhưng cũng không tránh được kiếp đao binh chiến nạn. Chúng ta chớ bị xoay chuyển bởi truyền thống phong tục của người thế gian; phải rõ nhân quả, biết báo ứng; trồng nhân xấu tức gặt quả ác; cố đề xướng đạo đức. Thế nên, nhà nào tích tụ hạnh lành, thì luôn có việc vui, và tự nhiên được long thiên ủng hộ, khiến con cháu đầy đàn sung túc; người người nếu an phận thủ thường, thì quốc gia cũng nhờ đó mà được thái bình an lạc.

Hư Vân tôi tri thức cạn cợt, nay chỉ nhờ duyên khởi của thắng hội tế trai, lược nói đại khái, khiến quý vị thêm mệt nhọc.

IX. Khai thị tại Ðông Liên Giác Uyển, Hồng Kông, năm 1947.

Tuy cơ duyên khó gặp, nhưng bảo rằng tôi nói lời khai thị, thì thật rất hổ thẹn. Quý vị thiện tri thức! Nhân duyên tới Quảng Châu lần này của tôi là do sự thỉnh mời của tướng quân Trương Phát Khuê và chủ tịch La Trác Anh, đến đây kiến lập pháp hội Thủy Lục, để cầu siêu độ cho các vong hồn chiến sĩ, đồng bào tử nạn trong đại chiến thế giới lần thứ hai. Lại vì ước hẹn với hội Phật giáo tại Hồng Kông, cùng muốn gặp gỡ các đệ tử hộ pháp, nên nay tôi mới đến đây. Hôm nay gặp quý vị tại pháp đường, thật là một cơ duyên khó được. Nếu nói khai thị pháp yếu, tôi cảm thấy rất xấu hổ muôn phần. Thứ nhất ngôn ngữ không thông, mình người ngăn cách. Thứ hai, tự không thể khai thị cho chính mình, sao dám nói đến việc khai thị cho người? Thế nên chỉ có thể cùng quý vị tùy duyên mà đàm luận.

"Thường nghe được Phật pháp, người Hồng Kông quả thật có phước báu."

Chúng ta là đệ tử Phật, biết rõ Phật pháp khó được nghe. Song, tại Hồng Kông, thường có chư vị đại pháp sư từ các đạo tràng Phật giáo khắp nơi, qua đây giảng kinh giảng luận. Sao không thể bảo là người Hồng Kông có phước báo nhiều? Pháp sư giảng kinh nhiều; người hiểu rõ giáo lý cũng nhiều. Song, trong việc hoằng pháp, điều trọng yếu là phải dạy người chẳng nên chấp trước hình tướng bên ngoài. Kinh nói: "Ðối với tất cả vật có hình tướng, đều là hư vọng."

Kinh lại bảo: "Chúng sanh trên cõi đất này, đều có đầy đủ trí huệ phước đức của Như Lai."

Chúng sanh đều đầy đủ đức tướng trí huệ phước đức của Như Lai, nhưng chưa có thể thành Phật, chỉ vì trần lao phiền não làm mê hoặc. Phước đức trí huệ của Phật đà viên mãn tròn đầy; chân tâm thường trụ không còn bị mê hoặc. Thường tức là bất biến. Trụ tức là bất động. Chân tức là không giả dối. Bất biến, bất động, không giả dối, này giác ngộ liễu tri được hết tất cả pháp, nên gọi là chân tâm thường trụ.

"Khởi hoặc tác nghiệp, tạo vô lượng bịnh khổ."

Chúng sanh vì mê mờ chân tâm thường trụ, nên khởi hoặc mà tạo nghiệp. Trong bân khuân rối rít, hiện ra vô lượng thống khổ. Ðại Thừa Khởi Tín Luận nói: "Vô minh bất giác sanh ba tế. Cảnh giới do duyên khởi thành sáu thô."

Thô tức là tướng sự vật có thể thấy được. Hiện tượng trước mắt trên thế gian như tham sân si, cùng bao nghiệp ác giết hại, ăn cắp, tà dâm, nói láo, v.v... đầy dẫy khắp cả. Do những nghiệp ác này, chúng dẫn dắt chúng ta lưu chuyển thọ quả báo, cho đến có chúng sanh tương tục, thế gian tương tục. Truy cứu nhân duyên luân hồi, biết rõ chỉ vì tâm mê chấp ngoại cảnh. Nếu thường giác ngộ, bỏ vọng xoay về chân, thì sẽ tiêu diệt bao thống khổ của dòng sanh tử luân hồi.

Vì sao có tham sân si khiến sanh khởi những nghiệp ác, giết hại, ăn cắp, tà dâm?

"Nếu tâm mọi người đều thanh tịnh, thì thế giới sẽ được thanh bình, và nhân dân được an lạc."

Như trong một gia đình, cha mẹ luôn thương mến ái hộ con cái, trai lẫn gái. Vì có ái nên có tham. Vì tham đắm ái dục này, nên thường thích hưởng thụ những việc sung sướng. Vì tham cầu không được, nên tâm sân hận nổi lên. Tâm sân nổi lên hừng hực nên khởi tranh đấu. Việc nhỏ thì nhà này cùng nhà khác tranh. Việc lớn thì nước này cùng nước khác tranh, rồi khởi bao chiến tranh khốc liệt. Nếu muốn thế giới hòa bình nhân dân an lạc, thì mỗi người phải tự thanh tịnh thân tâm. Có tham sân si cũng như người có tâm bịnh. Nếu muốn dẹp trừ tâm bịnh này, thì phải y theo lời chỉ bảo, rồi dùng toa thuốc vi diệu của thầy thuốc. Ðức Phật là vị lương y, trị tâm bịnh cho tất cả chúng sanh. Tất cả Phật pháp đều là những toa thuốc vi diệu. Tâm bịnh của chúng sanh có rất nhiều loại, nên phải có nhiều pháp môn để trị liệu.

"Học Phật pháp phải nên chú ý phần thực hành."

Nếu tin tưởng sự chẩn bịnh và toa thuốc của thầy thuốc, rồi tự dùng thuốc đó, thì bịnh tất sẽ tiêu trừ. Ngược lại, tuy tin thầy thuốc và toa thuốc vi diệu, nhưng lại không uống, thì bịnh vẫn y nhiên còn mãi. Cũng như thế, người tu học Phật pháp, muốn tự thanh tịnh thân tâm thì phải chú trọng phần thực hành. Vì tâm bịnh của chúng sanh không đồng, nên Phật thiết lập ra bao loại pháp môn. Ðối với người có tâm sân hận nặng nề thì dạy tu quán từ bi. Trị tâm tán loạn thì dạy tu chỉ quán. Trị bịnh nghiệp chướng nặng nề thì dạy niệm Phật. Ðức Như Lai thuyết ba tạng kinh điển, mười hai phần giáo, mà không thiên vị gì là trọng (nặng), gì là khinh (nhẹ); thật không thể nghĩ bàn!

"Bất ly bổn tông, chuyên tâm tín lại."

Chỉ nên chọn lựa pháp môn nào thích hợp cho chính mình, rồi dùng pháp môn đó làm chính, còn những pháp môn khác thì làm phụ. Chuyên môn tu học, đi đứng nằm ngồi, không rời tông chính. Ví dụ, niệm Phật thì lúc nào cũng không quên niệm. Kinh nói: "Thọ trì danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa số chư Bồ Tát, cũng đồng như nhất tâm niệm một danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát. Công đức trì niệm này, thật không khác biệt."

Vì miễn cưỡng, muốn khích lệ chúng sanh chuyên tâm tin tưởng tông này, nên đức Phật mới thuyết như thế. Người học Phật, nếu không biết gì là chủ bạn, và không chuyên tu học, thì kết quả nhất định sẽ không đạt chi cả.

"Nỗ lực phá trừ tất cả vọng tưởng."

Lại nữa, người học Phật phải y theo giới luật Phật chế. Giới là cội gốc của đạo Bồ Ðề vô thượng. Nếu y theo giới luật của Phật chế thì không luận tham thiền, niệm Phật, giảng kinh, v.v... tất cả đều là Phật pháp. Nếu không y theo giới luật Phật chế mà cuống quẩn tham thiền, niệm Phật, giảng kinh, thì cùng đạo cách xa muôn trùng, và dễ dàng lạc vào ngoại đạo. Người tu hành học Phật, chớ hướng ngoại tìm cầu, chỉ nên tự trừ khử nghiệp chướng, thì sẽ không lưu chuyển trong dòng sanh tử. Nếu cắt đứt được dòng sanh tử thì không cần hành trì chi nữa. Kinh nói: "Phật thuyết hết thảy pháp, để đối trị hết thảy tâm. Nếu không có tất cả tâm, thì không có tất cả pháp."

Tâm này chỉ cho tâm vọng tưởng. Ý của đoạn kinh này là nếu không có bịnh thì cần gì đến thuốc.

Lại nữa, người học Phật phải có đầy đủ niềm tự tin. Trong kinh Phạm Võng, đức Phật nói:

- Ta đã thành Phật. Các ông trong tương lai cũng sẽ thành Phật. Phải có niềm tin như thế, thì giới phẩm mới đầy đủ.

Ðoạn kinh này bảo rằng nếu người người tự tin là mình có đầy đủ đức tánh của chư Phật, thì đời tương lai sẽ thành Phật. Vì thế, phải nỗ lực giải trừ hết tất cả vọng tưởng khách trần.

"Lại như một tuồng kịch, đời người vốn là mộng huyễn."

Phải tự tin tâm mình vốn là Phật. Tất cả phiền não, tất cả tướng, tất cả chướng ngại, đều là vọng tưởng điên đảo. Do đó, người tu đạo chớ nên chấp trước, phải xả bỏ hết tất cả. Vì thế bảo rằng vạn pháp đều là không, chẳng chứng đắc một pháp gì. Kinh Kim Cang nói:

"Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng huyễn, như bong bóng nước

Như sương mai, như điện chớp

Phải nên quán sát như thế."

Tại sao tất cả pháp hữu vi trên thế gian đều như mộng huyễn, không thật? Lấy một ví dụ để hiểu rõ ràng. Như trong một tuồng kịch cải lương, khi đánh trống khởi nhạc lên, các nghệ sĩ nam nữ già trẻ, y theo vai tuồng của mình mà lên sân khấu diễn xuất. Trong khi diễn xuất, có bao tình tiết vui buồn, nóng giận, ghen ghét, v.v... Có người đóng vai làm Hoàng Ðế, oai phong lẫm liệt, nhưng khi xuống sân khấu thì trở lại làm người dân bình thường. Khi lên sân khấu thì diễn xuất bao cảnh giết người phạm pháp, hung ác, cùng bao cảnh tượng kinh hoàng khủng khiếp, hay ưu sầu buồn bã. Song, khi xuống sân khấu thì cười bảo:

- Chỉ đóng tuồng thôi.

"Phải nên hiểu rõ, vì sao có khổ đau sung sướng?"

Khi diễn tuồng thì những tình tiết trên sân khấu trông giống như thật, nhưng lúc hạ màn thì chẳng có một tình tiết nào là thật cả. Chúng sanh cũng như thế. Lúc chưa cắt đứt hết phiền não thì vinh hoa phú quý, vui buồn giận tức, xuất hiện rõ ràng. Ai ai cũng vốn là Phật, giống như người đóng kịch. Lúc lưu chuyển theo phiền não, cũng giống như đang đóng tuồng trên sân khấu. Phải nên hiểu rõ cảnh tượng thế gian giống như kịch trường sân khấu. Ðược lên tận thiên đường, chưa phải là vui. Bị đọa xuống địa ngục chẳng phải là khổ. Người nam vốn chẳng phải nam. Người nữ vốn chẳng phải nữ. Phật tánh đồng một thể. Người thế gian không biết, trong mộng tự phân biệt rằng đây là mình, đây là người, đây là thân, đây là oán, mê hoặc không ngừng nghỉ. Người xuất gia tuy xả bỏ thân bằng quyến thuộc, nhưng vẫn phân biệt chấp trước mê hoặc, rằng đây là chùa viện, là thầy, là đệ tử, là pháp hữu, và là bạn thân của tôi.

"Bỏ vọng xoay về chân. Tự lợi chính mình và làm lợi ích cho người."

Người tại gia bị ái dục thế tình làm mê mờ. Người xuất gia cũng bị pháp hũu, và pháp quyến thuộc làm mê hoặc. Những người như thế, vẫn chưa đắc được giác ngộ chân thật. Nếu cố gắng thoát ly hết tất cả mê hoặc, bỏ vọng xoay về chân thì mới thành Phật. Do đó, Lục Tổ đại sư khi nghe đến đoạn "ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" trong kinh Kim Cang, liền đột nhiên đốn ngộ. Tám chữ này, nếu dùng ngôn từ để giải thích thì không thể được, mà nội tâm phải lãnh hội. Chân lý Phật giáo tuy không thể dùng ngôn ngữ để biểu thị, nhưng nếu phế bỏ hoàn toàn thì không thể được. Phải y theo văn tự mới có thể hiểu rõ nghĩa lý. Ngày nay, những người học Phật, phải nghiên cứu tất cả giáo lý, nhưng vẫn lấy sự hành trì làm căn bản, rồi hoằng dương Phật pháp, khiến ngọn đuốc chánh pháp mãi mãi tiếp tục lan truyền.

"Tương thử thâm tâm phụng trần sát. Thị tắc danh vi báo Phật ân", tức dùng thâm tâm này để phụng sự chúng sanh như số cát vi trần. Ðây gọi là báo ân chư Phật.

Hy vọng tất cả người học Phật, nên lấy hai câu này làm tiêu chuẩn cho việc tự lợi và lợi người.

 

1 2 3 4 5 6

Trang Nhà

Về Ðầu Trang