HTHuVan.jpg (44708 bytes)

Pháp Ngữ của Thiền Sư Hư Vân

 

1 2 3 4 5 6

XXII. Phương tiện khai thị tại núi Vân Cư, năm 1955.

20/ Ngày hai mươi sáu tháng tư.

Sống trong ba cõi, chịu luân hồi nơi sáu đường. Trong sáu đường, có ba đường lành và ba đường ác. Trời, người, A Tu La là ba đường lành. Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là ba đường ác. Mỗi loài trong sáu đường, đều có muôn loại phẩm vị, tôn quý ti tiện, khác nhau. Kinh nói: "Chư thiên, tuy cùng dùng thức ăn, nhưng tùy theo phước đức của mỗi thiên chúng, mà màu sắc thức ăn có khác nhau. Bậc thượng thấy thức ăn màu trắng. Bậc trung thấy thức ăn màu vàng. Bậc hạ thấy thức ăn màu đỏ."

Chư thiên cõi Dục giới vẫn còn dâm dục. Trời Tứ Thiên Vương dâm dục như người thế gian. Chư thiên cõi trời Ðao Lợi chỉ ôm nhau âu yếm, liền thành sự dâm. Tại cõi trời Dạ Ma, chư thiên nắm tay nhau, bèn thành sự dâm. Chư thiên cõi trời Ðâu Suất mỉm cười với nhau, thì thành sự dâm. Chư thiên cõi trời Hóa Lạc ngó nhìn nhau, thì thành sự dâm. Chư thiên cõi trời Tha Hóa vừa nháy mắt nhau, thì thành sự dâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Sáu cõi trời như thế, hình tướng tuy không động, nhưng tâm đã giao hợp. Vì vậy, nên gọi là Dục giới."

Cõi Sắc giới không có dâm dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chư thiên ở mười tám cõi trời, hành hạnh đơn độc, không giao hợp, nhưng chưa hết phiền lụy vì sắc thân, tức sắc thể vi tế, nên gọi là cõi Sắc giới. Tuy không có sắc thể thô kệch, nhưng vẫn còn sắc tướng vi tế."

Kinh Tịnh Danh Lưu bảo: "Nếu không hiểu giáo nghĩa, thì cho rằng cõi Vô Sắc không có sắc tướng. Nếu hiểu giáo nghĩa, biết cõi Vô Sắc vẫn còn có sắc tướng."

Kinh Niết Bàn nói: "Sắc tướng của cõi Vô Sắc, Thanh Văn Duyên Giác chẳng biết được."

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nơi bốn cõi trời Không Thiên, thân tâm diệt tận, nhưng định tánh vẫn hiện tiền, và không có sắc tướng của nghiệp quả. Từ đó cho đến lúc mạng chung, được gọi là sống trong cõi Vô Sắc."

Luân hồi trong ba cõi, dâm dục là căn bản. Qua lại sáu đường, ái dục là cội gốc. Có dâm dục, tức có sanh tủ. Ðoạn dâm dục, tức đoạn sanh tử. Ba cõi sáu đường, thân lượng thọ mạng, dài ngắn không đồng. Chư thiên cõi trời phi phi tưởng xứ, thọ mạng dài cả tám mươi ngàn đại kiếp, mà vẫn chưa đoạn dứt luân hồi sanh tủ. Ba cõi không an, giống như nhà lửa. Chúng ta nếu muốn vượt khởi nhà lửa, thì phải dụng công tu hành cho hay.

21/ Ngày hai mươi bảy tháng tư.

Hôm nay, tôi có việc muốn phó chúc cho quý vị. Mấy ngày gần đây, tín chúng các nơi đến hỏi rằng chùa mình có truyền giới không. Mọi người nên biết, chỗ tôi ở chỉ là am tranh. Vì quý vị có duyên, nên cùng trú một nơi. Hiện tại, phải hưởng ứng lời hiệu triệu của chánh phủ, tức tự làm tự ăn. Nếu quá nhiều người, việc cung ứng thức ăn không đủ, vì mua lương thực không được. Quý vị chớ đưa tin ra ngoài, bảo rằng nơi đây có truyền giới, vì chùa này không thể chứa nhiều người. Tân giới tử của bổn tự, yêu cầu tôi ra thuyết giới. Nhận thấy thời tiết nhân duyên, có thể thuyết giới phương tiện, nhưng không thể hội tập các tân giới tử ở những nơi khác đến. Nếu quá nhiều người, nơi ăn chốn ở sẽ thành vấn đề lớn. Hiện tại, chúng ta rất bận rộn vì công việc đồng áng, như phải gieo lúa, cùng bao việc khác. Vì ngày ngày phải ăn uống, nếu không dự bị thì không có đủ lương thực để dùng. Loài chuột còn biết dự trữ lương thực. Chúng ta cũng phải tính toán, tồn trữ lương khô. Thời giờ trôi mau, bỗng chốc đã qua mùa hè. Cuối hè, ban ngày từ từ ngắn dần. Ban đêm lại từ từ dài thêm. Khí dương giảm bớt.

Thân người cùng trời đất hòa hợp với nhau. Thân tâm động tĩnh, đi đứng nằm ngồi, phải tùy thời mà điều phục. Trong động có tĩnh. Trong tĩnh có động. Trong động chớ để động chuyển. Trong tĩnh chớ để tĩnh chuyển. Ðịnh là thể. Huệ là dụng. Chân đế là tĩnh. Tục đế là động. Hai đế đều viên dung vô ngại, và đồng với khí chất trời đất. Tu hành học đạo, không ngoài việc điều phục động tĩnh. Ðộng tĩnh nếu như pháp thì tâm tùy cảnh sẽ được an lạc. Nếu động tĩnh chẳng như pháp thì sẽ bị cảnh chuyển. Ngày vui rất ngắn, mà ngày buồn lại rất dài. Thời gian dài ngắn, đều do tâm tạo. Tất cả khổ vui, đều tùy theo cảnh chuyển.

Xưa kia, trên núi Cổ Sơn, có một vị tăng bị bịnh ghẻ lở, khiến ai ai cũng ghê tởm lánh xa. Thấy vậy, một thiền sư trẻ, tuổi chỉ ngoài hai mươi, khởi tâm thương hại, thường ân cần giúp đỡ chăm sóc vị tăng bị bịnh kia. Khỏe mạnh trở lại, vị bịnh tăng bèn cáo từ thiền sư trẻ:

- Thật đa tạ tấm lòng từ bi tử tế của Thầy. Nhờ Thầy ân cần giúp đỡ, bịnh đã lành lặn, nếu không thì tôi đã chết lâu rồi. Xin thỉnh Thầy đến ngôi chùa nhỏ của tôi.

Thiền sư trẻ đáp:

- Tôi đi tham bái núi Ngũ Ðài, rồi trở về sẽ ghé thăm Thầy.

Tham bái núi Ngũ Ðài xong, thiền sư trẻ trở lại, tìm kiếm ngôi chùa của vị tăng bịnh thuở xưa. Vừa đến chùa, thiền sư trẻ đã thấy vị bịnh tăng kia đang đứng trước cửa nghinh đón, bảo:

- Tôi đợi đã lâu, mà nay Thầy mới trở về!

Nói xong, liền mời thiền sư trẻ vào chùa uống trà. Thiền sư trẻ bảo:

- Hôm nay, trên đường đi, tôi chưa ăn uống gì cả.

Vị bịnh tăng bảo:

- Xin Thầy chờ một chút. Lát nữa tôi sẽ mang thức ăn ra.

Nói xong, vị bịnh tăng dẫn trâu ra đồng cày ruộng, nhổ mạ, rồi đem về chùa bầm nhuyễn, hòa cùng với bột gạo, nấu thành cháo. Trong khoảnh khắc, thức ăn được dọn lên. Ăn xong, thiền sư trẻ liền cáo từ, nhưng vị bịnh tăng nài nỉ, lưu giữ Thầy ở lại ngủ qua đêm. Hôm sau, trời hừng sáng, thiền sư trẻ liền rời khỏi chùa, rồi xuống núi, để trở về chùa mình. Tuy thiền sư trẻ chỉ ngủ một đêm tại am tranh của vị bịnh tăng, mà thời thế ở nhân gian đã đổi thay; triều đại mới đã được dựng lập, trải qua nhiều năm tháng.

Ngày ngày gặp những cảnh khổ não, chúng ta khó lòng vượt qua. Thiền sư trẻ kia lên núi trú qua một đêm, dùng một buổi cơm rồi xuống núi, thì đã thay đổi thời đại, qua bao năm tháng.

Sa Môn Huệ Thường ở núi La Phù, nhân đi hái trà mà vào hang núi, chợt thấy một tấm bảng bằng vàng kim, đề chữ 'La Hán Thánh Tự', rồi ở lại trong đó ba ngày mới trở ra. Lúc trở về chùa, ở cõi nhân gian đã trải qua năm năm.

Quý vị có thấy thời gian dài ngắn đều do tâm tạo không? Chỉ cần quý vị tu hành, định huệ viên dung, thông đạt hai đế, thâm nhập tam muội, chẳng sanh một niệm, thì sẽ thấy vô biên cảnh giới, không bị hạn cuộc chút nào. Xưa nay, người người đều không rời tâm này. Ði đứng nằm ngồi, chớ phóng tâm ra ngoài cầu pháp. Ngày ngày chớ để cảnh chuyển. Dầu cho kẻ khác nắng đi lạnh đến, vẫn không can hệ gì với mình. Như như bất động, niệm niệm vô sanh, không để cảnh chuyển, tức không lãng phí thời gian tu hành.

22/ Ngày hai mươi tám tháng tư.

Quý vị đồng tham học đến đây xin chớ làm khách, hãy dùng trực tâm vấn đạo. Quy củ vấn đáp Phật pháp nơi các tùng lâm tự viện là phải cung kính đảnh lễ, rồi quỳ xuống thỉnh chư hòa thượng khai thị. Nơi đây là am tranh, không cần phải theo nghi thức như thế. Vì sao? Hiện tại, từ sáng đến tối, cả ngày tôi mãi sống trong phiền não. Quý vị càng làm nghi lễ nhiều chừng nào, thì tôi càng bị phiền lụy bấy nhiêu. Quý vị hãy tùy tiện tùy thời hỏi han, như nông dân dẫn trâu cày ruộng, đẩy cày tới lui. Ví dụ, khi bàn về đèn dầu, nếu phải dùng dầu hương, thì gọi đó là dầu hương. Nếu là dầu tây, thì gọi đó là dầu tây. Quý vị nếu dụng công niệm Phật, thì đàm luận về pháp môn niệm Phật. Nếu tham thiền thì bàn về pháp tham thiền. Tu pháp gì thì luận bàn về pháp đó, tự nhiên không vướng mắc. Nếu biết tôi không hiểu rõ điều gì, xin quý vị hãy từ bi chỉ dạy.

Các pháp xưa nay vốn dùng để cắt đứt sanh tử. Tham thiền, tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, cùng các pháp môn khác, đều tùy theo căn cơ mà thuyết giáo. Quý vị có căn cơ đến đâu thì chúng ta sẽ cùng đàm luận đến đó.

"Phật thuyết tất cả pháp, vì muốn độ tất cả chúng sanh. Không có tất cả tâm, sao lại dùng tất cả pháp?"

Ví như một toa thuốc, được phân chia đúng lượng, lúc uống vào thì đổ mồ hôi, khiến lành bịnh. Hết bịnh rồi, thì chẳng cần dùng thuốc nữa. Người xưa bảo:

- Tận hết tâm phàm, chẳng có chư thánh giải thoát.

Diệt tận tâm phàm phu, ngay đó chính là Phật, chớ hướng ngoại truy cầu. Nếu hướng ngoại truy cầu, tức là ngoại đạo. Ngoài tâm không có một vật vì tự tâm chính là Phật. Tâm phàm phu, tức tâm chấp trước, tâm thường sanh uất khí, tâm hoan hỷ, tâm khen ngợi hủy báng, tâm tham sắc, tham tiền, tham ăn ngon mặc đẹp, làm biếng, khởi vô minh, không lên chánh điện tụng kinh, cùng bao tập khí xấu xa, và thậm chí mong cầu thành Phật, v.v... Nếu quên đi cả phàm lẫn thánh, nơi mọi chốn đều như như bất động; không hướng ngoại tìm cầu, thì sẽ thấy tự tâm chính là Phật. Cắt ái từ thân, dùng tham thiền niệm Phật, để trừ khử tâm phàm. Dùng độc trị độc; bịnh lành thì không cần thuốc.

Quý vị đồng tham học! Thường nói nhiều thì vọng tưởng càng nhiều. Song, nếu không khẩn thành tu thiền hoặc niệm Phật thì chẳng biết mình có vọng tưởng. Lúc dụng công, nhìn lại mới biết mình có quá nhiều vọng tưởng. Nhận diện ra chúng, quý vị chớ để ý làm chi, chỉ như như bất động. Nếu khởi tâm động niệm, tức liền thấy ma. Công phu miệng tụng tâm tư duy ngày một thâm sâu, như nước chảy đá mòn, thì tự nhiên tất cả sẽ quy về một mối. Tham thiền có thể ngộ đạo. Quên mình niệm Phật cũng có thể ngộ đạo. Một niệm không sanh, liền thừa nhận bản tâm lập tức. Phải dùng lý này mà dụng công. Hy vọng, nơi đỉnh cột trụ trăm trượng, hãy tiến thêm một bước.

23/ Ngày hai mươi chín tháng tư.

Giảng về việc tu đạo, chư Phật chư Bồ Tát chỉ bảo dẹp trừ tập khí. Còn tập khí tức còn làm chúng sanh. Hết tập khí tức làm thánh hiền. Diệu dụng của chư thánh hiền, biết rõ phiền não tức Bồ Ðề. Nếu không nhận thức rõ, thì Bồ Ðề tức là phiền não. Phiền não và Bồ Ðề, như xoay trở bàn tay. Tuy vậy, nói thì dễ nhưng làm lại rất khó. Thiền sư Ðiểu Khòa nói:

- Không làm các việc ác. Luôn hành những điều lành. Ðứa nhỏ ba tuổi có thể hiểu lý này, nhưng lão già tám mươi hành chẳng được.

Hư Vân tôi hổ thẹn muôn phần, vì tập khí thâm trọng, không thể xoay đầu nhìn lại chính mình, cùng không thể xả bỏ chấp trước. Lúc đến am tranh này, tôi muốn lang thang ngang dọc; không đoái hoài đến người, chỉ thích đi lên ngàn đỉnh núi. Việc của thường trụ, không cần đến tôi. Nếu lo lắng nhiều việc, tức làm người bận rộn. Tôi đã từng quản lý hai ngàn nhà, tập khí chấp trước khó trừ khó xả. Nhìn sự việc mà chẳng thấu suốt thì thiên lệch vào ái trước.

Sáng nay, thầy tri sự bảo mọi người không cần ra đồng làm việc, mà tôi lại bảo phải làm. Có người nói rằng tôi rất quan liêu phong kiến. Dĩ nhiên, thầy tri sự có lý lẽ riêng; thầy bảo rằng đại chúng làm lụng quá cực nhọc, nên cần nghỉ ngơi đôi chút. Song, chánh phủ hiệu triệu, kêu gọi chúng ta phải tự nỗ lực làm ăn. Chúng ta đã vay mượn chánh phủ hàng trăm ký lúa. Sao không cố gắng hưởng ứng lời kêu gọi, tự cố gắng trồng trọt? Nhận biết mọi người đều ăn uống thiếu thốn khổ cực, và sợ giữa năm không mua đủ lúa thóc, nên tôi phải tìm cách xoay sở. Nhân vì mỗi ngày, mỗi người đáng lý ra phải được mua một ký rưởi gạo. Song, hiện tại mỗi người bị giảm bớt ba lạng. Tôi nhận thấy rằng lương thực của chúng ta chóng bị giảm bớt. Gạo ít mà không tăng gia sản xuất thì làm sao đủ ăn! Hôm nay nghỉ ngơi. Ngày mai lại nghỉ ngơi. Ngày kế, nếu trời mưa, cũng lại nghỉ ngơi. Ba ngày liên tiếp, nghỉ ngơi không làm ruộng, thì sao trồng trọt sản xuất được? Vì vậy, quý vị có bảo tôi phong kiến thì tôi là phong kiến. Song, trong phong kiến tôi chẳng có phong kiến, và trong chuyên chế chẳng có chuyên chế, nên so với cường quyền vô công lý thì không đồng. Hiện nay, mùa xuân mưa xuống khắp đồng. Nếu không thừa dịp này mà chịu cực khổ chút ít, xin hỏi giữa năm lấy gì mà ăn? Tuy nói là khổ, nhưng so với dân làng dưới núi, chúng ta làm việc rất nhẹ nhàng thảnh thơi. Dân làng mỗi ngày phụ giúp chúng ta cấy lúa để có gạo ăn. Ngày ngày, họ dầm mưa dãi nắng, không dám biếng nhác. Nếu làm biếng một chút thì sợ chúng ta không nhờ đến. Thế nên, họ chịu đựng cực khổ rất nhiều, lại cáng đáng làm việc rất thông thạo. Chúng ta không cực khổ bằng họ, sao nay lại than van!

24/ Khai thị trong ngày tết giữa năm.

Hôm nay, tết giữa năm vốn là ngày vui của người thế tục. Là người xuất gia, chớ nên đắm trước. Khi xưa, Hư Vân tôi cũng tùy thuận thế tình, sống gần thành phố, được người cúng dường bánh chưng. Chùa chiền cũng hưởng tết như thế tục. Hiện tại, núi Vân Cư không có ai cúng dường bánh chưng. Bánh chưng vốn để cúng cho quỷ thần, sao chúng ta lại đi gói bánh này? Nấu nướng bánh chưng thật uổng phí công sức, thời gian, mà chỉ nên nấu cơm nếp để ăn tết thôi.

Người người sống trên thế gian, phải nên lưu tiếng tốt lại thiên cổ, chớ để vết nhơ ngàn năm. Quốc gia trọng nhất là trung, nghĩa, tiết, lễ. Ðệ tử Phật một niệm không sanh liền nhận ra bổn lai diện mục của mình, còn hơi sức đâu để ý đến điềm lành họa phúc. Song, nếu chưa đạt đến lý vô sanh thì chưa có thể tránh khỏi điềm lành dữ họa phúc.

Vài ngày qua, có nhiều cơn bão lụt. Năm ngoái, bão lụt xảy ra cũng trong những ngày này. E rằng bão lụt năm nay, phá hoại mùa màng, nghiêm trọng hơn những năm trước. Vì xả chấp trước không nổi, tôi đi ra ngoài cửa núi, thấy dưới chân núi nước chảy lan tràn như biển cả. Lúa mạ trên đồng bị tổn hoại rất nhiều so với năm rồi. Lương thực của dân chúng không biết ra sao! Tài chánh và việc mua thực phẩm của chúng ta cũng trở thành vấn đề rắc rối. Thế nên, đại chúng hãy cố gắng chịu cực khổ để qua cửa ải này.

Những lần ngoài chợ không có bán gạo, may mắn nhờ ơn chính phủ chiếu cố, nên mua được lúa thóc. Lúc trước, mỗi người mua được một ký rưởi gạo. Hiện nay, bị giảm bớt bốn lượng, chỉ còn hai mươi lượng. Một trăm cân lúa, xay ra chỉ còn bảy mươi cân gạo. Mua nhiều lúa thì không được. Một trăm ký lúa tốn hai mươi đồng. Một trăm ký bột gạo tốn bốn mươi đồng. Tốn hao rất nhiều, nhưng chẳng mua thì không thể được. Ðại chúng hãy lượng ước mà ăn. Từ đây về sau, không thể ăn cơm, mà chỉ ăn cháo. Mua lúa thì sợ rằng mua không được, mà lúa trồng thì chưa chín. Chúng ta hãy nhổ khoai tây, nấu chung với cháo mà ăn. Mỗi cân khoai tây, mắc một đồng hai mươi xu. Giá khoai mắc hơn giá gạo. Song, khoai do chúng ta tự trồng, nên không tốn hao tiền. Ăn khoai độn với cháo, hãy cố gắng vượt qua cửa ải gian nan này.

25/ Rằm tháng năm.

Lễ Bố Tát ở tùng lâm, được tổ chức hai lần trong mỗi tháng, tức là ngày rằm và cuối tháng. Chiếu theo kinh Phạm Võng và Tứ Phần giới bổn, nửa tháng tụng giới một lần. Nay tôi đơn lược giải thích. Giới, tiếng Phạn gọi là Thi La. Tàu dịch là Tịnh Trụ, Thiện Trụ, Trưởng Dưỡng. Mỗi nửa tháng, tập hợp đại chúng để thuyết giới, khiến tỳ kheo trụ trong tịnh giới, năng trưởng dưỡng thiện pháp. Phật quán thấy tất cả chúng sanh bị khổ não trong vòng luân hồi, vì bỏ giác hợp với trần lao, tập khí nặng nề. Do đó, Ngài phải phương tiện chế ra giới luật, để khiến họ đoạn trừ tập khí, bỏ trần lao mà hợp với tánh giác.

Luật tức bàn về giới luật. Tiếng Phạn gọi là Tỳ Nại Da. Tàu gọi là Diệt hay Luật; tân dịch là điều phục. Giới luật diệt các điều xấu ác, nên gọi là diệt. Luật pháp ở thế gian phán xét tội nặng nhẹ, cũng gọi là luật. Ðiều hòa các nghiệp thân miệng ý, cùng chế phục các hạnh ác, nên gọi là điều phục. Quy thức giới luật rất nhiều. Sợ quý vị quên mất, nên Phật dạy rằng mỗi tháng phải tụng giới hai lần. Giới Bồ Tát là thể. Giới tỳ kheo là dụng. Trong ngoài nếu nhất như, thì thân tâm được tự tại. Tụng giới chẳng phải chỉ dùng miệng lưỡi đọc văn từ, mà tụng được thì phải hành được. Giảng đến việc trì giới thật rất khó khăn. Lệch một chút, liền phạm giới. Trì giới như đầu đội chảo dầu sôi; nếu không cẩn thận, để nghiêng lệch chút ít, thì dầu liền đổ ra, tức là phạm giới. Mỗi nửa tháng tụng giới xong, phải nhớ phải hành. Miệng tụng, tâm tư duy, để khi gặp cảnh đối duyên thì không phạm giới, và không khởi mười điều ác. Vì những lý do đó, Phật bảo chư tỳ kheo phải tụng giới hai lần trong một tháng.

Người sơ phát tâm tu đạo, cung cách bên ngoài phải nên cẩn thận. Rất nhiều vị lão tăng, cung cách diện mạo cũng chưa hợp với đạo cho lắm. Nếu một đời chất trực, tinh tấn chuyển hóa, hun đúc thân tâm, mọi nơi mọi thời đều không để phạm giới, thì mới được xem là tỳ kheo thanh tịnh. Trong giới luật, tuy có phân tánh giới, giá giới, nặng nhẹ, nhưng chớ phạm giới nào. Trì giới thanh tịnh như trăng sáng mùa thu, thật không dễ dàng, phải nên chú ý. Lúc tỳ kheo tụng giới, người chưa thọ giới không thể lắng nghe. Các vị Sa Di phải đến trai đường tụng giới, rồi nghe hòa thượng phó chúc dạy bảo.

Quý vị chớ quên bổn phận xuất gia. Biểu hiện tướng xuất gia không khó, chỉ việc cạo tóc đắp y ca sa liền được gọi là tăng sĩ. Hiện tại, có nhiều cư sĩ thường cạo đầu. Thế thì ai là tăng sĩ chân thật? Như người uống nước, tự biết lạnh nóng. Hy vọng mọi người hãy nên tinh tấn.

26/ Ngày mười sáu tháng năm.

Ðêm qua tôi đã nói về việc tụng giới pháp hai lần trong một tháng, tức ngày rằm và đầu tháng. Ðây là lời giáo huấn phát xuất từ kim khẩu của đức Thế Tôn. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan hỏi:

- Bạch đức Thế Tôn! Chư tỳ kheo đời vị lai, phải tôn ai làm thầy?

Phật bảo:

- Tỳ kheo các ông, sau khi Ta diệt độ, phải nên tôn kính Ba La Ðề Mộc Xoa, như mờ tối được sáng, như người nghèo được châu báu. Nên biết, giới pháp chính là bậc đạo sư của các ông, không khác gì như Ta còn tại thế.

Ba La Ðề Mộc Xoa tiếng Tàu gọi là biệt giải thoát, tức bảy phi năm thiên giới cấm của thân miệng. Nếu không phạm thì mới được giải thoát. Tôn Ba La Ðề Mộc Xoa làm thầy, tức kính giới là bậc đạo sư.

Giới pháp có rất nhiều loại. Do đó, sợ rằng dễ dàng quên mất và phạm đến, nên mỗi nửa tháng phải tụng giới một lần để trì giữ. Ðã thọ giới nào thì phải thường tụng, và nghe giới đó. Chưa thọ thì không được tụng hay nghe giới. Chưa thọ giới mà lại tụng giới, thì bất hợp pháp. Vì vậy, trước khi thọ giới, thầy tụng giới hỏi:

- Người chưa thọ giới Bồ Tát, trong đây có ra khỏi chưa?

Thầy Duy Na đáp:

- Trong đây không có ai chưa thọ giới Bồ Tát.

Lúc tụng giới tỳ kheo, cũng phải hỏi như thế. Ðệ tử Phật có bảy hạng: Một là tỳ kheo. Hai là tỳ kheo ny; đây là nam nữ thọ giới cụ túc. Ba là thức xoa ma na, tức người nữ tập học sáu giới pháp. Bốn là sa di. Năm là sa di ni; đây là nam nữ thọ mười giới. Sáu là ưu bà tắc. Bảy là ưu bà di; đây là nam nữ thọ năm giới căn bản. Sa di không được nghe chư tỳ kheo tụng giới, vì sợ rằng nếu sa di thấy tỳ kheo phạm giới liền sanh tâm cống cao ngã mạn, khinh bỉ chư tăng. Thế nên, trước khi tụng giới, sa di đến trai đường, đảnh lễ quỳ xuống. Vị Thượng Tọa liền vỗ ấn, bảo:

- Các sa di hãy lắng nghe! Thân người khó được, giới pháp khó nghe. Thời giờ qua mau, đạo nghiệp khó thành. Mỗi người phải tự thanh tịnh thân miệng ý, chuyên cần học tập kinh luật luận, cẩn trọng chớ nên làm biếng.

Chúng sa di thưa:

- Chúng con y giáo phụng hành.

- Các ông năng tín thọ phụng hành. Vậy hãy đứng dậy, lễ bái rồi lui ra.

Sau khi sa di lễ bái và lui ra, chu tỳ kheo mới bắt đầu tụng giới. Ðã thọ giới Phật chế, liền đắc giới thể thanh tịnh, tức được giải thoát, nhập quả vị Phật, đồng như đấng đại giác, mới là Phật tử chân chánh. Thọ giới pháp của chư Phật là một việc rất hy hữu. Vì vậy, sau khi thọ giới, phải nên cẩn trọng hộ trì giới pháp. Thà chết mà vẫn giữ giới, còn hơn sống mà mất giới.

Luật Tăng Kỳ viết: "Nước Ba La Chi có hai vị tỳ kheo, cùng nhau đến thành Xá Vệ, định vấn pháp nơi đức Thế Tôn. Giữa đường, miệng khát mà không có nước uống. Khi đến một giếng nước, vị tỳ kheo thứ nhất liền lấy tay vớt nước uống. Vị tỳ kheo thứ hai thấy nước có trùng, nên không dám uống. Thấy vậy, vị tỳ kheo thứ nhất hỏi:

- Sao Thầy không uống nước?

Vị tỳ kheo thứ hai bảo:

- Ðức Thế Tôn chế giới, không được uống nước có trùng.

- Nếu không chịu uống, chắc Thầy phải chết khát, thì làm sao gặp được đức Thế Tôn?

- Thà thân này chết, chớ không dám phạm giới Phật chế.

Chẳng bao lâu, vị thầy thứ hai bị chết vì khát, nhưng thần hồn lại vãng sanh lên cung trời Ðao Lợi, được thân trời đầy đủ phước báo. Tối hôm đó, vị trời này liền bay đến nơi Phật trú, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi nghe pháp yếu, đắc được pháp nhãn thanh tịnh. Hôm sau, vị tỳ kheo uống nước có trùng, đi đến nơi Phật trú. Phật biết duyên cớ, nhưng vẫn cố ý hỏi:

- Ông từ đâu đến, đi có bạn không?

Vị tỳ kheo kia liền thuật lại sự tình. Nghe xong, Phật quở:

- Ông là kẻ ngu si, chẳng gặp được Ta. Người gặp Ta đầu tiên, chính là tỳ kheo chết khát. Nếu có tỳ kheo, phóng dật giải đãi, không nhiếp các căn, tuy cùng sống chung với Ta một nơi, mà thật rất xa Ta. Tuy gặp nơi đây, nhưng Ta thực chẳng thấy ông. Nếu các tỳ kheo ở nơi bờ bể, không phóng dật giãi đãi, thường luôn tinh tấn, thúc liễm các căn, tuy ở xa nhưng Ta thường thấy thường gần gũi người này."

Từ sáng đến tối, so với vị tỳ kheo giữ giới, chúng ta giống như trư bát giới, chim thiêu khí chướng, vậy có phải là Phật tử chân chánh không? Phật chế giới cho chư tỳ kheo là trước khi uống nước, phải dùng đãy lọc nước. Lọc xong rồi mới được dùng. Hiện nay ở trong nước, ai thường dùng đãy lọc nước? Phật cũng chế giới phương tiện là khi uống chỉ dùng mắt thường mà nhìn xem nước có trùng hay không, chứ không nên dùng thiên nhãn. Nếu nhìn bằng thiên nhãn, thì sẽ thấy trong nước có rất nhiều côn trùng, nên không thể uống được. Nếu miễn cưỡng mà uống, thì phạm giới cấm. Chiếu theo quy định của quyển Tỳ Ni Nhật Dụng, trước khi uống nước, dầu có thấy trùng hay không, đều phải tụng kệ chú. Kệ viết: "Phật quán thấy trong một cốc nước, có tám muôn bốn ngàn côn trùng. Nếu không trì chú này, như ăn thịt của chúng sanh."

Chú viết: "Án bạt tất ba la ma ni sa ha."

Thời gian qua mau, mỗi ngày mười hai thời: Sáng sáu thời, và chiều sáu thời. Mỗi ngày có hai mươi bốn tiếng. Mỗi tiếng có bốn khắc. Mỗi khắc có mười lăm phút. Mỗi phút có sáu mươi giây. Thời giờ trôi qua mau trong từng sát na; bỗng chốc lại vụt đến già. Các vị sa di, từ lúc lọt lòng cho đến nay, chớp mắt đã được hai ba mươi tuổi. Quý vị có thấy thời gian trôi qua mau, mà đạo nghiệp khó thành chăng? Người vừa xuất gia, đạo tâm rất chân thành, nhưng vì đạo nghiệp chưa thành, nên ngày lại qua ngày, trở thành lười biếng. Vì thế bảo:

- Năm đầu xuất gia, thấy Phật trước mắt. Năm sau, thấy Phật ở Tây Thiên. Năm thứ ba, hỏi Phật cho tiền.

Nếu đạo tâm không bền vững dài lâu, thì đạo nghiệp khó thành. Ðạo tâm như sương mai buổi sáng, thì làm sao cắt đứt sanh tử? Do đó, lời phó chúc cuối cùng của tôi:

- Mỗi người phải thanh tịnh thân miệng ý, chuyên cần tu học kinh luật luận, cẩn trọng chớ phóng dật lười biếng.

Tôi xin khuyên quý vị hãy tinh tấn, chớ để thối tâm. Khổng Tử bảo:

- Phải thường hành những điều đã học.

Chớ phân biệt ngày đêm sáng tối, đi đứng nằm ngồi, mà phải giặt giũ rèn luyện thân tâm, khiến ba nghiệp thanh tịnh.

Kinh là đường lộ, tức con đường thoát khỏi sanh tử. Luật tức giới luật, gồm có năm giới, mười giới, cụ túc giới, Bồ Tát giới. Luận tức là những lời trước tác của các vị đại đệ tử Phật về việc phát dương diệu nghĩa trong kinh và luật. Quý vị sa di phải nên phát tâm vì đạo, thường chuyên cần tu học kinh luật luận, chớ để phí uổng thời giờ.

27/ Ngày mười bảy tháng năm.

Xưa kia, Triệu Châu hỏi Nam Tuyền:

- Thế nào là đạo?

Nam Tuyền đáp:

- Tâm bình thường là đạo.

- Có thể hướng đến được không?

- Nếu vừa nghĩ hướng đến tức có giai cấp.

- Nếu không suy nghĩ thì làm sao biết đó là đạo?

- Ðạo không bám chấp vào cái biết hay cái không biết. Biết tức là vọng giác. Không biết tức là vô ký. Nếu thật sự đạt đến chỗ không còn nghi ngờ gì về đạo, giống như hư không, rộng rãi thênh thang, sao còn bám vào thị phi nhân ngã?

Triệu Châu nghe lời này bèn ngộ đạo.

Chúng ta bắt chước người xưa, nói lời trống rỗng, bảo để tâm bình thường, mà tâm này ai ai cũng có, nhưng thấy được đạo gì? Ðiều trọng yếu là nếu nhận ra tâm bình thường, thì nơi nơi đều là đạo. Không nhận biết tâm bình thường thì điên đảo suốt ngày. Tại sao? Chúng ta không chịu xoay đầu, nhìn lại chính mình, chỉ lo hướng ngoại truy cầu, bỏ tánh giác, hợp với trần lao. Từ sáng đến tối, lưu chuyển theo cảnh, bỏ đạo rong đuổi bên ngoài, tìm sờ không được gương mặt của mình. Sao gọi là tâm bình thường? Tâm bình thường tức là tâm dài lâu. Từ đầu năm đến cuối năm, từ sanh đến tử, thường thường như thế, mới gọi là tâm bình thường. Ví như người thế tục, nếu tiếp đãi khách quen thuộc, thì chỉ dùng trà cơm bình thường, không bày biện món ngon vật lạ. Tiếp đãi như thế, có thể làm dài lâu, tức là bình thường. Nếu khách quý đến, phải bày biện món ngon vật lạ, nhưng chỉ có thể thiết đãi trong vài ngày, nên chẳng phải là bình thường. Nhà nhà không thể thường có lễ lộc, vì chiêu đãi khách khứa bất bình thường thì không thể làm dài lâu. Người tu đạo, nếu dụng tâm không tạo tác, không an bài, không cải biến, không có lời hoa ngôn xảo ngữ, tức hợp với đạo, tức là tâm bình thường, tức khởi trực tâm. Lục Tổ bảo thiền sư Trí Hoàng:

- Nếu tâm ông như hư không, chẳng chấp không kiến, ứng dụng vô ngại, động tĩnh vô tâm, tình ái phàm thánh đều quên, năng sở đều câu thông diệt mất, thì tánh tướng như như, không thời bất định.

Những lời này, bàn về tâm bình thường. Nếu không thể tu hành tương ưng với những lời dạy đó thì luôn sống trong hang động quỷ ma, tức tâm không bình thường.

Ðêm qua, tôi có nói đến giới luật. Người vừa phát khởi tín tâm, liền quy y Tam Bảo, cầu thọ năm giới. Tiến lên một bước, biết đời người là khổ, nên xả tục xuất gia, vào núi tu đạo. Nhận biết tỳ kheo là tôn quý, nên phát tâm thọ giới cụ túc. Lại phát tâm rộng lớn, cầu thọ giới Bồ Tát. Tại giới đường, nghe thầy dẫn lễ bảo:

- Phải luôn khởi tâm sám hối, hổ thẹn.

Khi ấy, vì sợ khổ đau trong sáu đường luân hồi mà phát tâm tu hành. Nghe pháp mà rơi lệ.

Tiếp đến, hòa thượng giới sư bảo:

- Quý vị có thể trì giới được không?

Các tân giới tử liền đáp:

- Chúng con có thể phụng trì.

Như thế, liền thọ xong giới. Song, vừa thọ giới xong các thói quen tật xấu lại phát sanh, khiến thối thất đạo tâm, tức tâm không bình thường. Nghĩa là cứ mãi dùng tham sân si làm tâm bình thường.

Người hiểu đạo, động tĩnh vô tâm, không nghĩ thiện ác. Tánh không tức vô tâm. Vô tâm tức là đạo. Người vừa xuất gia, không biết như thế nào là Phật pháp, quy củ, tu hành. Nếu muốn cắt đứt sanh tử, phải hành theo quy củ. Khổng Tử chế lễ nhạc, chẳng ngoài việc dạy quy củ cho người. Thân chấp trì giới pháp tức là trừ khử tập khí. Thân được tự do, thì tâm có chỗ để nương y.

Người xưa có viết kệ về bốn oai nghi, đi đứng nằm ngồi:

"Cử tiếng niệm Phật, nước chảy chậm

Tụng kinh hành đạo, nhạn du hành

Chắp tay trước ngực, như bưng nước

Thân thẳng trên đầu, tựa chén dầu

Xem trước nhìn sau, nhẹ nhàng bước

Phải trái xoay thân, khép nửa mắt

Oai nghi động tĩnh, thường như thế

Chẳng uổng cửa không, làm tỳ kheo."

Âm thanh ngọc ngà trong trẻo thanh khiết, xưng niệm thánh hiệu chư Phật, tức là hành pháp môn niệm Phật. Tiến lên một bước, tự hỏi mình rằng ai đang niệm Phật, tức tham thiền. Không chịu xoay đầu nhìn lại chính mình, miệng chỉ niệm Phật mà tâm lại khởi vọng tưởng, lưu chuyển theo vọng tình. Nếu như thế, niệm Phật thật vô dụng. Khi niệm Phật, miệng niệm tâm phải tư duy, và dùng trí quán chiếu; âm thanh không nhanh không chậm, như nước chảy từ từ. Miệng niệm, tai lắng nghe, không khởi vọng tưởng, thì niệm niệm lưu nhập vào biển khổ Ta Bà. Nghe một danh hiệu Phật, được vô lượng công đức. Chỉ dùng một danh hiệu Phật, mà có thể độ vô lượng chúng sanh. Khi tụng kinh, hoặc nhìn thẳng mà đọc, hoặc ngồi mà đọc, hoặc quỳ mà đọc, hoặc mặc niệm mà đọc, hoặc học thuộc lòng, v.v..., mọi cách thức đều được cả. Tùy theo kinh văn mà quán tưởng, và xem trong kinh bàn luận về đạo lý gì. Hành đạo tức đi kinh hành. Ði từng bước chân chậm rãi, không loạn động, không nghiêng bên đông, ngả bên tây, mà đi như nhạn bay trật tự trên nền trời. Từng bước đi không khẩn cấp, không chậm chạp. Mọi cử chỉ hành động đều dụng công. Chấp hai bàn tay lại mà chẳng để vô tâm. Mười ngón tay khắn khít với nhau, không chênh lệch, không co giản, dạng trạng như bưng cốc nước. Nếu nghiêng lệch, thì nước liền đổ ra. Thân đứng thẳng như cây tùng. Hai bàn chân hợp lại thành chữ bát. Hai ngón chân cái cách nhau khoảng tám phân. Hai gót chân cách nhau khoảng hai phân. Gáy cổ phải chạm cổ áo. Ðầu thẳng thừng, không nghiêng ngửa, như đang đội chén dầu, nếu không chú ý thì sẽ đổ xuống. Ði như gió, phải xem xét trước sau. Bước đi nhẹ nhàng, không kéo lê giày dép. Ði trên cầu thang, chớ làm vang tiếng động lớn. Cỏ xanh chớ dẫm, phải thương mến hộ trì sanh vật. Mắt chỉ nên mở phân nửa, nhìn không quá năm bảy thước. Ði đứng nằm ngồi, oai nghi nếu trang trọng nghiêm túc, sẽ khiến người nhìn, sanh tâm cung kính. Lúc đầu, nếu không tự khiển trách, thì tương lai làm sao giáo hóa chúng sanh được! Tự thúc thủ hành vi chân chánh, không bị đọa lạc, thì mới nhiếp hóa chúng sanh. Có tu đạo hay không, cử chỉ hành động như thế nào, người khác nhìn vào liền biết rõ. Tâm bình thường tức là tâm trước sau như một. Trải qua bao phong ba hiểm nạn, tâm này vẫn như như bất động.

Ví như Hám Sơn lão nhân, Ngài là bậc mô phạm cho chúng ta. Ngài sanh vào đời nhà Minh, ngày mười hai tháng mười năm Gia Tĩnh thứ hai mươi lăm (1546). Năm mười hai tuổi, xin cha mẹ cho xuất gia, rồi lễ hòa thượng Tây Lâm tại chùa Báo Ân, ở Nam Kinh, làm thầy thế độ. Sau đó, Ngài thọ giới cụ túc nơi hòa thượng Vô Cực. Sau khi hòa thượng Tây Lâm viên tịch, dầu chỉ mới được hai mươi tuổi, mọi việc lớn nhỏ trong chùa, đại chúng đều nghe theo sự quyết định của Ngài. Sau này, Ngài theo đại sư Vô Cốc ngồi thiền tại chùa Thiên Giới. Năm hai mươi tám tuổi, nhân du hành đến núi Ngũ Ðài, thấy cảnh núi Hám Sơn thâm sâu hùng vĩ, nên Ngài tự lấy tên núi mà đặt danh hiệu cho mình. Năm hai mươi chín tuổi, Ngài duyệt xem "Triệu Luận", bèn liễu ngộ mà không bám văn nghĩa. Thiền sư Cao Phong, pháp lữ của Ngài, bảo:

- Xin chúc mừng! Thầy có vốn trụ núi rồi!

Năm ba mươi tuổi, Ngài đốn ngộ, bèn viết kệ:

"Chớp mắt tâm niệm cuồng dừng

Căn trần nội ngoại đều thấu suốt

Thân bay độc phá thái hư không

Vạn tượng xum la từ khởi diệt."

Từ lúc cắt tóc xuất gia, đến năm bảy mươi mốt tuổi, đôi chân Ngài đi du hành khắp nơi. Mỗi lần Ngài lên tòa thuyết pháp, nói một hơi cả ngàn lời. Việc này được thị giả ghi lại đầy đủ trong quyển tiểu sử niên giám của Ngài. Sự tích về cuộc đời Ngài, kể rõ rằng trong bao thập niên, dầu hoàn cảnh thiên biến vạn hóa, chịu muôn ngàn khổ đau, nhưng đạo tâm thủy chung bất biến. Ðó là tâm bình thường, dài lâu. Lúc bị đày đến Lôi Dương, Ngài có viết bài Quân Trung Ngâm:

"Cởi áo tu liền đổi dạng

Vốn tin tùy duyên là đạo tràng

Chịu đựng nắng gắt như lửa cháy

Nan tiêu băng tuyết lạnh tâm tràng."

Tâm Ngài kiên cố bất biến, mới thổ lộ ra những lời này. Ngài chính là bậc mô phạm cho chúng ta.

Ngày nay, Phật pháp bị suy vi quá mức, vì trải qua bao phong ba bão táp. Trước ngày giải phóng, tăng ni toàn quốc có khoảng tám trăm ngàn vị. Năm ngoái, chỉ còn bảy mươi ngàn vị. Trong mười người thì có tới chín người hoàn tục. Ðó là vì tâm không dài lâu, và không kiên cố. Bị lửa đốt một chút là chân đứng không yên. Nếu là Phật tử chân chính, phải nên lập chí nguyện, có đầy đủ tâm tràng sắt đá. Ðầu tiên phải học oai nghi, tuân theo quy củ, mà không sợ kẻ khác bảo mình là người cứng đầu. Phải giữ tâm đến chết, mãi mãi tôn kính giáo giới của Phật. Do bao kiếp trồng căn lành, nên đời này mới được vào cửa Phật. Phải nỗ lực cầu đạo, trừ khử tập khí. Làm được những việc này rồi, thì từ từ sẽ trở thành những bậc đại tu hành, sớm đắc nhập lý thể. Chớ chạy vào chợ búa danh lợi, làm tay sai cho quốc vương. Tâm phải kiên cố, vĩnh cửu không đổi. Tâm bình thường động tĩnh nhất như.

28/ Ngày mười tám tháng năm.

Trong quyển Thiền Môn Nhật Tụng có bài Phí Nhàn Ca, của đại sư Hám Sơn. Mười câu đầu nói về mười việc khó. Mười việc khó đó, nếu bàn thì chỉ phí sức, mất thời gian, vô dụng, nên gọi là Phí Nhàn Ca. Nếu làm được mười việc này thì liễu thoát khỏi sanh tử. Mười việc này gồm có: Thể hội đạo khó; giữ quy củ khó; gặp thầy hiền khó; vượt khỏi trần lụy khó; tâm chân thật khó; ngộ đạo khó; giữ cửa ải khó; có tín tâm khó; có tâm cung kính khó; hiểu rõ lời kinh khó.

So với người xưa, tôi cảm thấy rất xấu hổ, không dám ra vẻ đạo mạo. Người khác xem tôi là kẻ lỗi thời, nhưng cũng có kẻ cho rằng tôi có đạo đức. Việc này tôi chẳng dám nhận. Lại nữa, có kẻ khác nhận ra tánh xấu của tôi. Những việc này, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Ðây không phải là lời khách sáo. Người xưa bảo:

- Vẽ hổ vẽ da, khó lường cốt. Biết người biết mặt, chẳng biết tâm.

Tôi rất xấu hổ, ai nào biết đến? Trải qua bao năm, tôi chỉ lừa Phật ăn cơm. Quý vị chắc không tin điều này, cũng không hiểu nỗi khổ tâm của tôi. Khổ não vì nghiệp chướng, nói ra chẳng được. Hiện tại, chỉ ăn không ngồi rồi; muốn giảng giải mà thuyết chẳng hay. Thật ra những lời tôi nói ra, đều là điển chương của người xưa, hoặc là nước miếng của người khác. Tất cả đều là mắt thấy tai nghe, mà trong bao tử lại trống không. Chư Phật cùng thánh hiền, chỉ truyền một tâm ấn, không nói lời nào. Phật Tổ tương truyền, không ngoài việc đó. Người xưa nói được thì làm được. Riêng tôi thì nói được mà làm lại không được. Kẻ sáng mắt hiểu lời này, và nhắc nhở rằng tại sao tôi không tự giảng giải cho mình!

Ngày trước, tại Hàng Châu có người gởi thơ ẩn danh, chỉ trích tôi: "Có người tự nghĩ rằng mình là bậc tổ sư của thiền tông. Tự tôn tự đại, nhưng phần nhiều lại thầm lặng chấp không. Tuy tri giải đầy cả bụng, nhưng đối với bổn phận thì chẳng tương ưng chút nào. Chỉ a dua chạy theo quyền thế, thâu nhận lắm môn đồ. Tuy danh huyên náo một đời mà lại trống không... Vì thế, không thể lạm truyền giới pháp cho những người bất thánh bất hiền (tức những người xấu). Gặp những ai phải nên truyền mà lại không truyền, thì phải chịu phần trách nhiệm. Nếu truyền giới cho những người không nên truyền thì cũng phải chịu trách nhiệm. Không biết Ðại Sư đã từng gặp người nên truyền mà lại không truyền, người không nên truyền mà lại đi truyền chưa?... Thứ nhất, hòa thượng mà để tóc dài, tức loại Sa Môn tệ hại, khiến mở cửa cho ngàn đời sau, phá gia phong giới pháp, lưu vết nhơ muôn thuở, kẻ hậu học chê cười. Thứ hai, biến cố tại Vân Môn, chẳng rõ cớ sự, chỉ tự an ủi rằng việc này do quả báo túc nghiệp, khiến cho ba tăng bị mất tích, một vị tăng bị vong mạng. Hai việc này, chứng minh công đức Ðại Sư thâm sâu quá nhỉ? Khổng Tử bảo:

- Tôi rất may mắn vì cẩu thả tạo tội, mà người người đều biết."

Thơ chỉ trích này, chính là bậc thiện tri thức của tôi, thật rất tri ân. Tiếc thay, thơ không đề tên, lại không có địa chỉ hồi đáp. Người đó bảo:

- Nhờ thần minh của Ðại Sư, có thể biết được. Nếu có duyên với nhau, thỉnh cầu Ðại Sư hồi đáp.

Vì thế, tôi viết một lá thơ, gởi đến Hàng Châu, nhờ pháp sư Tâm Văn, kiểm xem lá thơ đó do ai viết, để hồi đáp thơ từ. Người đó bảo tôi rằng "tự xưng là bậc tổ sư; làm thầy tri thức của các học nhân; hạnh giải được tương ưng; làm bậc long tượng trong tông môn. Không hổ thẹn làm con mắt của trời người. Ngoài Ðại Sư ra, còn có ai đảm đương nổi!"

Việc chỉ trích đầu tiên của người đó là tôi "tự xưng là bậc tổ sư của thiền tông". Tôi nào dám tự xưng là bậc tổ sư như thế đâu. Song, người này lại tán thán "ngoài Ðại Sư ra, còn có ai đương đảm nổi!"

Lời này tôi thật không dám thừa nhận. Hỏi về việc truyền giới pháp, chính tôi không biết mình có đắc giới hay không, sao lại dám bảo truyền được hay không truyền được? Luận về việc hòa thượng để tóc dài, người khác thật không hiểu cho tôi. Lúc vừa xuất gia, vì chưa hiểu đạo lý, nên tôi lầm ngộ học hạnh đầu đà, quấn tóc kim cô. Sau này, bị thiện tri thức mắng chửi, nên mới cắt tóc. Từ đó, mỗi năm đến đêm trừ tịch, cắt tóc một lần. Bình thường, tôi không cắt tóc và cạo râu. Tôi vốn không có ý muốn để râu tóc dài. Chiếu theo giới pháp, phải nên cắt bỏ râu tóc. Phong tục trung thổ, dùng râu tóc làm tướng đại trượng phu. Thân thể, râu tóc, thọ từ cha mẹ, nên rất nhiều chư Tổ Sư ở Trung Thổ, vì hiếu thuận như người thế tục, mà lưu râu tóc lại.

Bàn về sự biến ở Vân Môn, người này lại trách tôi không rõ việc. Thật ra, việc này chẳng can hệ gì với tôi. Ai mất tích, ai vong mạng, tôi nào biết đến! Chư Tổ Sư xưa nay gặp nạn do quả báo túc nghiệp rất nhiều. Những lời này, vì tôi vẫn còn chấp, nên mới đối đáp. Bình thường, dùng lời người xưa để khuyên nhủ người khác, nhưng khi chính tự gặp nghịch cảnh, thì tự mình giải mở không nổi. Tin những lời chân thật của người xưa, nhưng hành không được, thật uổng công phí sức. Ðàm luận thuyết không không cũng vô ích. Hận cho mình, chỉ lo nói suông chữ không tầm xào. Tuổi già bịnh hoạn, không sức hành trì; khác với người xưa, muốn sống thì sống, muốn chết thì chết, đến đi tự tại.

Quý vị sơ phát tâm, đồng môn tham học, chớ đề cao hư danh, chớ nghe những lời rỗng tuếch của tôi. Nếu không tự nỗ lực tu hành, chỉ lo hướng ngoại truy cầu, thì không thể trụ tâm được. Hành trì không hạn cuộc tại gia hay xuất gia. Cả hai đều giống nhau.

Hôm nay, kể cho quý vị nghe một điển tích. Ðời Minh, ở tỉnh Vân Nam, có một vị họ Thái, sống ngoài thành Tiểu Ðông tại Côn Minh. Cha mẹ qua đời, để lại tài sản điền viên, nên cuộc sống sung túc. Song, ông vẫn cần mẫn lao động, tự trồng rau, đem ra chợ bán để sinh sống. Vợ trẻ đẹp, nhưng háu ăn làm biếng, thường cùng Dã Hán Tử tư thông. Ông tuy biết, nhưng không nói năng gì. Lâu sau, cô vợ không e ngại, nên ngày ngày tư thông với Dã Hán Tử, chẳng thèm đoái hoài đến chồng. Ngày nọ, ông đem rau ra chợ bán, rồi mua rượu thịt, trở về nhà thật sớm. Lúc đó, Dã Hán Tử đang tư thông cùng cô vợ, chưa kịp ra khỏi nhà, nên phải ẩn núp dưới sàng giưòng. Vào nhà, ông xuống bếp làm cơm. Cô vợ tuy biết có việc chi không hay, nhưng làm bộ rửa mặt, rồi vào nhà bếp, phụ ông chồng nấu nướng. Nấu nướng xong, ông bảo cô vợ bày biện chén đũa. Lúc cô vợ đặt để hai chén cơm, ông lại bảo:

- Hãy đặt thêm một chén cơm. Hôm nay tôi đãi khách.

Vừa đặt chén bát xong, ông bảo cô vợ mời khách ra ăn cơm uống rượu. Cô vợ ra vẻ kinh ngạc:

- Khách ở đâu?

Ông bảo:

- Ở trong phòng.

Cô vợ run rẩy nói:

- Chàng chớ nói bậy. Trong phòng làm gì có khách!

- Chớ sợ sệt, không có chuyện gì đâu! Hãy mời hắn ra. Nếu không chịu ra, tôi sẽ cho hắn một đao.

Cô vợ bất đắc dĩ phải vào kêu Dã Hán Tử ra. Ông mời Dã Hán Tử ngồi trên ghế cao, rồi cung kính, đưa rượu cho uống. Thấy Dã Hán Tử ngập ngừng, vì sợ trong rượu có chất độc, ông cầm ly rượu lên uống. Lúc đó, Dã Hán Tử mới an tâm. Ăn uống no nê xong, ông đứng dậy, lễ Dã Hán Tử ba lạy, bảo:

- Hôm nay thật là duyên lành! Vợ tôi trẻ đẹp, không ai ngó đến, nhưng nay được ông chiếu cố, thật là may mắn. Gia tài và vợ của tôi đây, nay giao cho ông hết. Xin hãy tiếp nhận!

Dã Hán Tử và cô vợ đều không dám nói năng chi. Ông liền cầm đao, bảo:

- Nếu không đáp ứng, tôi sẽ lấy mạng các người!

Hai người không biết làm gì, chỉ vâng dạ. Từ đó, một mình tay không, ông rời nhà đi đến núi Trường Tùng am Tây Lâm để xuất gia. Nơi đó, ông vừa tu hành vừa trồng rau để sinh sống. Sau này, công phu có phần tương đắc.

Bàn về Dã Hán Tử, sau khi thọ nhận tài sản và sắc đẹp, chỉ lo ăn uống chơi bời biếng nhác. Ngày ngày mắng chửi đánh đập cô vợ. Ăn ở không yên, cô vợ rất hối hận, chạy đến am Tây Lâm, thỉnh cầu ông chồng cũ trở về. Tưởng đâu ông sẽ vui mừng, nhưng ông lại chẳng thèm đếm xỉa đến cô ta. Sau này, Dã Hán Tử phá sạch cả gia tài, khiến cô vợ không còn nơi nương tựa. Nhớ đến ân tình của chồng cũ, cô ta định báo đáp. Lúc trước, ông thường thích ăn cá tươi đuôi vàng ở Côn Dương. Cô vợ liền đi mua vài con, đem về nướng, rồi mang đến am Tây Lâm. Ông cầm và bảo:

- Tôi tiếp nhận ân tình của cô, nhưng sẽ phóng sanh những con cá này.

Cô vợ bảo:

- Chúng đã bị nướng, không thể phóng sanh!

Ông liền bỏ cá xuống nước. Ðàn cá đều sống lại. Hiện nay, trong những truyện cổ tích tại Hắc Long Ðàm ở Côn Minh, có nhắc đến loại cá đó. Ông Thái tuy là người thế tục, nhưng đối với tài sản vợ con, đều xả bỏ được hết, nên tu đạo được thành công. Nay khuyên quý vị, hãy xả bỏ muôn duyên, nỗ lực tu hành, thì quả thánh sẽ có kỳ!

29/ Ngày hai mươi tháng năm.

Pháp của Phật thuyết ra, có thiên kinh vạn luận. Tựu chung, thiết yếu chỉ dạy chúng sanh tự hiểu rõ tâm tánh. Nếu ai nhận ra được tâm, thì đại địa chẳng có một tấc đất. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, bị vật xoay chuyển, đều vì cầu pháp ngoài tâm, mà không nhận ra tự tánh. Bổn gốc vốn không một vật, thì làm sao nắm bắt được muôn pháp. Vừa vọng chấp ngoài tâm có pháp, thì trở thành tà tri tà kiến. Song, bảo rằng nhận ra được tâm thì đại địa chẳng có một tấc đất, đó cũng còn tính toán. Thật ra, Phật thuyết tam quy y, năm giới cấm, ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, cùng muôn ngàn pháp môn, đều vì để đối trị tâm chúng sanh.

Tập khí xấu xa của chúng sanh, có tám mươi bốn ngàn loại phiền não. Vì thế, Phật thuyết ra tám mươi bốn ngàn pháp môn để đối trị. Ðó là thiện xảo phương tiện của Phật. Quý vị có bịnh gì thì Phật cho thuốc đó. Phật thuyết ra tất cả pháp, vì để độ tất cả tâm. Nếu không có tất cả tâm, cần dùng chi tất cả pháp? Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, bị vô minh phiền não làm ô nhiễm chân tâm, nên nhận lầm bốn đại làm thân tướng của mình, mà không biết nó vốn không có thật thể, chỉ do đất nước gió lửa hợp thành, đồng như huyễn hóa. Nay muốn xoay về cội nguồn, đầu tiên phải điều phục thân tâm, đoạn trừ tập khí, chuyển tâm thô thành tâm vi tế. Từ hữu vi tiến đến vô vi, khởi dụng công từ tự tánh thanh tịnh của pháp thân. Từ sáng đến tối, đi đứng nằm ngồi, như mài như giũa, cẩn thận chú ý, đoạn trừ tập khí. Mật phải lớn, và tâm phải vi tế. Mật lớn bao trùm thân tâm, không để cảnh chuyển. Tâm vi tế, tức khí lực phải vi tế, chớ khởi tâm thô khí phù. Những việc này, tự mình có thể kiểm nghiệm. Người nguời đều sống vội vàng hấp tấp, nên khí suyễn hơi thô. Người có công phu định lực, tuy bận rộn nhưng không có khí suyễn. Từ sáng đến tối, tâm bình khí hòa. Nhất tâm bất loạn tức là định. Vọng tưởng vốn không có thật thể. Có định tức không vọng tưởng, nên tự tìm lại được nguồn tâm. Vừa khởi công phu, phải bàn về oai nghi giáo tướng. Ði đứng nằm ngồi đều có oai nghi. Chớ bảo rằng vì bận rộn mà quên đi oai nghi giới hạnh cùng việc sanh tử. Làm đệ tử Như Lai, tức là thân quyến của tiên thánh, ra vào nơi cửa vàng, hành tạng nơi bảo điện. Phải ung dung tự tại đến những nơi sóng khởi ba đào, để truyển chuyển tích trượng, thăng lên hư không. Giả sử mười đại ma quân, nghe danh mà đến quy y chánh đạo, có nên vì đó mà quên giảng oai nghi không?

Xưa kia, ngài Viễn Lục tại núi Phù Sơn, bảo một vị tọa chủ:

- Nhờ trị tâm, nên mới cầu diệu ngộ. Ngộ đạo được thì thần hòa khí tĩnh, vọng tưởng tình ngưng, dung mạo trang nghiêm khả kính, phù hợp nơi chân tâm. Nhờ điều phục nên tâm tự linh diệu, rồi sau này mới chỉ dạy muôn loài.

Thế nên, người có mắt sáng, thấy mọi hành động cử chỉ oai nghi ra sao, thì biết quý vị tu hành như thế nào. Thuở xưa, khi còn làm bà la môn, ngài Xá Lợi Phất gặp tôn giả Mã Thắng. Do thấy oai nghi uy nghiêm của tôn giả Mã Thắng, ngài Xá Lợi Phất bèn khởi tâm cung kính, và đi theo hỏi pháp. Tôn giả Mã Thắng bảo:

"Các pháp từ duyên sanh

Các pháp từ duyên diệt

Thầy tôi đại sa môn

Thường thuyết lời như thế."

Nghe bài kệ này, ngài Xá Lợi Phất liền đắc pháp nhãn thanh tịnh. Trở về, Ngài đọc lại bài kệ này cho Mục Kiền Liên nghe. Nghe xong, ngài Mục Kiền Liên cũng đắc được pháp nhãn thanh tịnh. Tức thời, cả hai ngài liền dẫn một trăm đệ tử, đến vườn Trúc Lâm, cầu xin xuất gia. Khi đó, Phật bảo:

- Thiện lai tỳ kheo!

Phật vừa nói xong, bất chợt râu tóc của hai ngài đều tự rụng xuống, y ca sa tự quấn thân, tức thành sa môn.

Quý vị thấy đó, tôn giả Mã Thắng đi trên đường lộ, oai nghi nghiêm túc, khiến thành tựu được công đức như thế. Ðấy là dùng oai nghi mà dạy người.

Quý vị sơ phát tâm, đồng tham học! Phải nên hướng theo người xưa mà học tập, cùng nhất tâm quán chiếu chính mình; đi đứng nằm ngồi, trong mười hai thời, đều để vô tâm không bị cảnh chuyển. Nếu không giữ bổn phận như thế, bị lưu chuyển mãi theo vọng tình, thì có khác gì người thế tục? Tuy nói xuất gia tu đạo, nhưng đều là lời trống không vô ích. Quý vị hãy lưu tâm.

30/ Ngày hai mươi mốt tháng năm.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo:

- Như khi Ta chỉ ngón tay, hải ấn phát quang. Ngược lại, ông vừa khởi tâm, thì trần lao liền nổi lên.

Kinh Lăng Nghiêm, do ngài A Nan phát khởi, thị hiện làm mô phạm cho chúng ta. Toàn bộ kinh, chú trọng chữ dâm dục. Do từ chữ dâm dục mà Phật thuyết ra rất nhiều ngôn từ. Ðầu tiên, ngài A Nan thị hiện, đi khất thực, qua nhà dâm nữ, bị Ma Ðăng Già dùng thần chú Tiên Phạm Thiên Bà Tỳ Ca La, nhiếp dẫn vào phòng dâm. Nơi dâm cung phủ ma, sắp đoạn giới thể. Như Lai biết ngài A Nan bị ma thuật mê hoặc, nên thọ trai xong, liền trở về tịnh xá. Vua quan đại thần trưởng giả cư sĩ, đồng đi theo Phật, vì nguyện muốn nghe pháp yếu. Bấy giờ Thế Tôn, đảnh phóng trăm luồng ánh sáng bảo quý vô úy. Trong các luồng ánh sáng, xuất hiện các hoa sen báu ngàn cánh; trong đó có hóa thân Phật, ngồi xếp bằng đoan tọa, tuyên thuyết thần chú, rồi sai ngài Văn Thù, đem thần chú đến, cứu hộ ngài A Nan. Khi ấy, ác chú liền tiêu mất. Bồ Tát Văn Thù dẫn ngài A Nan cùng dâm nữ Ma Ðăng Già, trở về nơi Phật trú. A Nan vừa thấy Phật, đảnh lễ rơi lệ, hối hận từ vô thủy đến nay, chỉ hướng đa văn, chưa hoàn toàn đủ đạo lực, nên ân cần khải thỉnh, mười phương Như Lai, mở phương tiện đầu tiên, để đắc thành Bồ Ðề, diệu Xa Ma Tha, Tam Ma Thiền Na. Phật ứng theo lời thỉnh cầu, nên thuyết ra bộ kinh Lăng Nghiêm. Ngài A Nan gặp dâm nữ Ma Ðăng Già, không thể làm chủ được. Ðấy là Bồ Tát thị hiện vào thế gian, chẳng do ái dục, mà chỉ vì tâm từ bi, muốn chúng ta xả ái, cùng các tham dục, nên nhập vào sanh tử, giả việc tham ái. Kinh Viên Giác nói: "Tất cả chúng sanh, từ đời vô thủy đến nay, do vì bao loại ân ái tham dục, nên bị luân hồi. Tất cả chủng tánh, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, đều nhân dâm dục mà sanh ra tánh mạng. Phải biết luân hồi, ái dục là cội gốc."

Thế nên bảo:

- Luân hồi trong ba cõi, dâm dục làm gốc. Qua lại sáu đường, ái dục làm nền tảng.

Trên thế gian, có người xuất gia kẻ tại gia, lại có người vì đạo và không vì đạo. Do không rõ tự tánh, nên đều bị năm món dục lạc xoay cuốn tới lui. Năm dục là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, thức ăn, ngủ nghỉ. Do năm món dục lạc này, mà khởi ra thất tình: Vui vẻ, bực tức, buồn bả, sung sướng, thương mến, oán ghét, mong muốn. Thất tình lại trói chặt năm món dục lạc. Vì vậy, không thể cắt đứt sanh tử.

Kinh nói: "Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề, dùng tiền tài làm mạng sống."

Lúc nhập thai, khởi đầu do dâm dục. Ðến khi sanh ra, lại dùng tiền tài làm chủ yếu. Hòa thượng Quảng Huệ, khuyên người chớ tham tài lợi:

- Tất cả nghiệp tội, đều nhân vì đắm chấp vào tiền tài vật chất mà sanh ra.

Thế nên, trong năm món dục, đầu tiên là tiền tài. Người có tiền tài, mới có y phục, thức ăn chỗ ở, rồi mong muốn nữ sắc, phụ nữ thê thiếp. Người nghèo cùng, thì làm việc gì cũng khó thành. Chứng minh, tiền tài rất lợi hại. Người thế gian dùng tiền tài làm nguồn vui. Không tiền thì khổ đau, nên mong muốn có tiền. Có được chút đỉnh thì lại muốn nhiều thêm. Có được bạch ngân, lại thích vàng ròng, chẳng hề biết đủ. Họ chỉ lo thân mình, và tính toán cho con cháu. Cả đời khổ nhọc, bận bịu vì tiền tài, mà không biết rằng có tiền nhưng khó mua được con cháu hiền lành. Khi vô thường đến, một mảnh giấy cũng không mang theo được. Phải nên nhìn thấu suốt tiền tài.

Xưa kia, có ba gã ăn xin, cùng đi trên đường. Cả ba đồng chợt thấy một đồng tiền trên đất. Gã thứ nhất định nhặt lấy, nhưng bị gã thứ hai ngăn lại, bảo:

- Tôi thấy đồng tiền đó trước, nên nó phải về tay tôi.

Gã thứ ba cũng bảo:

- Tôi thấy trước hết, nên nó phải thuộc về tôi.

Ba gã ăn mày chỉ vì một đồng tiền này mà tranh cãi đánh nhau trên đường phố. Quân lính tuần hành, đi ngang qua thấy họ đánh nhau rất hung hăng; vì sợ sẽ tổn thương tánh mạng, nên quân lính bắt cả ba về dinh phủ, phán xử thị phi. Quan huyện ngồi trên tòa, tra hỏi rõ nguyên do, bảo:

- Các ông không nên tranh nhau vì đồng tiền này.

Cả ba đồng nói:

- Chúng tôi bần cùng đến mức này, sao lại không tranh đồng tiền đó?

- Vậy thì, mỗi người các ông hãy kể việc nghèo cùng của mình. Nếu ai là người thật rất nghèo cùng, thì Ta sẽ đưa đồng tiền này cho.

Gã thứ nhất nói:

- Tôi thật rất nghèo cùng, vì nóc nhà lủng thấu trời xanh; y phục rách rưới không chỉ vá; thường lấy ngói gạch làm gối, và lấy cỏ xanh làm nệm.

Gã thứ hai bảo:

- Tôi còn nghèo cùng hơn nữa, vì trời xanh là nóc nhà, y phục chẳng che được nửa thân, gối là búi tóc, gân cốt là nệm chiếu.

Gã thứ ba bảo:

- Họ không nghèo cùng bằng tôi. Tôi bị đói khát cả chục ngày, ngủ mộng cả nửa năm, chết không nhắm mắt, chỉ vì đồng tiền này.

Quan nghe thế, liền cười to. Ðây là câu chuyện tham tiền hài hước.

Ðức Thế Tôn thuyết pháp, giảng giải tiền tài mê hoặc người đời, thật không gì diễn tả hết. Ða số người xuất gia cũng bị tiền tài làm mê hoặc. Xưa đồng tiền, nay là giấy bạc. Chúng trói buộc đến chết. Rời chúng thì chẳng sống được qua ngày. Quý vị muốn trồng trọt, làm ruộng vườn thì phải có công cụ cuốc xẻng. Không tiền thì không thể mua được dụng cụ cuốc xẻng, nên không thể trồng trọt chi hết. Chúng ta bận rộn suốt ngày, có phải chỉ vì tiền bạc thôi sao?

Người thế tục ăn mặc nếu đầy đủ rồi, lại tham đắm sắc dục. Chữ sắc này đã hại không biết bao nhiêu người. Xưa kia, các vua chúa đế vương, chỉ vì tham sắc mà mất nước không ít. Thuở xưa, vua nhà Thương, tức Hạ Kiệt, mang quân đi chinh phạt, toàn thắng bắt được Muội Hỷ đem về làm vợ. Vì hoang dâm vô đạo, nên nhà Thương mới bị đoạn diệt. Vua Trụ nhà Thương luyến ái Ðắc Kỷ, đam mê tửu sắc, bạo ngược vô đạo. Khi bị Châu Võ Vương chinh phạt, khiến quân binh tán loạn, nên Trụ Vương phải tự sát. Thời xưa chưa có điện thoại điện báo, cảnh sát biên phòng, nên khi giặc đến, chỉ đốt cỏ khô làm hiệu. Phương pháp là lập một đài cao. Trên đài có một cái gác. Trên gác có một cái giỏ. Trong giỏ có chứa cỏ khô. Nếu có giặc đến, liền đốt lửa làm hiệu, gọi là phong toại. Khi lửa hiệu được đốt lên, thì những đài bên cạnh lập tức báo cho quân phòng thủ. Châu U Vương ân sủng chiều chuộng Bao Tự, nhưng nàng ta chẳng bao giờ cười đùa. Châu U Vương đốt lửa để hiệu triệu các nước chư hầu. Quân chư hầu đến, nhưng không thấy giặc, chỉ nghe tiếng nàng Bao Tự cười to. Sau này, Tây Di Khuyển Nhung theo giặc vây thành. Châu U Vương liền đốt lửa làm hiệu, nhưng quân chư hầu không màng đến. Khuyển Nhung xua quân chiếm thành, giết Châu U Vương dưới chân núi Li Sơn, cùng bắt đi Bao Tự. Vì vua đốt lửa hiệu, trêu ghẹo quân chư hầu, nên phải bị mất mạng. Họa tham sắc dục, vô lượng vô biên, kể không thể hết.

Lợi và danh đi liền với nhau. Danh có tốt có xấu, hoặc lưu tiếng thơm trăm đời, hay để vết nhơ muôn thuở. Ðiển hình là tam hoàng ngũ đế, thánh quân hiền vương. Vua Vũ nhà Hạ vâng lệnh lo việc dẫn thủy nhập điền; tám năm ra ngoài lao tâm cực khổ, ba lần đi ngang qua nhà mà không dám bước vào. Ông khai chín châu, thông chín đại lộ, đào chín sông, vạch chín núi. Làm xong nhiệm vụ đó, ông ta lại định lập thuế má, lệ cống, chế năm loại y phục, cùng khiến các nước lân bang thần phục.

Ðời vua Thang, có gã thợ săn sau khi đặt lưới bẫy chim, liền cầu nguyện: "Từ trên trời xuống, từ dưới đất vọt lên, bốn phương các loại chim chóc, hãy đều chui vào lưới này."

Nghe lời này, vua Thang than thở:

- Ô hởi! Như vậy hắn muốn bắt hết mọi loài chim chóc sao!

Nói xong, vua Thang ra lệnh cho gã thợ săn hãy mở lưới bẫy ra ba bên, chỉ còn chừa lại một bên, rồi dạy hắn ta, nên cầu nguyện như vầy:

- Nếu muốn bay bên trái thì bay. Nếu muốn bay bên phải thì bay. Nếu không còn muốn thân mạng nữa, thì hãy bay vào lưới võng này.

Ðây là do đạo đức thấm nhuần, nên chư thánh lưu danh muôn thuở.

Vương Bổn, Tào Tháo, Tần Tăng, để lại vết nhơ muôn đời. Chư Phật chư Bồ Tát, chư đại tổ sư, đạo đức chân thật. Tuy các ngài không cầu danh mà danh vẫn lưu thiên cổ. Tỳ kheo Thiện Tinh, tỳ kheo ny Bảo Liên Hương, nghiệp tội thâm trọng nên đọa địa ngục, khiến lưu vết nhơ muôn năm.

Danh này cũng hại người. Nếu mình được khen là giỏi, có đạo đức, hoặc thường làm những việc khó làm, thì sanh tâm vui thích; đó là háo danh. Bị chửi mắng khiến không vui, cũng vì danh. Ðược khen hay chê dở, nói chung đều bị danh xoay chuyển. Trước mặt, ẩn náo súng đạn. Sau lưng khó tránh hỏa tiển.

Xưa kia, nơi thiền đường, dùng ngọ xong lại có cháo điểm tâm, rồi lên chánh điện lễ Phật, đến giám liêu uống trà đàm luận. Ðược khen rằng mình dụng công rất hay, liền sanh tâm hoan hỷ. Bị chê là dụng công không giỏi, thì đôi má ửng hồng, xả không nổi. Các vị tiểu tọa cũng như thế. Ðược khen là hay thì sanh tâm vui vẻ. Bị chê là dở thì sanh tâm bực tức. Ðó cũng là bị danh chuyển.

Ăn uống cũng rất lợi hại. Quân tử ăn không cầu no, ở không cầu an. Người xưa nhất tâm tại đạo, ăn rau dại để no lòng. Tâm định thì rau tươi cỏ dại đều có mùi vị. Hòa thượng Long Sơn tại Ðàm Châu bảo:

"Một ao lá sen, y vô số

Hoa tùng ngập đất, ăn vẫn dư

Vừa bị người đời biết nơi trú

Lại dời am thất vào thâm u."

Người thế gian tham ăn, chấp trước mùi vị ngọt chua mặn đắng. Ai ai cũng thích mùi ngon vật lạ, nên sát sanh hại mạng, để thỏa thích miệng mồm bao tử. Người thích ăn chay, nhưng khi nấu nướng lại bỏ hành tỏi mỡ gà mỡ heo, để món ăn ngon hơn; chẳng bỏ được tập khí giết sanh hại mạng, vì tâm tánh giết hại vẫn còn. Tuy không ăn thịt, nhưng lại dùng dầu mỡ động vật cùng hành tỏi, thì vẫn phạm giới. Dẫu thức ăn ngon hay dở, một khi đã xuống bao tử rồi thì thành phẩn uế. Sao lại tham cầu cao lương mỹ vị, tranh nhau không ngừng! Ăn càng nhiều thì thải bỏ phẩn uế càng nhiều, có hay ho chi đâu!

Ngủ lại không thể bàn hết. Một năm có ba trăm sáu mươi ngày. Một ngày có hai mươi bốn tiếng. Ban ngày làm việc, tối đến mơ mộng. Bình thường, một năm ngủ khoảng một trăm tám mươi ngày. Việc ngủ nghỉ chiếm rất nhiều thì giờ, thật hại chết người. Người chân chánh tu hành, rất mến tiếc thời gian. Kinh Di Giáo bảo: "Ban ngày chuyên cần tu tập pháp lành, không để mất thời gian. Ðầu hôm cuối hôm, cũng chớ bỏ phế công phu. Giữa đêm tụng kinh, lấy đó làm việc nghỉ ngơi. Nếu cứ mộng mị vô cớ, thì một đời trải qua vô ích, không đắc được gì cả."

Do đó, tối đến nếu có mộng mị, phải đổi cách thức tu thiền hay úng dụng các pháp tu khác, để hàng phục ma ngủ. Người háu ăn làm biếng, chỉ ưa tham ngủ, thường không thể phát đạo tâm, không biết sám hối. Vừa tỉnh giấc bên trái, lại xoay qua ngủ bên phải. Buổi khuya ngủ chưa đủ, ban ngày lại ngủ thêm để bù đắp. Xem kinh nghe pháp, ngồi thiền niệm Phật cũng ngủ gật, bỏ phí thời giờ rất nhiều, vậy mục đích cứu cánh xuất gia để làm gì?

Cổ đức bảo:

- Nghe chuông, nằm lăn không dậy, khiến hộ pháp thiện thần quở. Hiện đời phước đức giảm; chết rồi đọa làm thân rắn.

Ngài Quy Sơn bảo:

- Thường thấy những kẻ sơ phát tâm, giải đãi làm biếng, ham ăn ngủ nghỉ, sống cuộc đời vô ích trên thế gian. Thật đáng thương thay, ai bi thiết tâm! Không đành ngậm miệng, nên phải nói lời răn nhắc này.

Hy vọng, người có tâm cầu đạo, nguyện vượt ra sanh tử, chớ để năm món dục lạc, cùng thất tình xoay chuyển. Hãy nỗ lực chuyên cần tu hành, chớ để thời gian trôi qua vô ích.

31/ Ngày hai mươi ba tháng năm.

Quân lệnh ở thế gian rất nghiêm khắc. Ban hành lệnh như trời long đất lở, chẳng có ai dám vi phạm. Pháp của Phật thuyết ra cũng như quân lệnh. Là đệ tử Phật phải y giáo phụng hành, quyết không vi phạm chút tơ hào. Hôm trước, tôi có nói về việc lúc làm lễ Bố Tát, thầy thượng tọa răn nhắc Sa Di:

- Các con phải thanh tịnh thân miệng ý, chuyên cần học tập thánh giáo kinh luật luận, cẩn trọng chớ phóng dật.

Ðã xuất gia, phải nhớ đến nỗi thống khổ của sanh tử, như cứu lửa cháy đầu, sao lại phóng dật lười biếng? Chuyên cần học tập kinh luật luận, tức ba tạng thánh giáo, để tìm ra con đường và phương pháp thoát khỏi sanh tử. Kinh luật luận gọi là ba đại tạng. Ba đại tạng tàng chứa hết tất cả văn nghĩa. Kinh nói về học định. Luận nói về học giới. Luận nói về học huệ. Ba tạng này tức là ba học. Kinh có hai nghĩa là thường và pháp, hay kinh tuyến và tràng hoa. Tiếng Phạn gọi tạng kinh là Tố Ðản Lãm Giám, hay Tu Ða La, được dịch là tràng dây; vì đây là lời của đức Phật, có thể nối buộc tất cả pháp, như tràng hoa nối liền tất cả nụ hoa với nhau. Tiếng Phạn gọi tạng luật là tạng Tỳ Nại Da hay Tỳ Ni, được dịch là Diệt, tức diệt ba nghiệp xấu. Tiếng Phạn gọi tạng luận là A Tỳ Ðạt Ma hay A Tỳ Ðàm, dịch là đối pháp, tức dùng trí huệ thù thắng đối quán chân lý mà chấp trì danh xưng. Lại được dịch là pháp vô so tỷ, tức trí huệ tối thắng, không gì so sánh. Tên riêng của tạng luận là Ưu Bà Ðề Xá, dịch là luận, tức luận tánh tướng chư pháp mà phát sanh trí huệ thù thắng.

Người thọ giới tại tam đàn đại giới là những vị Bồ Tát và đại trượng phu. Người đã phát tâm Bồ Ðề, phải làm những việc của bậc đại trượng phu và chư Bồ Tát. Bồ Ðề là tiếng Phạn, dịch là đạo. Ðạo tức là tâm, và là lý; nghĩa là diệu lý của tâm. Thể của tâm đồng với hư không, biến khắp ba cõi mười phương, xum la vạn tượng. Phát tâm Bồ Ðề như thế, tức là Bồ Tát đại trượng phu.

Chư Phật từ bi thuyết ba thừa pháp, muôn loại minh triết. Bàn về giới, Phật chế luật là tỳ kheo năm năm đầu chuyên cần học giới luật cho tường tận. Năm năm sau, đi khắp nơi nghe giáo tham thiền. Chứng minh, việc học giới và giữ giới của đệ tử Phật rất quan trọng. Trong kinh Phạm Võng, có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Phạm mười giới trọng tức phạm tội ba la di. Ba la di dịch là ti tiện, hay thối đọa, bất cộng trụ, đọa nơi bất như ý, đoạn đầu, bị kẻ khác thắng v.v... Phạm giới này là phạm tội nặng nhất trong giới luật. Trong luật lại có khai giới cùng giá giới, mà đại thừa và tiểu thừa không đồng. Khai có nghĩa là hứa. Giá có nghĩa là chỉ. Hứa làm gọi là khai. Cấm làm gọi là giá. Muốn khai phải xem thời tiết nhân duyên, cùng phương tiện bên ngoài. Không có nhân duyên thì không thể khai. Giá tức là nhất giá hay vĩnh viễn giá. Tiểu thừa và đại thừa có rất nhiều sự tương phản. Trì của tiểu thừa tức là phạm của đại thừa. Trì của đại thừa tức là phạm của tiểu thừa. Ðiều lệ và ngôn từ rõ ràng, hãy xem quyển Tỳ Ni Chỉ Trì Tác Trì.

Trong giới cụ túc, tỳ kheo có hai trăm năm mươi giới. Tỳ kheo ny có ba trăm bốn mươi tám giới. Những giới này, phân ra làm năm thiên:

Thứ nhất, Ba La Di là tội nặng nhất, được dịch là đoạn đầu; nếu phạm thì không thể trở thành tỳ kheo, như đầu bị cắt. Nơi thiên này, tỳ kheo có bốn giới, và tỳ kheo ny có tám giới.

Thứ hai, tội Tăng Tàng, tiếng Phạn gọi là Tăng Già Bà Thi Sa. Tăng tức là lược nói về tăng già. Tàng dịch là Bà Thi Sa. Tỳ kheo nếu phạm giới này thì gần bị chết, nhưng còn mạng tàn dư, nên phải sám hối trước tăng chúng, thì mới được toàn mạng. Do đó, gọi là Tăng Tàng. Nơi thiên này, tỳ kheo có mười ba giới, còn tỳ kheo ny thì có mười bảy giới.

Thứ ba, tội Ba Dật Ðề, dịch là đọa, tức đọa địa ngục. Nơi thiên này, tỳ kheo có một trăm hai mươi bốn giới, còn tỳ kheo ny thì có hai trăm lẻ tám giới.

Thứ tư, tội Ðề Xá Ni hay Ba La Ðề Xá, dịch là hướng bỉ hối, tức sám hối trước một vị tỳ kheo thanh tịnh. Nơi thiên này, tỳ kheo có bốn giới, còn tỳ kheo ny thì có tám giới.

Thứ năm, tội Ðột Kiết La, dịch là ác tác; tội này nhẹ. Nơi thiên này, tỳ kheo có một trăm pháp chúng học, hai pháp bất định, bảy pháp diệt tranh, cộng thành một trăm lẻ chín giới. Tỳ kheo ny có một trăm pháp chúng học và bảy pháp diệt tranh.

Tỳ kheo nghiêm thủ hai trăm năm mươi giới trong ba nghiệp bốn oai nghi, tức trở thành ba ngàn oai nghi. Mười hai thời khắc luôn tuân thủ tôn chiếu, trì tụng năm mươi bài kệ chú nhỏ trong quyển Tỳ Ni Nhật Tụng. Hàng phục tâm và chế thân không cho làm việc ác.

Bàn về ba tụ viên giới, mỗi giới đều có đủ nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới. Ví dụ, giới cấm giết hại có đầy đủ ba tụ. Xa rời nghiệp ác giết hại, nên gọi là nhiếp luật nghi giới. Vì trưởng dưỡng tâm từ bi mà không giết hại, nên gọi là nhiếp thiện pháp giới. Vì bảo hộ chúng sanh mà không giết hại, nên gọi là nhiêu ích hữu tình giới. Kinh Lăng Nghiêm bảo: "Nếu chư tỳ kheo không mặc áo tơ lụa, đi giày dép da thú, mặc y lông cừu chim chóc, uống sữa đề hồ, thì là chân chánh giải thoát, và không còn trả nghiệp báo, cùng chẳng còn dạo trong ba cõi."

Do nhân duyên, tiểu thừa có thể ăn thịt uống sữa. Bồ Tát không thể ăn thịt, mặc tơ lụa, đắp áo lông cừu chim chóc. Ðây là sự khác biệt giữa giới khai, giá, trì, phạm của tiểu thừa và đại thừa.

Lại nữa, tỳ kheo không được giữ tiền, không giữ một hạt gạo, không ăn thức ăn để qua đêm. Ngày nào khất thực được bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu. Phần thức ăn dư thừa, không được giữ lại qua đêm. Bồ Tát được khai mở, tức là cầm giữ tiền thì không phạm. Rượu là giá giới trọng căn bản của năm căn, nên đại thừa và tiểu thừa không chuẩn cho khai. Chỉ trừ lúc bịnh nặng, ngoài rượu ra không còn thuốc gì để trị, thì phải bạch trước đại chúng, rồi mới được dùng. Nhân duyên khai giá của giới luật rất vi tế, phải thâm nhập nghiên cứu kỹ càng mới có thể hiểu rõ. Phật giáo hưng thịnh hay suy vi, đều do còn giới hay không. Tỳ kheo phạm giới, như trùng trên thân sư tử, ăn thịt sư tử. Thế nên, lúc sắp viên tịch, Phật thuyết kinh Niết Bàn, bảo chư tỳ kheo phải lấy giới luật làm thầy, thì Phật pháp mới trụ thế lâu dài được.

Phật lại thuyết tứ y pháp, tức là bốn pháp phải nên nương y vào. Thứ nhất, mặc y phấn tảo. Thứ hai, thường đi khất thực. Thứ ba, ngồi trú dưới gốc cây. Thứ tư, dùng thuốc cũ. Bốn loại pháp này là nhân duyên nhập đạo, và là nơi nương tựa của bậc thượng căn lợi khí, nên gọi là tứ y pháp, cũng gọi là bốn hạt giống thánh, vì khiến nhập vào thánh đạo.

Y phấn tảo được gọi là nạp y. Tỳ kheo dùng những mảnh vải thiêu đốt còn dư lại, vải bị trâu nhặm chuột cắn, vải của người chết bỏ lại, vải bị ngâm nước, vải bị người đời vứt bỏ vì hôi thúi. Lượm những mảnh vải đó, đem về giặt sạch, rồi may đắp thành y, nên gọi là y phấn tảo. Dùng từng miếng vải, may kết lại thành, nên cũng gọi là nạp y. Tỳ kheo dùng y phấn tảo, nên không cần dùng y do đàn việt bố thí. Ngay nơi đó, lìa được tâm tham trước.

Khất thực, tiếng Phạn gọi là Phân Vệ. Kinh Mười Hai Hạnh Ðầu Ðà bảo: "Có ba loại thức ăn. Thứ nhất, thức ăn được mời thỉnh. Thứ hai, thức ăn của tăng chúng. Thứ ba, thức ăn do đi khất thực mà có. Hai loại thức ăn đầu là nhân duyên khởi lậu. Tại sao? Người được thọ thỉnh, thường tự cho đó là phước đức của mình. Nếu không được thỉnh mời thì lại sanh tâm oán ghét người thí chủ, hoặc tự khinh rẻ mình, tức vì tâm tham lam mà ưu sầu, khiến làm chướng ngại đạo. Ðối với thức ăn của tăng chúng, phải thường theo đại chúng mà dùng. Vị trai chủ phải trình thưa với tăng tri sự. Tâm nếu tán loạn mà thọ thức ăn đó, thì phá hoại sự hành đạo. Vì những nhân duyên đó, phải thường hành pháp khất thực."

Mỗi đêm, ngủ dưới gốc cây, mà không trú trong nhà. Mỗi ngày ăn cơm một lần.

Kế đến, tỳ kheo có bịnh thì không cầu thỉnh thầy thuốc, không dùng thuốc mới, chỉ dùng thuốc mà người vứt bỏ. Bịnh có lành hay không, đều để tự nhiên. Hiện tại, chư tỳ kheo có ai thủ trì được? Vừa bị bịnh thì bèn có bác sĩ đông y tây y cho những toa thuốc bổ phẩm. Ðã lâu, không còn ai hành tứ y pháp này.

Tỳ kheo là tiếng Phạn, được gọi là trừ cận, khất sĩ, phá ác, bố ma. Tỳ kheo làm phước điền cho thế gian. Nếu có ai cúng dường cho vị tỳ kheo chân chánh một bát cơm, hay nghe vị đó thuyết một bài pháp, thì sẽ tiêu trừ tất cả hoạn nạn cơ cẩn bần cùng, nên gọi là Trừ Cận. Khất Sĩ tức là trên khất cầu pháp của Như Lai để trưởng dưỡng huệ mạng, và dưới khất thực thức ăn của người thế tục để nuôi thân. Khất thực nơi Phật pháp tức là cầu pháp ba mươi bảy phẩm trợ đạo, như tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, năm căn, năm lực, bảy Bồ Ðề phần, tám chánh đạo. Phá Ác tức là phá trừ tất cả nghiệp ác do thân miệng ý tạo ra, và chuyển đổi chúng thành mười nghiệp lành. Bố Ma tức là khi vừa xuất gia thọ giới tỳ kheo, liền thoát khỏi quyến thuộc của ma, nên cung ma bị chấn động, khiến chúng sợ hãi.

Chúng ta đã là tỳ kheo, vậy thì ai dám tự bảo mình là tỳ kheo chân chánh? Xuất gia vì muốn cắt đứt dòng sanh tử, nên phải y theo pháp mà phụng hành. Miệng tụng và tâm phải tư duy. Sáng tối tẩy rửa thân tâm, không để tham lam sân si ái kiến của thế gian xoay chuyển, cũng không nên khởi nhân ngã thị phi, háu ăn làm biếng.

32/ Ngày hai mươi sáu tháng năm.

Câu đầu trong thiên hai mươi của quyển Luận Ngữ, Khổng Tử bảo:

- Học phải thường hành.

Khổng Tử dạy đồ đệ rằng học xong việc gì thì phải hành việc đó. Trong động hay tĩnh, luôn luôn nhớ đến và niệm niệm chẳng quên. Nếu chỉ học đại khái sơ sài, thì công phu không thể tương ưng, và không thể đạt đến cứu cánh. Pháp thế gian và Phật pháp đều như thế. Phải vừa học vừa hành. Phật pháp là thể. Pháp thế gian là dụng. Thể là lý, tức chân đế. Dụng là sự, tức tục đế. Phải biết đạo lý tam muội ấn của hai đế viên dung vô ngại. Nếu không dung thông thì lạc vào sự bất quân bình. Rời thể mà biểu thị sự, tức là phàm phu phàm tình. Rời sự mà giảng tâm, thì không hiểu tâm địa. Hai đế chân và tục, tên gọi rất nhiều. Chân là thể. Tục là dụng. Trong giới định huệ đều có thể và dụng. Chúng là những danh tự xuất phát từ tâm địa. Nếu có thể quán thông dung hội, thì đại đạo liền thông tận Trường An.

Xưa kia, tăng hỏi Triệu Châu:

- Thế nào là đạo?

Triệu Châu đáp:

- Bên ngoài bức tường!

- Không hỏi đạo đó.

- Vậy ông hỏi đạo nào?

- Ðại đạo.

- Ðại đạo thông Trường An!

Lý này như thế nào? Xin quý vị hãy tham cứu. Hiểu rõ thì nơi nơi đều là Phật pháp. Không hiểu rõ thì cứ chấp mãi trên danh tướng. Từ sáng đến tối, bôn ba bận rộn làm ruộng ăn cơm, có khác gì với người thế tục? Hiện tại, có nhiều người cư sĩ cạo đầu. Tăng sĩ lại cũng ăn mặc như người thế tục. Như thế, nơi hình tướng bên ngoài làm sao phân biệt được kẻ tăng người tục?

Người xưa bảo:

- Ruộng tâm chẳng trưởng dưỡng cỏ vô minh. Ðất tánh thường khai hoa trí huệ.

Ðây là đại đạo thông tận Trường An, tức là nơi khác biệt với người thế tục.

Người trồng lúa, nếu không nhổ cỏ dại thì khó mà thu hoạch lúa thóc thành tựu. Người tu hành nhổ sạch cỏ vô minh trong ruộng tâm, thì hoa trí huệ mới khai nở. Ðiều thiết yếu, nếu không để cảnh chuyển và tình không phụ vật, thì cỏ vô minh không thể tăng trưởng. Một khi hoa trí huệ khai nở, thì dầu lời thô ngữ tế đều thuyết lý vô sanh. Người xưa làm được nói được, chứ chẳng giảng lời nói suông trống rỗng. Một câu hỏi một câu đáp, tức là trả lời tại câu hỏi; thổ lộ tâm cơ, biết tất cả đều là diệu dụng. Tâm của chúng ta vì không thường trụ nơi đạo, nên luôn bị cảnh chuyển, và không thể khởi trí huệ chân thật. Nếu thường khởi niệm thống thiết vì khổ sanh tử, và tâm hoàn toàn trụ tại đạo, thì không phân biệt pháp thế gian, pháp xuất thế gian, là nam là nữ, vừa ý hay không vừa ý. Vừa khởi động niệm, tức ma xuất hiện, bị cảnh chuyển. Không phân biệt tức tự làm chủ được, mà không bị cảnh tình chuyển. Người xưa bảo:

- Quý vị có cây tích trượng. Tôi lại cho quý vị thêm một cây tích trượng.

Ðây là pháp biểu thị. Vì vọng tưởng quá nhiều, tức là quý vị có cây tích trượng. Muốn dẹp trừ vọng tưởng, nên tôi dạy quý vị tu pháp quán sổ tức, quán thân bất tịnh, quán tưởng niệm Phật, tụng kinh lễ Phật, tham khán thoại đầu. Cho quý vị pháp môn tu hành, tức cho quý vị cây tích trượng. Khi dụng công, nếu quý vị có chút thọ dụng, thì trụ nơi vô sự. Có chướng ngại tức cây tích trượng của quý vị thật vô dụng. Vì thế, nay tôi đoạt lấy cây tích trượng của quý vị. Lành bịnh rồi thì không cần dùng thuốc mãi. Ngược lại, cứ chấp trước dùng thuốc mãi thì sẽ sanh thêm bịnh. Ðây là nghĩa đoạt lấy cây tích trượng của quý vị. Ngài Thái Dương bảo:

"Chớ chấp núi lạnh khác cỏ xanh

Ngồi trên mây trắng, tông chẳng diệu."

Trong mọi thời, tham thiền niệm Phật cần thiết là miệng niệm tâm tư duy. Mở miệng ngỏ lời mà không phân biệt thị phi, thì suốt ngày được giải thoát; không phiền não, và không khởi tâm động niệm, thì mới có công phu. Nếu không giữ tâm mà để cảnh chuyển, tức sanh phiền não, nên dụng công không có phần lợi ích, và nơi nơi đều bị sóng ngập đầy trời. Xưa kia, lúc đang nhập thất, thấy Tô Ðông Pha đến, thiền sư Phật Ấn bảo:

- Nơi đây không có chỗ ngồi.

Tô Ðông Pha nói:

- Tạm mượn thân tứ đại của Ngài làm ghế ngồi.

- Sơn tăng có câu hỏi, nếu học sĩ đáp được thì thỉnh ngồi, bằng ngược lại, hãy để vòng ngọc đái nơi đây.

Tô Ðông Pha đồng ý. Thiền sư bèn hỏi:

- Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng thật có. Vậy cư sĩ ngồi được chỗ nào?

Tô Ðông Pha không đáp được, bèn để lại vòng ngọc đái. Thiền sư cười, rồi nhận lấy. Tô Ðông Pha viết kệ:

"Lưng bịnh khó đưa vòng ngọc đái

Ðộn căn nên cung kiếm lạc đường

Muốn dạy nàng hầu biết ăn xin

Lại cùng Vân Sơn đắp y cũ."

Tô Ðông Pha tuy thông minh, nhưng đối đáp không ra lời, vì chưa bước đến nơi thật địa.

Quý vị đồng tham học, làm sao để đến nơi thật địa? Chỉ thiết yếu, miệng niệm tâm tư duy, tinh tấn tẩy rửa suốt ngày.

33/ Mồng hai tháng sáu.

Sau khi Phật diệt độ, pháp trụ thế gian có ba giai đoạn: Chánh pháp một ngàn năm. Tượng pháp một ngàn năm. Mạt pháp mười ngàn năm. Luận Thiện Kiến nói: "Vì cho người nữ xuất gia, chánh pháp chỉ còn năm trăm năm. Do Thế Tôn chế tỳ kheo ny hành tám pháp cung kính, nên chánh pháp lại trụ được ngàn năm."

Hỏi: Ngàn năm đã qua. Vậy chánh pháp đã bị diệt hết chưa?

Ðáp: Chưa diệt hết. Trong một ngàn năm, tu đắc được quả Tam Ðạt Trí. Ngàn năm sau, đắc được quả A La Hán, tức Vô Tam Ðạt Trí, tận trừ ái dục. Ngàn năm kế, đắc được A Na Hàm. Ngàn năm nữa, đắc được Tư Ðà Hàm. Ngàn năm cuối, đắc được Tu Ðà Hoàn. Năm ngàn năm đầu, đắc được đạo. Năm ngàn năm sau, tuy học mà không thể đắc được đạo. Sau mười ngàn năm, tất cả kinh thư văn tự đều bị diệt hết, nhưng vẫn còn người cạo tóc đắp y ca sa.

Ngài Quy Sơn nói:

- Hận cho mình sanh nhằm thời tượng pháp, cách thánh giáo quá xa.

Ngài Quy Sơn sanh vào đời Ðường, cách Phật hơn một ngàn năm, tức thuộc thời tượng pháp. Tất cả sự việc đều biến chuyển. Nước để lâu ngày khiến có trùng. Pháp giữ lâu ngày khiến sanh tệ hại.

Kinh Phó Pháp Tạng ghi: "Tỳ kheo A Nan giáo hóa chúng sanh, đều được giải thoát. Cuối cùng, Ngài đến giữa rừng trúc, nghe tiếng một tỳ kheo tụng kinh Pháp Cú đến đoạn "Người sống trăm năm, nếu không thấy hạc thủy lạo, thì không bằng sống một ngày, mà đắc được đạo."

Ngài A Nan nghe thế, bèn than thở thảm thương, và đến bảo tỳ kheo kia:

- Mắt sáng thế gian, sao diệt quá sớm! Các việc ác và phiền não, sao mau khởi vậy? Từ đây, bội phản thánh giáo, tự sanh vọng tưởng. Ðây chẳng phải là lời Phật dạy, nên chớ hành theo... Ông hãy lắng nghe cho kỹ, Ta sẽ đọc lại bài kệ của Phật dạy: "Người sống trăm tuổi, nếu không hiểu pháp sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày, mà đắc được đạo."

Sau này, tỳ kheo kia thuật lại lời của ngài A Nan cho thầy của ông ta nghe. Thầy ông liền bảo:

- Lão già A Nan trí huệ cạn cợt, nhiều lời sai lầm, không thể tin được. Cứ tụng theo câu kệ vừa rồi của Ta.

Khi trở lại nơi đó, ngài A Nan vẫn nghe tỳ kheo kia tụng câu kệ lúc trước... Do không thấy ai có thể lãnh hội ý mình, Ngài liền nhập tam muội, bảo:

- Lạ thay! Vô thường quá gấp, kiếp hoại hừng hực. Vô lượng chúng sanh nơi thế gian, thường lang thang, trú tại hắc ám, đi trong đường sợ hãi; tà kiến hừng thịnh, pháp bất thiện tăng trưởng; phỉ báng Như Lai, đoạn tuyệt thánh giáo; mãi nhập bùn lầy sông lớn sanh tử, khai mở cửa ác thú, đóng bít đường trời người; nơi vô lượng kiếp, thọ muôn ngàn khổ não. Hôm nay, Ta muốn nhập niết bàn!

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Thời đại mạt pháp, tà sư thuyết pháp, nhiều như số cát sông Hằng. A Nan ông nên biết, đây là mười loại ma. Nơi đời mạt thế, chúng xuất gia tu đạo, nhập vào giáo pháp Ta. Hoặc tự phụ khiến người lễ bái, hoặc tự hiện hình quái lạ, hoặc tự bảo rằng đã chứng chánh biến tri, rồi tán thán dâm dục, phá hoại luật nghi. Ðầu tiên, các ác ma sư cùng ma đệ tử, dâm dâm tương truyền. Tà tinh như thế, mê mị lòng người, gần chín lần sanh, hơn trăm thế hệ, khiến người tu hành chân thật, bị mê hoặc, làm quyến thuộc của chúng. Sau khi mạng chung, tất làm dân ma, mất chánh biến tri, đọa địa ngục vô gián."

Trong kinh nói đến chín lần sanh, và một trăm đời. Một lần sanh là một trăm năm. Mỗi thế hệ là ba mươi năm. Hiện nay, Phật lịch là 2982, cũng là lúc ma vương trăm đời xuất hiện.

Phật diệt độ chẳng lâu, tỳ kheo kia tụng lầm kệ Hạc Thủy Lạo, mà cho đó là kinh Pháp Cú. Ngày nay, người học Phật lại lầm lạc càng nhiều. Hạc thủy lạo tức con hạc trắng. Người xem thấy chúng, có biết ý nghĩa gì! Hiểu rõ pháp sanh diệt, khiến rời xa biển khổ. Sống một trăm năm mà chẳng liễu giải, không bằng sống chỉ một ngày mà được liễu giải. Thế nên, người có trí huệ, không luận bàn tuổi tác cao thấp. Người không trí huệ, sống lâu trăm năm cũng vô ích.

Tà sư đời mạt thế, mỗi mỗi tự bảo mình là thiện tri thức. Người đang tham thiền, nếu không nhận ra vàng hay đá, liền bị sóng tà nhận chìm. Thấy cảnh mênh mông, liền tàn hoại rừng công đức. Lửa tâm cháy phừng phực, đốt rụi hạt giống Bồ Ðề. Người cầu đạo chân thật trong đời mạt thế rất hiếm có. Ngài Quy Sơn nói:

- Ði xa phải chọn bạn hiền. Mắt tai phải thường thanh tịnh. Lúc dừng phải chọn lựa bạn lành, thời thời tuy nghe nhưng vẫn như không nghe... Sanh ta ra là cha mẹ. Ta thành công là nhờ bạn hữu. Gần gũi bạn lành, như đi trong sương, tuy không ướt y nhưng dần dần sẽ thấm.

Khổng Tử cũng nói:

- Ba người đồng hành, chắc sẽ có người làm thầy Ta. Bạn lành nên theo. Bạn xấu nên lánh xa.

Bạn tốt thì theo họ học. Kẻ có nhiều tật xấu, thường không đoái hoài lo gì đến ai; nếu gần gũi họ, lâu ngày sẽ bị thúi lây. Gần màu đỏ thì lấm màu đỏ. Gần màu đen thì lấm màu đen. Gần hương thơm thì nhiễm hương thơm. Gần mùi thúi thì nhiễm mùi thúi. Lời thô tế ngữ của bạn lành, nếu quy về đệ nhất nghĩa, thì phải nên thân cận. Người tu hành trong đời mạt pháp, như bản lãnh của chúng ta đây, không thể sánh bằng thiên ma ngoại đạo.

Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Sắc ấm diệt tận rồi, thì từ trong thân người kia, xuất hiện côn trùng, thân thể nhỏ nhít, nhưng không tổn hại đến thân. Lúc đó, đột nhiên mười phương hư không biến ra màu sắc bảy báu, hoặc màu sắc trăm báu, và đồng thời hiện ra khắp nơi, mà không ngăn ngại nhau. Ðột nhiên vào giữa đêm, ngay trong am thất u ám, thấy muôn loại vật. Thọ ấm diệt hết rồi, thì quán đến cảnh giới của mười loại thiền na, gọi là năm mươi loại ấm ma. Mê mà không nhận thức, tự xưng là chứng quả thánh, tức tạo tội đại vọng ngữ, sẽ bị đọa địa ngục vô gián."

Lão Tử nói:

- Trong đó có tinh.

Khổng Tử cũng nói:

- Không không như thế.

Tức là họ đã thấy rõ thức ấm. Ðối với chư A La Hán, năm ấm đã trừ tận, nên vượt ra khỏi ba cõi. Ðối với chúng ta, sắc ấm chưa tận, nên rất cách xa đạo.

Tôi rất xấu hổ vì nhiều năm ngu si hơn quý vị, và chỉ có hư danh. Quý vị cho rằng tôi có rất nhiều sở trường, nên xem tôi như bậc tổ sư. Thật rất khổ sở! Tôi chẳng giống như yêu ma quỷ quái trong kinh Lăng Nghiêm hay chư đại Tổ Sư.

Mỗi lần giảng dạy tham thiền học đạo, tôi thường nhắc nhở quý vị là phải tham tầm bậc minh nhãn thiện tri thức, lại cũng phải có đôi tai thính, để khi nghe pháp, phân biệt được chánh tà. Kế đến, dùng cái thấy cái nghe mà bỏ vào bao tử, để lúc tu đạo không đi lạc đường, và không hành như những kẻ đang sống trong thị phi được mất, hầu mong không phản bội bổn hoài của chư thiện tri thức.

Hiện tại vốn là đời mạt pháp. Làm sao tìm cầu thiện tri thức? Chỉ cần học thuộc lòng kinh Lăng Nghiêm, thì tu hành mới có phần tương ưng, tiêu diệt tà duyên, khiến thân tâm nhập Phật tri kiến. Từ sự thành tựu này, khiến không đi lạc đường. Toàn bộ kinh, từ đầu đến cuối đều thuyết quan trọng nhất tại một chữ "Dâm". Kinh nói: "Nơi các thế giới, nếu chúng sanh trong sáu đường, tâm chẳng khởi dâm dục, thì sẽ không bị sanh tử tương tục lôi cuốn. Ông tu tam muội, đó là cội gốc xuất khỏi trần lao. Tâm dâm dục nếu chưa trừ diệt, thì không thể thoát khỏi trần lao. Nếu kẻ nhiều trí huệ, lại có thiền định hiện tiền, mà không đoạn tâm dâm dục, tất sẽ đọa lạc ma đạo."

Xem kinh Lăng Nghiêm, nếu không quay về tông thiền, thì chỉ như cỡi ngựa ngắm hoa, thật không lợi ích. Phải nên đọc tụng thuộc làu, rồi có thể dùng lời văn sau để giải lời văn trước, và dùng lời văn trước mà quán thông lời văn sau. Lời văn trước và sau, tương hỗ ứng chiếu, thì nghĩa lý của toàn bộ kinh, sẽ hiện rõ ràng trước mắt. Y theo lời kinh mà quán tưởng, thì sẽ đắc được thọ dụng.

Chư vị tu hành xưa nay, ngộ đạo do từ kinh này rất nhiều. Thiền sư Tiên Nham An ở Ôn Châu nhân xem qua đoạn "trong tri kiến mà còn lập thêm tri kiến, tức là gốc của vô minh. Trong cái tri kiến mà không có tri kiến, tức đây là niết bàn" tức nghĩa là tri kiến vừa lập, bèn là gốc vô minh. Tri kiến nếu không, bèn là niết bàn. Ngay nơi đó, Tiên Nham An liền ngộ đạo. Người sau bảo thiền sư:

- Ngài đã phá câu kệ tụng rồi.

Ngài đáp:

- Ðây chính là chỗ ngộ đạo của tôi!

Người đời gọi Ngài là "An Lăng Nghiêm".

Hy vọng quý vị đồng tham học, vô luận là già hay trẻ, phải thường đọc tụng kinh Lăng Nghiêm. Bộ kinh này là vị thiện tri thức tùy thân của quý vị. Ðọc tụng thuộc lòng bộ kinh này, tức là quý vị thường được nghe đức Thế Tôn thuyết pháp, và làm bạn đồng học với ngài A Nan.

34/ Mồng ba tháng sáu.

Người xưa bảo:

- Chớ đợi đến già mới học đạo. Mộ phần đầy cả thiếu niên!

Lúc đến tuổi già, bị trăm thứ bịnh khổ. Tai không nghe được. Mắt không thấy rõ. Bốn cơ chi không còn sức lực. Ăn không được, ngủ không yên, đi không nổi. Những nỗi khổ này, người trẻ chưa nếm qua. Lúc trẻ, tôi cũng giống như quý vị, thấy các người già đến, đều không thích. Nói chuyện, họ không nghe rõ. Nước mắt nước mũi chảy lê thê, nhìn trông gớm ghê, nên rất sợ sống chung với họ. Hiện tại, tôi đã già nên biết cái khổ của người già. Ðối với người già, ngày này luôn khác với ngày nọ.

Từ khi có biến cố tại Vân Môn, thân tôi ngày ngày đều thay đổi; cứ mãi nằm trên giường bịnh, bị bao khổ não bức bách. Sáng tối nghĩ suy, đường lộ hoang mang, đạo nghiệp chưa thành, sanh tử chưa đoạn; mở miệng chẳng ra lời, chắc phải bị đầu thai. "Muôn thuyền đẩy không nổi, chỉ theo nghiệp mà thọ sanh."

Lúc trẻ không chịu tu, nay đợi đến già mới ra nông nỗi này. Hôm nay, chúng ta đường đường tăng tướng dung mạo đàng hoàng, đều do kiếp xưa đã trồng căn lành, nên mới được báo thân đoan trang, chớ nên làm hư hạt giống lành.

Ðộng Sơn hỏi tăng:

- Việc khổ nhất trên thế gian là gì?

Tăng đáp:

- Ðịa ngục khổ nhất.

- Chẳng phải! Nơi y phục kim tuyến này, chưa biết được nguồn mối việc lớn, mới là khổ nhất!

Nếu sáng việc lớn, tức không còn nhân địa ngục. Ðịa ngục chưa hẳn là khổ, vì chưa hiểu rõ tự tâm mới là khổ nhất. Muốn hiểu được việc lớn, phải thường nỗ lực tinh tấn, chớ sao lãng khinh xuất, lo lắng bận bịu mãi, khiến phí mất thời giờ. Ban ngày, ứng duyên gặp cảnh, phải luôn làm chủ. Ban ngày làm chủ được thì trong mộng cũng tự chủ được. Trong mộng tự chủ được thì lúc bịnh hoạn, cho đến lúc sắp mất cũng tự làm chủ được. Làm chủ được vì bình thường tự chủ được chính mình. Tự chủ chính mình tức là dễ dàng ngộ đạo, cắt đứt sanh tử. Chưa ngộ đạo thì sanh tử khó cắt đứt. Ngộ đạo không khó, chỉ quan trọng là luôn khởi tâm thống thiết vì sanh tử, luôn hướng về đạo, và đầy đủ tâm dài lâu tâm kiên cố, cho đến chết cũng chẳng thối chuyển. Tuy chưa ngộ đạo, mà đời nay không thối chuyển, và đời sau sẽ lại nỗ lực tinh tấn, thì có lý do gì không ngộ đạo?

Trong kinh Lăng Nghiêm, hai mươi lăm vị thánh chứng được viên thông. Mỗi vị thánh, trải qua bao kiếp dài lâu trường kỳ tu tập, nên mới thành tựu. Chúng ta vì không có tâm thống thiết về sự sanh tử, nên không phát tâm dài lâu. Lúc bịnh thì mới nghĩ đến sự sanh tử. Lúc lành bịnh thì đạo tâm lui sụt. Thế nên, kinh Lăng Nghiêm nói: "Phàm phu tu hành như bị bịnh sốt rét cách ngày."

Khi bịnh thì nhớ đến đạo. Lành bịnh thì quên mất đạo. Khởi vô minh như bị bịnh sốt rét. Vì vậy, phải nên nỗ lực tinh tấn, sanh tâm sám hối, khởi tâm kiên cố, chớ nên chỉ tu hành trong vài ngày rồi nghỉ ngơi. Tu hành phải thâm nhập vào một pháp môn, tức dùng pháp môn đó làm chính, còn các pháp môn khác làm phụ. Mỗi người tu mỗi pháp môn. Chớ cùng nhau phỉ báng khinh chê, xem thường Phật pháp. Muốn hưng thịnh Phật pháp, phải thường khuyên nhủ tán thán giúp đỡ lẫn nhau. Hỗ tương phỉ báng tức là điềm Phật pháp sắp bị hoại diệt.

Phật tử nếu chuyên tâm hướng đạo, nhớ nỗi thống khổ của sanh tử, thì ăn không cần no, mặc không cần ấm, ngủ không cần đủ.

Xưa kia thừa tướng Bùi Hưu, cho con đi xuất gia. Người con vốn là hàn lâm học sĩ. Ông ta lạy tổ Quy Sơn làm thầy, và được pháp danh là Pháp Hải. Lời giáo huấn của ngài Quy Sơn trong quyển Cảnh Sách Châm, viết: "Y phục và thức ăn không dễ dàng mà có. Sao lại cầu y phục nhu nhuyến và đồ ăn béo bổ? Chỉ ăn rau xanh cơm trắng bình thường. Tùy thời khắc, mặc vải bố thô tầm thường. Người khác ngủ rồi mình mới đi ngủ. Tối canh ba đến đầu canh năm, luôn hướng tâm đến điện Phật Thích Ca."

Ngài Quy Sơn bảo Pháp Hải mỗi ngày phải gánh nước phục vụ đại chúng. Ngày nọ, vì gánh nước quá mệt, Pháp Hải tự nhủ thầm:

- Các ông hòa thượng, xin nước của hàn lâm học sĩ gánh. Những giọt nước này, uống khó mà tiêu.

Pháp Hải trở về chùa. Ngài Quy Sơn biết tâm niệm của đệ tử mình, nên hỏi:

- Hôm nay con nói những lời gì?

Pháp Hải thưa:

- Con đâu có nói gì!

Lần khác, Ngài bảo Pháp Hải:

- Lão tăng ngồi một lần, có thể tiêu muôn ngàn ký gạo.

Vì vậy, đối với hàng xuất gia, không màng quý vị sanh nhà phú quý giàu sang, một khi đã bước vào cửa nhà Phật thì phải xả bỏ tất cả; luôn chuyên tâm hướng đạo, thì mới thật là con cháu có bổn sắc thiền tông.

35/ Ngày mười sáu tháng sáu.

Phật thuyết đại tạng kinh, không ngoài giảng giải hai chữ nhân quả. Phân tích kỹ càng, lời lẽ nhiều vô cùng tận. Chư tỳ kheo thà tự ăn thịt mình, chẳng nên lấy vật dụng của Tam Bảo làm vật y bát ẩm thực của mình. Lúc xưa, tôi đi hóa duyên, tùy theo sự hoan hỷ bố thí của người khác; tôi thường trừ nhiều bổ thiếu, dùng của thường trụ điên đảo. Ngày nay, vọng làm vọng tạo, kiến lập pháp đường, dựng am tranh, sửa nhà cầu, lợp chuồng trâu v.v... Tiền chi phí từ đâu có? Tôi không dám phan duyên, viết thơ ra ngoài hóa duyên cầu cạnh. Vừa rồi, có vài người đại diện chùa, ra ngoài hóa duyên, thiếc đồng ngói gạch, nhưng vẫn chưa đủ. Do đó, ông giám công lấy những vật liệu từ những điện đường kế bên để dùng, nhưng tôi không cho, vì sợ phải chịu quả báo ứng. Ngói gạch đang nung trong lò, dùng để sửa chữa chánh điện. Nếu dùng vào việc khác, thì e rằng sai lầm nhân quả.

Kinh nói: "Vật ở trên mà dùng cho phía dưới thì báo ứng nặng. Vật ở dưới mà dùng cho ở trên thì báo ứng nhẹ."

Ví như đồ tô đắp tượng Phật mà dùng làm mái chùa, hoặc đồ dùng làm mái chùa mà đem làm phòng tăng, đó là lấy vật ở trên mà dùng phía dưới. Ngược lại, lấy vật ở dưới mà dùng cho việc phía trên. Phải nên nhận chân phân rõ trên dưới.

Người trẻ tu hành chớ chỉ tu về trí huệ thôi, mà phải nhận biết tầm quan trọng của nhân quả.

Trong quyển Vân Cư Sơn Chí viết: "Trên núi, vốn có am của thiền sư Từ Giác, người nước Thục. Thuở xưa, Thầy từ Tứ Xuyên hành cước, muốn đến tu hành tại núi Vân Cư. Lúc đến chân núi Vân Cư, Thầy ngủ qua đêm tại Diêu điền trang, tối mộng thấy thần hộ pháp Già Lam mách bảo:

- Xưa kia, Thầy vốn là trụ trì của núi này, nhưng nay chỉ còn chút ít duyên.

Giữa trưa hôm sau, Thầy leo lên núi. Ðến chiều tối thì dừng chân nghỉ ngơi, và xin nghỉ qua đêm. Song, tăng chúng mới đến đều bị đuổi vì thường bị nghi là kẻ trộm. Vì vậy, tăng chúng trên núi không cho phép Thầy ngủ qua đêm. Mười năm sau, Thầy đắc pháp nơi thiền sư Ngọa Long. Thái thú vùng Nam Khang là Trương Công, và vốn là người xứ Thục. Ông rất thích cảnh vắng vẻ thâm u tịch tĩnh của núi Vân Cư. Lại nữa, vì là bạn cũ, nên ông thỉnh Thầy lên núi Vân Cư, khai đạo giảng pháp. Thầy rất hoan hỷ, nghĩ rằng mộng năm xưa, chắc không còn linh nghiệm. Hôm sau, Thầy lên núi, ngủ qua đêm tại Mạch Châu Trang, rồi bất chợt nhập tịch. Tháp thờ Thầy đến nay vẫn còn, nhưng gần đây bị nước ngập xói mòn, chỉ còn lại một tảng đá."

Người sau xem sự tích của thiền sư Từ Giác, thấy rõ nhân quả không sai chạy chút nào.

36/ Ngày hai mươi ba tháng sáu.

Pháp tu đạo, nói khó thì rất khó, bảo dễ thì cũng rất dễ. Khó cùng dễ là hai pháp đối đãi. Người xưa chân thật dụng tâm, nên không cảm thấy khó chút nào, vì việc này vốn đã hiện thành. Tại sao khó? Lòng tin không đủ nên khó. Nếu chân chánh vì cầu thoát khỏi sanh tử, xem thường thân mạng, biết nó là huyễn hóa, cùng thấu suốt tất cả sự tình, không bị cảnh chuyển, thì tu đạo rất dễ. Không thích tu học siêng năng, lại muốn làm thánh hiền, cùng sợ cảnh địa ngục. Song, muốn là một chuyện, còn làm là một chuyện. Nhiều người, khi tu hành thì cảm thấy rất khó khăn. Vì sao? Do không xả chấp nổi. Ví như người thế tục, đối với những lời hay ho tốt đẹp, như chúc tụng phát tài, được vinh hoa phú quý, thì ai ai cũng đều thích nghe. Ðối với những lời không tốt như nhà tan người chết, thì mọi người đều không muốn nghe. Chứng minh rằng mọi người đều thích những việc tốt lành, nhưng còn những việc không may, xấu xa, hư hoại thì bỏ chạy hết sao! Tất cả đều do không thể phóng xả được.

Xưa nay, trong các thành phố thường có các thành hoàng thổ địa. Bên dưới mái hiên của những thành hoàng thổ địa, thường treo những tấm bảng viết về thiện ác của người đời. Có một tấm bảng viết: "Quý vị lại đến."

Trên hai cây cột trụ có hai câu đối:

"Người ác, người sợ, trời không sợ

Người hiền, người dối, trời không dối."

Lại có câu:

"Thiên đường có lối, người không đi

Ðịa ngục không cửa, người cứ đến."

Phàm phu thường mưu mô xảo quyệt. Làm việc gì đều tính toán xem coi có lợi hay không. Ðối với kẻ ác, mọi người đều không dám gần gũi vì sợ bị thọ tai họa. Nếu nhường nhịn họ, thì vẫn bị tổn hại. Song, đối với nhân quả báo ứng, trời không sợ kẻ ác.

Chúng ta ngồi thiền niệm Phật, vì muốn giải thoát sanh tử. Do vô minh, cống cao ngã mạn, nên không thể nhẫn nhục, đoạn trừ tập khí. Tuy có tu nhân lành, nhưng chẳng tránh được quả khổ. Sanh tử chưa cắt, thì theo nghiệp mà thọ quả báo, nên bảo:

- Quý vị lại đến.

Thọ khổ dưới địa ngục xong, Diêm Vương răn nhắc rằng chớ trở lại. Nếu trở lại tức sẽ không gặp điều lành. Vì xả chấp không nổi, nên cứ y theo thói quen tật xấu, gây phạm tội lỗi, rồi phải đọa vào địa ngục lần nữa.

Người thế tục si mê, tạo bao nghiệp ác mà chẳng thường hành việc lành, nên phải chiêu quả khổ. Người xuất gia, có muốn thoát khỏi vòng khổ lụy không? Nếu không muốn, thì cần gì nhập vào cửa không? Nhập vào cửa không tức là chẳng có một vật gì để chứng đắc, muôn sự đều ngưng, sao còn có thiên đường địa ngục? Song, nếu chưa nhận rõ bốn đại là không, năm ấm chẳng có, thì vẫn chưa tính là nhập vào cửa không. Muốn nhập vào cửa không, phải nghiên cứu đọc tụng tường tận về kinh Lăng Nghiêm. Lời lẽ trước sau trong toàn bộ kinh, không bàn ngoài năm ấm. Trong đó, từ năm ấm lại thuyết đến sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Nội trong thân tâm, ngoại nơi khí chất của thế giới, không ngoài năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức. Kinh thuyết phàm thuyết thánh, thuyết ngộ đạo, thuyết nhập đường ma, đều muốn xiển minh năm ấm không thật có. Kinh dạy chúng ta hãy xem thấu rõ năm ấm đều là không. Cuối cùng, kinh nói đến niết bàn, cùng ba cõi bất biến. Kinh cũng nói rõ tường tận về tà ma năm ấm. Sắc dâm trong sắc ấm là căn bản sanh tử. Giết hại, tà dâm, nói láo vốn là cội gốc của địa ngục. Nhìn thấu năm ấm vốn không, thì thoát ly sanh tử, không còn bị luân hồi. Phải chiếu soi như thế nào? Chiếu soi tức giác chiếu. Thời thời khắc khắc, y theo lời kinh, dùng trí huệ quán chiếu năm ấm. Chiếu soi rõ ràng thì thấy năm ấm đều không. Lúc đầu quán chiếu, đều là vọng tưởng, nhưng không quan hệ chi. Người xưa bảo:

- Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.

Nếu vọng niệm khởi, phải nên giác chiếu, chớ để vọng niệm chuyển. Nếu không thể giác chiếu, thì lúc ngồi thiền lại sợ đau chân; lúc lễ Phật, sợ nhức lưng. Lười biếng nhút nhát, không thông lộ trình lên thiên đàng, nên tự nhiên chạy xuống địa ngục.

Ðại sĩ Hàn Sơn viết kệ:

"Nhân gian hỏi đạo Hàn Sơn

Ðường Hàn Sơn lộ không thông

Ngày hè băng tuyết chưa tan

Mặt trời hiện, sương lóng lánh

Tựa như tôi, sao chờ thời

So cùng bạn, tâm chẳng đồng

Tâm bạn nếu tựa như tôi

Lại được vào nơi đó."

Hàn tức là hàn băng giá lạnh. Trong mùa hè, băng tuyết vẫn chưa tan. Mặt trời hiện, sương lóng lánh; một phiến băng trong tâm của tôi không đồng với bạn. Nếu bạn muốn làm tựa giống như tôi, thì có thể vào tận núi Hàn Sơn, chứ chẳng phải đường Hàn Sơn chưa thông.

Người tu đạo phải thấy năm uẩn đều không. Trước hết, phải khô tâm lạnh ý. Nếu lửa cháy rực trời mà chưa tan băng tuyết giá lạnh tâm tràng, thì mới cùng đạo tương ưng.

Xưa kia, Lư Khâu Dận xuất quân tại Mục Ðan Khâu. Ngày lâm trận, chợt bị nhức đầu dữ dội, mà các thầy thuốc không có cách nào chữa trị. May sao, ông gặp một thiền sư, hiệu là Phong Can, tự bảo rằng từ chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai, đặc biệt tìm đến đó. Lư Khâu Dận bèn nhờ Thiền Sư chữa bịnh. Thiền Sư thong thả bảo:

- Thân trú nơi bốn đại. Bịnh từ huyễn sanh. Nếu muốn trừ khử, hãy uống nước tịnh.

Khi đem nước tịnh lên, thiền sư ngậm rồi phun nước, sắn tay áo lên, bảo:

- Chim biển Thai Châu rất độc. Từ nay, phải nên bảo trọng.

Sau đó, Lư Khâu Dận hỏi:

- Nơi đây có bậc thánh hiền nào đáng để cung kính thờ làm thầy chăng?

Thiền Sư đáp:

- Thấy mà không nhận ra. Nhận ra mà không thấy. Nếu muốn thấy, chớ nên chấp tướng. Hàn Sơn vốn là ngài Văn Thù, ẩn tích nơi chùa Quốc Thanh. Thập Ðắc tức là ngài Phổ Hiền, dạng trạng như kẻ bần cùng điên cuồng, hoặc đến hoặc đi, đang làm lụng trong bếp tại chùa Quốc Thanh.

Nói xong, Thiền Sư liền cáo từ. Sau này Lư Khâu Dận làm quan, đến nhậm chức tại Thai Châu. Vì nhớ đến lời của thiền sư Phong Can năm xưa, nên vừa nhậm chức ba ngày, ông tìm đến các tự viện, cung kính vấn hỏi chư thiền đức. Quả nhiên hợp với những lời nói xưa kia của thiền sư Phong Can. Ông đến chùa Quốc Thanh, hỏi tăng chúng rằng thiền sư Phong Can cùng Hàn Sơn Thập Ðắc, hiện đang trú nơi đâu. Khi ấy, có vài vị tăng cười ngây ngất, bảo:

- Thiền sư Phong Can đang trú đằng sau tàng kinh tạng. Nơi đó, không ai đến được vì có hổ dữ thường quanh quẩn. Hai ông Hàn Sơn và Thập Ðắc, hiện đang nấu nướng trong bếp.

Nói xong, tăng chúng dẫn Lư Khâu Dận đến viện của thiền sư Phong Can. Mở cửa phòng ra, chỉ thấy dấu chân hổ. Khi họ vào nhà bếp, thấy hai vị Hàn Sơn và Thập Ðắc, chỉ tay về hướng họ mà cười to. Lư Khâu Dận liền lễ bái. Hàn Sơn và Thập Ðắc cầm tay nhau, cười ha hả, và la to:

- Phong Can lắm lời. Di Ðà không nhận ra, sao lễ lạy chúng tôi?

Tăng chúng tụ hợp, kinh ngạc vì thấy một vị thượng quan lại đi lễ lạy hai ông tăng điên khùng. Lúc đó, Hàn Sơn và Thập Ðắc nắm tay nhau, bước ra khỏi chùa, rồi chạy vào núi tuyết. Lư Khâu Dận lại hỏi tăng chúng:

- Hai vị này thường trú ở chùa này phải không?

Hỏi xong, ông cho người đi tìm, thỉnh hai Ngài trở về chùa. Trở về dinh, ông mang hai bộ tịnh y ca sa, bày biện hương dược đặc biệt, cùng bao loại thức ăn, rồi mang vào núi cúng dường. Lúc đó, hai vị đại sĩ vẫn không chịu trở về chùa. Vừa thấy ông quan đến, hai ngài bèn hô to:

- Giặc! Giặc!

Hô xong, hai ngài lại nắm tay nhau, vừa chạy vào núi sâu, vừa bảo:

- Này quý vị! Mỗi người phải tự nỗ lực tu hành.

Nói xong, hai ngài chạy mất vào núi, không để dấu vết, khiến chẳng ai tìm được. Tăng chúng trong chùa, khi xem xét lại hành trạng hằng ngày của hai vị thì thấy thơ kệ, được viết đầy dẫy trên những vách đá nơi vườn trúc sau chùa, và trên các tường vách tại những nơi thờ thần hoàng thổ địa, cùng hơn ba trăm bài kệ trên những bức tường nhà cửa dân làng. Tăng chúng góp nhặt lại những bài thi kệ đó, rồi đóng thành một quyển, để lại cho đến nay. Theo lời của ngài Hàn Sơn thì: "Năm lời năm trăm thiên; bảy chữ, bảy mươi chín; ba chữ ba mươi mốt. Tất cả cộng thành sáu trăm bài kệ. Những lời viết trên đá thạch, tự khoe chữ viết rất hay. Nếu lãnh hội thơ của Ta, chân chánh là mẹ của Như Lai... Nhà có thơ Hàn Sơn, hơn cả kinh kệ. Thư để trên tấm bình phong, thời thời nên xem một biến."

Ngài Thập Ðắc viết:

"Có kệ có muôn ngàn

Gấp gáp ứng đáp khó

Nếu muốn hiểu thấu rõ

Nên vào núi Thiên Thai

Trong hang sâu ngồi tọa

Thuyết lý và đàm huyền

Cùng Ta không thể gặp

Tựa đối diện ngàn núi."

Thơ kệ của hai ngài Hàn Sơn và Thập Ðắc được lưu truyền cho đến ngày nay, mà người người đều tôn trọng. Nhà nho cũng có nhiều người thích đọc tụng. Hai ngài xuất khẩu thành thơ, lời lời đều đàm huyền thuyết lý. Song, hai ngài bảo rằng không nên chuyển văn làm thơ vận để đọc tụng. Nếu làm thì tuy đối diện với hai ngài, nhưng vẫn nhu cách xa ngàn núi.

37/ Ngày hai mươi lăm tháng sáu.

Bồ Tát Ðịa Tạng phát đại thệ nguyện:

"Chúng sanh độ hết tận, thì mới chứng đạo Bồ Ðề.

Ðịa ngục chưa trống không, thệ không thành Phật."

Tất cả chư Bồ Tát cũng đều phát nguyện như thế. Mỗi ngày, từ sáng đến tối, chúng ta lên chánh điện, cũng phát nguyện:

"Chúng sanh vô lượng, thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành."

Là đệ tử Phật, mọi người phải nên phát nguyện. Chứng quả thâm sâu hay cạn cợt, đều do nguyện lực rộng hay hẹp. Y theo nguyện hành trì, mới định đoạt quả vị lớn nhỏ. Phật từ chúng sanh mà tu thành. Chúng sanh nếu y theo nguyện mà hành trì, thì đạt được quả Bồ Ðề, tức có khả năng thành Phật.

Ai ai cũng có duyên phần thành Phật. Sao chư Bồ Tát lại còn phát nguyện độ chúng sanh, độ đến độ lui, độ mãi chẳng hết? Chữ chúng sanh, do ba chữ nhân hợp thành, tức ba người trở lên thì thành chúng. Con số của chúng sanh, nhiều vô cùng vô tận. Trong mười pháp giới, trừ pháp giới chư Phật, chín pháp giới kia đều là chúng sanh. Ba pháp giới như pháp giới chư Bích Chi Phật, pháp giới chư Bồ Tát, pháp giới A La Hán, vốn là thánh hiền, vì đã xuất ra khỏi biển khổ sanh tử, không còn luân hồi. Sáu pháp giới còn lại như trời, người, A Tu La, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chưa thoát ra khỏi sanh tử. Trong chín pháp giới, ba pháp giới thánh hiền vẫn còn tập khí vi tế cạn cợt, chưa dứt trừ tận, nên thuộc về hàng chúng sanh. Sáu pháp giới bên dưới thì tập khí thâm sâu nặng nề, nghiệp chướng đầy dẫy, nên gọi là chúng sanh khổ não. Những chúng sanh này, chết rồi lại sanh, không khi nào ngừng. Số luợng chúng sanh này, nhiều không thể tính hết.

Thiền sư Nguyên Khuê ở núi Sùng Nhạc, bảo thần núi:

- Phật làm được bảy việc, nhưng không thể làm được ba việc. Tại mọi tướng không, Phật chuyển được thành muôn pháp trí, mà không thể diệt định nghiệp. Phật biết được tánh của quần sanh, cùng các sự việc trong muôn ức kiếp, mà không thể hóa độ kẻ vô duyên. Phật độ được hết vô lượng chúng hữu tình, mà không thể độ tận pháp giới chúng sanh. Ðó là ba điều mà Phật không thể làm được. Song, định nghiệp thật cũng không lâu. Kẻ vô duyên cũng có kỳ được độ. Pháp giới chúng sanh vốn không tăng không giảm, lại không có ai làm chủ tể. Có pháp mà vô chủ, tức gọi là vô pháp. Vô pháp vô chủ, tức gọi là vô tâm. Hôm nay, Ta không dùng thần thông để hiểu Phật, nhưng lại dùng vô tâm mà liễu đạt hết muôn pháp. Chúng sanh vốn không tăng không giảm, nên lúc cứu độ họ, không thể gọi là tận hay bất tận.

Trong kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ giải thích bốn hoằng thệ nguyện: "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ... Tâm tà, cuồn loạn, bất thiện, ganh ghét, ác độc, v.v... là tâm chúng sanh. Tự tánh các ông tự độ, đó gọi là độ chân thật.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, tức dùng trí huệ của tự tánh bát nhã, để trừ khử tư tưởng hư vọng.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, tức thấy tự tánh, thường hành chánh pháp, đó gọi là học Phật chân chánh.

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành, tức thường luôn hạ tâm, hành nơi chân chánh; rời mê rời giác, thường sanh bát nhã, trừ chân trừ vọng, tức thấy Phật tánh, tức gọi là thành Phật đạo."

Thiền sư Phật Quả nói:

- Bàn về cứu cánh, Phật cũng không lập, sao còn có chúng sanh? Bồ Ðề cũng không lập, sao gọi tạo phiền não?

Người xưa thuyết những lời như thế, sao chúng ta không thể làm được? Chỉ vì không dám trừ phiền não, xả bỏ chấp trước không nổi, làm chủ không được, chẳng có giác chiếu, nên nơi tự tánh chợt khởi vọng niệm. Nếu quên mất động tĩnh, thì trong nước xanh, trăng sáng được hiện tiền.

Tại Gia Châu, vào niên hiệu Chánh Hòa thứ hai, một hôm sấm sét đánh, chặt đôi tàng cây cổ thụ. Trong đó, có một vị tăng đang nhập định, râu tóc bao quấn chung quanh thân. Vị tăng này được triệu về hoàng cung, để phiên dịch kinh điển. Quan Kim Tổng Trì phải dùng cây khánh bằng vàng để đánh thức Ngài. Ðược hỏi tên tuổi, Ngài bảo:

- Tên tôi là Huệ Trì, vốn là sư đệ của pháp sư Huệ Viễn tại núi Lô Sơn. Trên đường tới núi Nga Mi, ngừng nhập định tại đây.

Ðược hỏi muốn trở lại nơi nào, Ngài đáp:

- Tôi muốn trở lại nhập định trong tàng cây xưa.

Vua ban chiếu, đem lễ vật biếu tặng. Nhân đó, Ngài làm kệ:

"Bảy trăm năm đến cổ thụ già

Trong định ngưng thở ai biết được

Tranh như mang dép trở về Tây

Sanh tử sao nhọc, cây làm da."

Triều Lương Võ Ðế, niên hiệu Phổ Thông thứ bảy (526), Ðạt Ma Tổ Sư đi thuyền từ Tây Thiên đến nước Tàu. Vì cơ duyên vấn đáp của vua Lương Võ Ðế không khế hợp, Tổ bèn vượt sông đến Lạc Dương, cư trú tại chùa Thiếu Lâm. Sau chín năm ngồi thiền đối diện vách đá, Tổ đem chánh pháp nhãn tạng truyền lại cho ngài Huệ Khả. Lúc hóa duyên xong, Tổ an nhiên thị tịch. Ðại chúng xây mộ phần của Tổ tại núi Nhĩ Sơn, và lập tháp thờ nơi chùa Thiếu Lâm. Trong năm đó, quan ngự sử Tống Vân của nhà Ngụy trên đường đi sứ từ Thiên Trúc trở về, ngang qua một sườn núi, thấy Tổ đang quảy một chiếc giày trên vai, bước đi lẹ làng. Tống Vân hỏi Tổ đi đâu? Tổ đáp:

- Ta trở về Thiên Trúc.

Tống Vân trở về, thuật lại việc này, rồi cùng môn nhân đào huyệt, nhưng thấy quan tài trống không, chỉ còn một chiếc dép. Vua ban chiếu chỉ, đem chiếc dép đó về chùa Thiếu Lâm thờ phụng cúng dường. Người sau vẽ tượng thờ Tổ, vai quảy một chiếc dép. Tổ Ðạt Ma ngồi thiền đối mặt vách tường. Huệ Trì nhập định. Công phu thâm sâu cạn cợt không đồng. Công phu thiền định bảy trăm năm, không thể bảo là chẳng thâm sâu, nhưng sao sánh bằng một chiếc dép trở về Tây Thiên của Tổ Ðạt Ma! So với thiền định của thiền sư Huệ Trì, chúng ta còn thua xa diệu vợi. Chẳng có chút công phu thiền định, làm sao độ được chúng sanh? Hãy nỗ lực xả chấp trước, cố gắng dụng công tu đạo.

38/ Ngày hai mươi bảy tháng sáu.

Tại Ấn Ðộ, lúc Phật chưa ra đời, các tà sư ngoại đạo phân nhóm với nhau, thường được gọi là lục sư ngoại đạo. Mỗi ngoại đạo có mười lăm đệ tử. Thầy trò tính chung, tổng cộng thành chín mươi sáu, tức xưng là chín mươi sáu ngoại đạo. Trong đó, có một tông phái rất tương đồng với Phật giáo, nên trừ ra chỉ còn chín mươi lăm tông. Trong chín mươi lăm tông phái, tông chỉ cách thức tu hành của mỗi tông phái không đồng. Tuy nói tu hành, nhưng lý lẽ đều không rõ ràng, chỉ nghị luận điên điên đảo đảo. Song, vẫn có nhiều người theo học. Xưa kia, ở nước Tàu có hoàng đế Hiên Viên, nhân đi dạo chơi nơi núi Không Ðộng tại Quảng Thành, bảo rằng đến đó để tu hành. Vua Phục Hy vẽ hình bát quái, cũng bảo là tu đạo. Lý Lão Quân vì nhà Chu mà đóng cột trụ làm sự tích, cũng bảo là giảng đạo. Xưa nay, trong và ngoài nước có rất nhiều vị tự xưng là giảng đạo tu hành, nhưng trình độ sâu cạn không đồng, và cùng đạo Phật cách xa diệu vợi.

Luận bàn về nhân duyên khai sáng Phật giáo: Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni, dòng họ Sát Lợi. Cha tên Tịnh Phạn. Mẹ tên Ma Da. Dòng họ Sát Lợi, từ lúc khai thiên lập địa, đời đời đều làm vua chúa tại cõi Diêm Phù Ðề. Bồ Tát trải qua bao kiếp tu hành, được Phật Nhiên Ðăng thọ ký thành Phật. Sau đó, trong đời Phật Ca Diếp, Bồ Tát thành đạo, sanh lên nội viện cung trời Ðâu Suất, hiệu đại sĩ Hộ Minh. Kế đến, ứng vận giáng thần vào thai hoàng hậu Ma Da. Mồng tám tháng tư năm giáp dần, thái tử đản sanh tại bắc Ấn Ðộ. Ðương thời, tại nước Tàu chính là đời vua Chu Chiêu Vương, niên hiệu thứ hai mươi bốn. Lúc hạ sanh từ lưng sườn bên phải của hoàng hậu Ma Da, Bồ Tát phóng luồng hào quang sáng chói, chiếu khắp mười phương. Từ dưới đất vọt lên hoa sen vàng đỡ chân Bồ Tát. Khi đó, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, Bồ Tát nói:

- Trên trời dưới đất, không ai sánh bằng Ta!

Ngày mồng tám tháng hai năm mười chín tuổi, Bồ Tát đi qua bốn cửa thành, thấy các việc sanh, già, bịnh, chết, nên khởi tâm bi thương ai thán, muốn xuất gia thoát ly sanh tử, tự nghĩ: "Sanh lão bệnh tử này thật rất chán chường."

Ðến tối, trời Tịnh Cư, hiện xuống bảo:

- Thời điểm xuất gia đã đến. Ngài hãy nên đi!

Lúc đó, Bồ Tát cỡi ngựa vượt thành Ca Tỳ La. Ðược chư thiên đỡ chân, ngựa bay lên hư không. Bồ Tát lại bảo:

- Nếu chưa đoạn tám khổ, chưa chứng đạo Bồ Ðề, chưa chuyển pháp luân, thề không bao giờ trở lại thành này.

Liền đó, Bồ Tát đến núi Ðan Ðặc tu đạo. Ðầu tiên, học bất dụng thiền định nơi ông A Lam Ca Lam ba năm, nhưng Bồ Tát nhận biết thiền định này chưa có thể xả chấp được. Sau đó, Bồ Tát đến học thiền định phi phi tưởng xứ, nơi ông Uất Ðầu Lam Phất ba năm, nhưng cũng nhận biết rằng thiền định này chưa phải là tối thắng. Bồ Tát lại đến núi Tượng Ðầu, cùng với các chúng ngoại đạo tu hành; trải qua sáu năm, tu hành khổ hạnh; ngày ngày chỉ ăn một hạt mè. Kế đến, Bồ Tát đến cội Bồ Ðề ngồi thiền. Ðến đêm thứ bốn mươi chín, thấy sao vẹt buổi sáng, Bồ Tát liền đại ngộ, thành bậc đẳng chánh giác, hiệu là đấng Như Lai Thế Tôn. Mồng tám tháng hai, đức Thế Tôn đến thành Ba La Nại, nơi vườn Lộc Uyển, thuyết pháp Bốn Thánh Ðế, độ năm anh em ông Kiều Trần Như:

- Các ông nên biết, khổ đoạn tập, chứng diệt tu đạo.

Lúc Phật chuyển pháp luân Bốn Thánh Ðế trong ba lần mười hai thời, năm anh em ông Kiều Trần Như liền đắc pháp nhãn thanh tịnh. Lúc đó, năm ông đều cầu xin, theo Phật xuất gia. Ðức Thế Tôn bảo:

- Thiện lai tỳ kheo.

Râu tóc của năm ông đều tự rơi, y ca sa tự đắp trên thân, tức thành Sa Môn. Phật lại thuyết năm ấm vốn là vô thường, khổ không vô ngã. Năm vị tỳ kheo đều diệt tận các lậu, liễu giải tâm ý Phật, chứng quả A La Hán. Ngay nơi đó, thế gian có năm vị tỳ A La Hán đầu tiên. Kế đến, Phật độ con ông trưởng giả Da Xá cùng năm mươi người bạn của ông. Ngài Ưu Lâu Phả Loa Ca Diếp cùng năm trăm đệ tử, ngài Na Ðề Ca Diếp cùng hai trăm năm mươi đệ tử, ngài Già Na Ca Diếp cùng hai trăm năm mươi đệ tử, ngài Xá Lợi Phất cùng một trăm đệ tử, ngài Mục Kiền Liên cùng một trăm đệ tử, tất cả đồng quy y Phật, thọ giới xuất gia làm tỳ kheo. Tổng cộng là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Ðầu tiên, các ngài tu theo ngoại đạo, nhưng sau lại được Phật hóa độ, tu chứng quả thánh. Vì cảm kích thâm ân của Phật, nên một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo thường đi theo Phật giáo hóa. Trong những câu đầu của các bài kinh, thường nói đến các ngài.

Hôm nay, chúng ta xuất gia, theo Phật tu học. Song, có bốn hạng người xuất gia: Thứ nhất, thân xuất gia mà tâm chẳng xuất gia, tức thân tuy đi tìm cầu pháp mà tâm chẳng muốn thọ pháp. Thứ hai, thân tại gia mà tâm lại xuất gia, tức tuy vui vầy với vợ con mà không đắm nhiễm. Thứ ba, thân tâm đều xuất gia, tức nơi cảnh dục lạc, thân tâm không đắm nhiễm. Thứ tư, thân tâm không xuất gia, tức vui vầy với vợ con, tâm tham đắm nhiễm trước.

Chúng ta hãy tự kiểm nghiệm xem coi, trong bốn hạng trên, mình thuộc hạng nào. Tôi xấu hổ muôn phần, thân tuy xuất gia, nhưng trải qua bao thập niên, lừa Phật ăn cơm. Tôi chỉ biểu diễn xuất gia ở bên ngoài, nhưng trong tâm vẫn chưa nhập đạo, chưa chứng lý thể thật tướng, chưa nhận thấy bốn đại là không, chưa đạt đến như như bất động, tức là tâm chưa xuất gia trọn vẹn. Thân tâm xuất gia trọn vẹn là một điều rất khó. Xưa kia, tại Ấn Ðộ các đại cư sĩ, tuy thân tại gia mà tâm lại xuất gia, như ông Duy Ma Cật, cô Nguyệt Thượng, phu nhân Mạt Lợi, hoàng hậu Vi Ðề Hi. Tại nước Tàu, có ông Bàng Long Uẩn, vua Tống Nhân Tông, Trương Tương Dương, đều là những vị thâm thông Phật pháp; thân tuy cư tại trần lao mà tâm chẳng nhiễm thế tục. Chư đại tổ sư, thân tâm trọn vẹn xuất gia có hằng sa số. Các ngài là những bậc mô phạm trong nhà Phật, khiến hậu lai khâm phục ngưỡng mộ. Các ngài hoằng pháp lợi sanh, làm Phật sự lớn, công đức vô lượng. Vua Thuận Trị đời Thanh sáu tuổi lên ngôi, hai mươi bốn tuổi xuất gia. Thân tâm của ông xuất gia trọn vẹn. Ðối với những kẻ thân tâm không xuất gia trọn vẹn, tôi chẳng cần nhắc đến. Bậc chân chánh xuất gia thật hiếm có, và trở thành bậc đại pháp khí cũng không dễ. Ngài Khấu Băng Cổ Phật bảo:

- Xưa kia, chư thánh hiền tu hành thành công, đều nhờ vào sự tiết chế khổ hạnh.

Ngài Hoàng Bá bảo:

- Nếu không chịu lạnh thấu xương cốt, thì hoa mai sao tỏa mùi hương!

Người xuất gia làm được những điều đó thật không phải dễ dàng. Có rất nhiều con đường để thoát ly sanh tử. Kinh Lăng Nghiêm bàn đến hai mươi lăm pháp môn tu hành viên thông. Tuy có hai mươi lăm pháp môn, nhưng không ngoài tông, giáo, luật, tịnh. Tông tức là thiền tông. Giáo tức là kinh giáo. Luật tức là giới luật. Tịnh tức là tịnh độ. Bốn pháp môn này thậm thâm vi diệu. Thiền tông chỉ thẳng vào việc minh tâm kiến tánh, động tĩnh nhất như, nơi nơi đều là đạo. Bàn về thiền, có rất nhiều loại thiền, tà chánh đại tiểu không đồng. Giảng kinh cũng như thế, cứu cánh phải đạt đến nơi đại khai viên giải; một niệm vượt ba ngàn cõi, tánh tướng dung thông, sự lý vô ngại. Niệm Phật cũng phải niệm đến nhất tâm bất loạn, mới chứng duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Ðà, rồi nhập vào biển khổ Ta Bà, cứu độ chúng sanh. Tất cả pháp môn, đều không xa rời việc trì giới. Kinh Lăng Nghiêm bảo: "Nhiếp tâm là giới. Không đoạn tâm dâm dục, tất phải đọa vào đường ma. Không đoạn tâm giết hại, tất đọa vào thần đạo. Không đoạn tâm ăn cắp, tất đọa vào tà đạo. Không đoạn tâm đại vọng ngữ, nhân địa không chân chánh, thì chiêu quả quanh co. Hôm nay, sơ khởi Ta thuyết về cách nhập tam ma địa, tu pháp môn vi diệu. Muốn cầu đạo Bồ Tát, các ông trước tiên phải nghiêm trì bốn loại giới luật căn bản trên, khiến sáng trong như băng tuyết, tự không sanh cành lá. Tâm phạm ba điều, miệng phạm bốn lỗi, thân phạm ba việc, thì không thể sanh nhân Bồ Ðề."

Giới luật nhà Phật, định chế tỳ kheo, năm hạ đầu phải tinh chuyên giới luật. Sau năm hạ, đi tham tầm thiện tri thức để nghe giáo kinh tham thiền. Tại sao? Vì việc tu hành, lấy giới luật làm thể. Giới là bùa hộ thân, xuất ra khỏi sanh tử. Nếu không có giới, nơi biển sanh tử mãi bị trầm luân khổ sở. Phật ví giới như chiếc phao vượt biển, không thể để hư hoại chút nào. Nếu phao bị vỡ, nhất định sẽ chết chìm. Vì vậy, thiền tông, kinh giáo, tịnh độ, cùng tất cả pháp môn, đều lấy việc giữ giới làm đầu. Thế nên, người tu hành không thể bỏ qua ba pháp giới, định, huệ. Ba pháp này, nếu được viên dung thì sẽ đắc được vô ngại.

Trì giới nếu không rõ khai giới và giá giới, không thông hiểu đại thừa tiểu thừa, không biết nhân duyên Phật chế giới, cùng bao diệu môn, chỉ giữ giới chết cứng, cố chấp chẳng tinh tường, thì sẽ khiến đường tu học bị sai lệch. Ba học, tức giới định huệ, nếu viên dung thì đắc được giới phẩm bậc thượng. Muôn pháp môn không ngoài một tâm. Thế nên, thông đạt một pháp, tức thông đạt muôn pháp, đầu đầu vật vật tận viên dung. Một pháp chẳng thông thì muôn pháp không thể thông, đầu đầu vật vật đều đen ngòm. Không khởi một niệm, trong tâm đều đầy đủ muôn pháp. Phải hàng phục tâm như thế. Phải tham thiền cho giỏi, niệm Phật cho hay. Giảng kinh thuyết pháp thế gian cùng xuất thế gian, mọi việc đều là đạo, và tùy chỗ vô sanh, tùy nơi vô niệm. Còn vọng niệm tức còn sanh tử. Người tu hành, trước hết phải trừ ngã tướng. Nếu không có ngã tướng, các vọng niệm đều tan. Trừ chấp ngã xong, lại phải trừ chấp pháp. Chấp ngã thì thô kệch, còn chấp pháp rất vi tế. Bình thường, giảng thuyết, mở miệng thì bảo tôi như này như thế nọ. Nếu thật vô ngã thì mọi việc đều như băng tan ngói vỡ, và muôn pháp đều vô ngại. Vì có thể vô ngã vô nhân, nên thói quen tập khí đều không còn. Ðã là Phật tử, chánh tín xuất gia, cầu pháp xuất ly, phải quên mình mà nỗ lực tu hành, chớ để cảnh chuyển, và chớ sống qua ngày trong phiền não. Người Phật tử, nếu không hàng phục tâm kia, mà lầm lạc trong nhất niệm, tơ hào sơ xuất, thì cách xa trời đất; lỡ một bước chân, ân hận ngàn đời. Phải tu hành như cứu lửa cháy đầu. Nghiêm thủ giới luật như giữ gìn phao vượt biển, chẳng để bị thủng chút nào.

39/ Mồng tám tháng bảy.

Tôi là người rất nhàn rỗi. Những chuyện lớn nhỏ trong chùa, chẳng can hệ gì với tôi. Hôm nay cùng đại chúng có duyên, nơi thiền đường nhàn rỗi, giải bày tâm sự. Thiền tông truyền từ Thiếu Thất đến Tào Khê, tới tận ngày nay, định lập rất nhiều quy củ. Ðiển hình là tổ Bá Trượng, do thấy rất nhiều vị trụ trì đăng đàn thuyết pháp không hợp chánh pháp, nên Ngài định lập thanh quy thiền môn.

Người xưa khổ tâm, muốn đào tạo bồi dưỡng nhân tài nên định đặt quy củ, lập thứ tự. Ngày nay, có người cho là lạc hậu áp chế nhân tài, nên muốn chống báng dẹp bỏ. Họ cho rằng vẫn còn lưu luyến với quy luật cũ xưa, tức tâm cố chấp. Hai pháp tân cựu, xung đột lẫn nhau; cổ kim không thể tương dung. Lúc Phật còn tại thế, Ngài chế giới luật vì muốn diệt trừ tập khí cho chúng sanh. Pháp truyền đến Ðông Ðộ, nhân theo thời mà thay đổi. Bá Trượng sáng lập thanh quy, vì muốn hộ trợ giới pháp. Có quy củ thì dễ dàng đắc đạo viên thành. Mọi cử chỉ hành động, không ngoài một tâm niệm. Tất cả oai nghi thứ lớp, nhân tình lễ tiết, hành vi động tịnh, đều phải chuyên cần diệt trừ tập khí. Thanh quy Bá Trượng đã hơn ngàn năm. Nước đọng lâu ngày khiến sanh trùng. Pháp trụ lâu ngày khiến phát tệ. Thế đạo khác xưa, mượn thanh quy mà làm việc tệ bạc. Thế nên, có người xông xáo phản đối, sáng lập quy củ khác. Quy củ không tốt hay người không tốt? Nếu người không tốt, có quy củ vẫn vô dụng. Nếu người tốt, sao cần lập ra quy củ mới nữa? Thật ra quy củ không có tốt xấu, chỉ do người tốt xấu mà bày biện.

Người tham thiền nên biết, thiền nghĩa là tĩnh lự, tức nơi trong tịch tĩnh mà tư lự, chọn pháp lành thiện để theo. Tất cả đều do mình; nếu mình tốt thì pháp pháp đều vi diệu. Nếu mình không tốt, muôn pháp đều trở thành tệ xấu. Pháp thế gian cũng như thế. Pháp vốn không hư hoại, chỉ do tâm người bại hoại. Tập khí nặng nề, thì pháp hay biến thành pháp hoại. Trước khi làm việc gì, phải suy nghĩ ba lần, chớ làm những việc hàm hồ ngu muội. Pháp được lập, không thể là pháp chết cứng. Ví như thầy thuốc, tùy theo bịnh mà cho thuốc. Nếu thuốc không hợp với bịnh, uống vào sẽ hại đến thân. Vì vậy, thầy thuốc trị bịnh, không thể cố chấp cứng nhắc vào phương thuốc xưa. Người xưa bảo:

- Thuốc quý hay không quý, miễn sao bịnh được lành.

Tiên thánh kiến tạo tùng lâm, dựng lập thanh quy, định ước thứ tự, an bài chức vị, như lập pháp quốc gia, rất tinh tường chu đáo cẩn mật.

Hôm nay, mồng tám tháng bảy, quý vị chức sự lãnh đạo, chiếu theo quy củ tùng lâm, đến phòng phương trượng, khách khí cầu hòa thượng trụ trì cho phép từ chức. Nơi đây không phải là chốn tùng lâm, lại không có chuông trống hương bản, sao quá khách sáo?

Tôi vốn là người ở chốn hoang dã, chẳng có liên hệ với việc gì, sao lại làm phiền lụy quý vị? Quý vị nói có lý, chiếu theo quy củ xưa, phải nhậm chức, và phải thối chức. Mỗi năm, mồng tám tháng giêng và mồng tám tháng bảy đều là ngày từ chức. Mồng mười là ngày cầu chức; ngày mười hai là phục chức; ngày mười ba là nhậm chức; ngày mười sáu là xuất đường. Lúc đang nhậm chức vụ, thật rất cực nhọc. Lúc từ chức, được nghỉ ngơi dưỡng sức. Nhậm chức vụ lớn nhỏ trong tùng lâm, quy củ rõ ràng. Người sơ phát tâm phải nên tham học. Chức vụ có thứ tự trước sau, tức có tự chức và liệt chức, lại có nhậm chức và thối chức. Ðôi khi cũng có nhậm chức mà không thối chức. Người phát tâm tu đạo, không nên để ý đến làm gì.

Quý vị trụ trì các tùng lâm xưa nay, phần nhiều do vua quan tống cử. Tự công cử trong chùa cũng có, nhưng rất ít. Ngày nay khác với đời xưa. Một khi làm trụ trì thì không chịu từ chức. Tại phương trượng, giữ chức để dưỡng lão. Làm tri sự cũng giữ chức cả vài thập niên. Tại chùa Thiên Ninh, hòa thượng Ðịnh Lão truyền pháp cho đồ đệ là thầy Cao Lãng; Thầy làm tri sự cho đến chết. Hòa thượng Trị Khai làm giám tự rất lâu; đến năm Quang Tự thứ hai mươi mốt, Hòa Thượng lại được lên chức phương trượng, rồi giữ chức này cho đến chết. Hoà thượng Anh Dữ làm phương trượng từ năm Quang Tự thứ mười hai cho đến chết. Hòa thượng Sương Ðình thọ giới vào năm Quang Tự thứ hai mươi hai, rồi làm phương trượng cả vài thập niên mà vẫn chưa từ chức, lại chẳng muốn phát tâm từ chức. Hòa thượng Diệu Trạm nhậm chức Ty Thủy cả hai mươi mốt năm, và làm duy na cả mười tám năm, kế đến thăng chức thượng tọa, rồi không hề thối chức. Ở Hồ Nam, vùng Siêu Thắng tại chùa Giang Thiên, có thầy trụ trì giữ chức mười ba năm. Người khác từ chức mà thầy vẫn giữ chức. Ðại chúng trong chùa, thường gọi Thầy là Bồ Tát sống.

Nơi tùng lâm, biết dụng công tu hành thì rất hay, bằng ngược lại thì biến thành pháp chết. Ðại chúng đều có duyên tụ hội nơi đây, nên có cháo ăn cháo, có cơm ăn cơm, và cùng nhau ra đồng làm ruộng. Nếu tự chấp chặt, chỉ muốn giữ ngôi chùa nhỏ, thì làm sao nhận chức ban thủ ban cước, hay từ chức được? Hãy xả chấp trước, chớ đùa giỡn cợt. Danh phương trượng hay thiên trượng đều là lời nói trống rỗng. Tôi cũng giống như quý vị, chỉ dùng bát cơm không, chẳng có chức vụ gì, vậy từ chức nào?

Xưa kia, có vị tôn túc nuôi một đồng tử trong chùa. Chú này chẳng biết phép tắc. Ngày nọ, có một vị lão tăng hành cước đến chùa, dạy chú đồng tử lễ nghĩa. Tối đến, lão tôn túc từ ngoài trở về, nghi ngờ hỏi han sự tình:

- Ai dạy con vậy?

Ðồng tử đáp:

- Một vị khách tăng.

Lão tôn túc bèn gọi vị khách tăng ra, hỏi:

- Thượng Tọa từ nơi khác hành cước đến đây, có tâm ý gì? Ðồng tử này, tôi nuôi dưỡng cả hai mươi năm, khổ nhọc một đời. Ai bảo Thượng Tọa dạy bậy bạ cho y? Mời Thượng Tọa mau xách hành trang rời khỏi nơi đây!

Mưa chiều hoàng hôn dầm dề, vị khách tăng phải xách gói mà đi.

Ngài Pháp Nhãn bảo:

- Người xưa nương vào đâu mà hiển lộ những gia phong kỳ quái, và ý đạo nơi nào? Trong mọi động tác oai nghi, chẳng phải là bản lai diện mục sao? Chư thánh còn không thể chứng được, hà huống phàm phu! Thong dong tự tại, động tĩnh vô tâm, phàm thánh năng sở, trí huệ ngu si, phiền não Bồ Ðề, đều là đạo nhất như.

Ðại chúng có hiểu không? Chấp trước tức tự cột tay.

 

1 2 3 4 5 6

Trang Nhà

Về Ðầu Trang