HTHuVan.jpg (44708 bytes)

Pháp Ngữ của Thiền Sư Hư Vân

1 2 3 4 5 6

XXII. Phương tiện khai thị tại núi Vân Cư, năm 1955.

40/ Mồng mười tháng bảy.

Hôm nay, quý vị cư sĩ từ Quảng Ðông vào núi lễ Phật, cúng dường kết duyên, lại thỉnh tôi thượng đường, thuyết vài ba câu. Nay trân trọng lược bày về kinh Bốn Mươi Hai Chương, để kết duyên với quý vị. Phật nói:

- Con người có hai mươi việc khó: Bần cùng mà bố thí là khó. Giàu sang mà học đạo là khó. Vứt bỏ thân mạng là khó. Ðọc tụng kinh Phật là khó. Sanh vào thời Phật là khó. Nhẫn sắc rời dục là khó. Thấy việc tốt mà không mong cầu là khó. Bị nhục mà không sân hận là khó. Có quyền thế mà không ỷ cậy là khó. Gặp cảnh mà vô tâm là khó. Học rộng chuyên nghiên cứu là khó. Trừ diệt ngã mạn là khó. Không khinh miệt người chưa học là khó. Tâm thường hành bình đẳng là khó. Không nói lời thị phi là khó. Gặp thiện tri thức là khó. Thấy tánh học Phật là khó. Tùy duyên hóa độ người là khó. Ðối cảnh không động tâm là khó. Thiện giải phương tiện là khó.

Ai vượt qua được những cửa ải này thì mới thoát khỏi sanh tử. Sanh nhằm thời Phật, sao bảo là khó? Nếu không có thiện căn phước đức nhân duyên, gặp được Bồ Tát, A La Hán cũng rất khó, còn nói chi đến việc gặp được Phật. Luận Trí Ðộ nói: "Thành Xá Vệ có chín ức gia đình, chỉ có ba ức gia đình biết đến và được gặp Phật. Ba ức gia đình tuy tin mà không được gặp Phật. Ba ức gia đình không tin không gặp không nghe được Phật."

Hai mươi lăm năm Phật trú tại thành đó, nếu có ai phát khởi lòng tin thì đạt được lợi ích vô biên. Trong thành Xá Vệ, có ba ức gia đình không gặp không nghe đến danh hiệu Phật vì họ không có thiện căn phước đức nhân duyên. Tuy sanh cùng thời Phật, mà không gặp, không nghe thấy được Ngài. Ðương thời, có rất nhiều người trên thế giới, vì không đủ phước đức căn lành, nên không gặp, không nghe không thấy Phật, nên không đạt được ích lợi gì. Lại nữa, những đệ tử kề cận Phật, nếu không y giáo tu hành, vẫn bị đọa lạc. Ðề Bà Ðạt Ða vốn là huynh đệ của Phật; tỳ kheo Thiện Tinh làm thị giả, hầu Phật trong hai mươi năm. Họ vì không chịu tu hành chân chánh, nên phải đọa địa ngục. Bà lão nơi phía đông thành Xá Vệ, sanh cùng ngày, tháng, năm như Phật, nhưng chẳng có duyên với Ngài, nên không muốn gặp. Thế nên, gặp Phật nghe pháp là việc rất khó.

Ngày nay, tuy Phật không còn ở thế gian, nhưng có chư thiện tri thức thay Ngài hoằng pháp; nếu thường thân cận họ, thì cũng được giải thoát sanh tử. Nếu thiện căn kém cỏi, gặp được thiện tri thức cũng là việc khó. Tuy có duyên gặp mặt, nhưng không hiểu rõ lời giảng dạy, thì cũng vô ích. Hòa thượng Ðỗ Thuận sơ tổ tông Hoa Nghiêm, vốn là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù. Ngài có một đệ tử thân tín, kề cận đã lâu, nhưng chẳng hề biết hành trạng vĩ đại của Ngài. Ngày nọ, vị tăng này xin cáo từ Ngài, vì muốn lên núi Ngũ Ðài lễ bái Bồ Tát Văn Thù. Ngài bèn tặng cho một bài kệ;

"Kẻ bôn ba du hành

Ðài Sơn lễ đất đá

Văn Thù chỉ là thế

Chỗ nào tìm Di Ðà?"

Vị tăng này không hiểu ý, vẫn từ biệt đi đến núi Ngũ Ðài. Ðến đó, Thầy được một ông lão cho biết:

- Hôm nay, Văn Thù đang ở núi Chung Nam, tức hòa thượng Ðỗ Thuận đó.

Thầy vội vàng trở về, nhưng ngài Ðỗ Thuận đã ngồi xếp bằng mà viên tịch vào ngày mười lăm tháng mười một. Ngày nay, tại Quan Trung có viết ngày nhập niết bàn của Bồ Tát Văn Thù, tức ngày mười lăm tháng mười một. Người nhãn thức kém cỏi, tuy gần bậc thiện tri thức mà không thể nhận ra. Ðệ tử của thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền, tức thị giả họ Bình, do tâm địa bất hảo, kết quả phản thầy, hủy báng đạo, đi trên đường bị hổ vồ bắt. Gặp được các bậc thiện tri thức, cũng có thể là không khó, nhưng nếu không y theo lời dạy bảo của các ngài mà phụng hành, thì vẫn vô ích.

Bần cùng bố thí là khó. Người nghèo khổ, tuy tâm muốn bố thí, nhưng chẳng có tiền tài. Nếu miễn cưỡng bố thí thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, nên đó là việc khó. Người giàu sang học đạo là khó. Tuy có thể bố thí tiền tài dễ dàng, nhưng khó mà xả bỏ thân tâm để học đạo. Khó dễ là pháp đối đãi. Tinh tấn dũng mãnh, có đại nguyện lực, thì khó sẽ biến thành dễ. Lười biếng giải đãi, ý chí nhu nhược, thì dễ biến thành khó. Khó dễ do người, chẳng phải do pháp; quý nơi dung thông muôn việc, không chướng không ngại. Nghèo do tiền kiếp không hành bố thí, nay mới cảm quả báo khổ, nên phải tận lực bố thí. Giàu sang phú quý, quyền thế danh vọng, thì làm việc bố thí không khó, nhưng phải học đạo.

Ðệ tử Phật là ngài A Na Luật, được gọi là Vô Bần và Như Ý. Trong đời quá khứ, Ngài vốn là một nông dân bần cùng. Bà vợ của vị nông phu kia, thường đem bát cơm ra đồng cho chồng. Ngày nọ, đang lúc làm ruộng, gặp một vị Bích Chi Phật đi hành khất, vị nông phu định cúng dường phần cơm trưa của mình, bèn thưa:

- Bạch Ðại Ðức! Phần cơm trưa của con đây rất đạm bạc, chắc không thể cúng dường cho Ngài được. Vậy, thỉnh Ngài về nhà, con sẽ dâng cúng thức ăn ngon hơn.

Vị Bích Chi Phật bảo:

- Hiện tại là giờ ngọ. Nếu đến nhà ông thì sẽ qua giờ ngọ. Nếu quá giờ, Ta không thể dùng cơm được. Nay ông bố thí cho Ta bát cơm đó là tốt lắm rồi.

Nghe thế, vị nông phu thành tâm dâng cúng phần cơm của mình cho vị Bích Chi Phật. Nhờ công đức đó, nên cảm được quả báo sanh làm thiên vương trong chín mươi mốt kiếp. Ðời đời không nghèo hèn, sự sự đều như ý. Làm vua loài trời, vua loài người, không phải là chuyện lạ lùng. Do trồng căn lành, cúng dường bát cơm cho vị Bích Chi Phật, nên ngài A Na Luật lại được làm đệ tử Phật Thích Ca, rồi nghe pháp ngộ đạo, chứng quả A La Hán, trở thành vị có thiên nhãn bậc nhất. Chỉ nhờ duyên bố thí một bát cơm, mà đạt được quả báo tốt lành như thế. Nghèo hèn bố thí, công đức nhiều hơn người giàu sang bố thí. Ðiều này chứng minh rằng, nếu phá được cửa ải này thì tuy nghèo mà vẫn bố thí không khó.

Bồ Tát tu lục độ ba la mật, lấy bố thí làm đầu. Nghĩa của bố thí rất thâm sâu, lược thuyết có ba. Thứ nhất là tài thí, tức bố thí tiền tài vật chất cho người nghèo. Thứ hai là pháp thí, tức thuyết pháp độ người. Thứ ba là vô úy thí, tức cứu người bị hiểm nạn. Lại có bố thí thanh tịnh, tức khi bố thí, không cầu phước báo, danh tiếng, lợi lộc ở thế gian, mà chỉ vì muốn tương trợ thiện căn xuất thế cùng nhân niết bàn, nên dùng tâm thanh tịnh mà bố thí. Bố thí không thanh tịnh, tức dùng vọng tâm, cầu phước báo mà hành bố thí. Thân còn phải xả, huống hồ là những vật bên ngoài.

Bốn vị cư sĩ từ Quảng Ðông đến, vượt ngàn núi vạn sông, đến Vân Cư lễ Phật, bố thí kết duyên, thật là việc khó làm. Lại vì cầu pháp xuất ly mà đến, nên phải phát tâm dài lâu, tiến mãi không thối bước, và phải cung kính Tam Bảo. Không nên chấp vào hình tướng; thấy việc hay thì kính tín; thấy việc dở chớ nên khởi tâm oán ghét. Có tâm thương ghét, thì có phiền não, tức không thể giải thoát sanh tử. Một khi khởi tâm thương ghét, thì đạo tâm sẽ lui sụt. Phải nên cẩn trọng.

41/ Ngày mười một tháng bảy.

Hôm qua, tôi nói đến hai muơi điều khó làm trong kinh Bốn Mươi Hai Chương. Nếu hiểu rõ thì khó biến thành dễ. Khó dễ là pháp đối đãi. Trong khó có dễ, và trong dễ có khó. Cách dụng khó dễ, mỗi người hành khác nhau. Không giảng gì cao xa, chỉ bàn đến việc nghèo cùng mà bố thí, thì là việc khó lắm rồi. Ðệ tử Phật hành đạo Bồ Tát, bố thí đứng đầu trong lục độ. Bố thí tức xả bỏ. Hạnh xả trong bốn tâm vô lượng, (từ bi hỷ xả), tức là hạnh bố thí. Xả chấp được tức là giải thoát. Muôn vật ngoài thân, chẳng có gì là của mình. Nếu xả hết trong ngoài, thì tự nhiên sẽ được giải thoát. Bố thí tại sao khó?

Lúc Phật tại thế, có một cặp vợ chồng nghèo, bần cùng không thể tả. Họ sống trong một am tranh xơ xác, chỉ miễn cưỡng trú ẩn tránh mưa gió. Hai vợ chồng cùng mặc chung một chiếc khố rách, còn thân phần trên thì không có y phục che đắp. Khi ra ngoài, chỉ được một người, còn người nọ thì lõa thể ở trong nhà. Vì vậy, mỗi ngày hai vợ chồng luân phiên mặc chiếc khố rách, ra ngoài xin ăn. Nếu xin được nhiều thức ăn thì vui vẻ cùng nhau ăn. Ðôi khi chỉ xin được chút ít, hay không được chi hết, thì cả hai đều phải nhịn đói. Có một tỳ kheo, đã chứng quả A La Hán, biết hai vợ chồng này, nghèo hèn vì bao đời bao kiếp, chưa từng trồng căn lành, nên ngày nay mới ra nông nỗi này. Ngài khởi tâm từ bi, đặc biệt đến hóa độ, bằng cách hóa duyên, khiến họ gieo trồng phước đức. Thấy vị tỳ kheo đứng ngoài cửa hóa duyên, người chồng thỉnh Ngài đứng đợi nơi đó, rồi bèn chạy vào nhà, thương lượng với vợ:

- Chúng ta vì tiền kiếp không tu, nên bây giờ mới nghèo hèn khốn khổ. Ðời này nếu không chịu tu thì đời sau cũng vẫn bị khổ nữa. Song, bàn đến việc bố thí gieo trồng phước đức căn lành, thì chúng ta không có vật chi để cúng dường. Chúng ta chỉ có một chiếc khố rách che thân. Nếu cúng dường đi thì không thể ra ngoài xin ăn được, chắc phải chết đói. Ngược lại, nếu không bố thí, thì sống cũng vô dụng. Sao bằng đem chiếc khố này, thành tâm cúng dường chư tăng, để gieo căn lành, thì chết cũng không hối tiếc!

Cô vợ đồng ý. Người chồng bèn bước ra, ló đầu ngoài cửa sổ, thưa với vị tỳ kheo:

- Bạch Ðại Ðức! Cúi xin Ngài từ bi thương xót. Chúng con nay muốn dâng chiếc khố này để cúng dường đức Phật.

Vị tỳ kheo khởi tâm từ bi, thương tình tiếp nhận, đem về cúng dường cho đức Thế Tôn. Bấy giờ, Phật đang thuyết pháp cho vua Tần Bà Sa La, nhưng vẫn thọ nhận chiếc khố của hai vợ chồng nghèo. Ðang giảng kinh trước đại chúng, Phật lại kể nhân duyên tiền kiếp của hai vợ chồng đó. Tuy họ chưa bao giờ trồng căn lành, nhưng nay chỉ do nhất niệm tâm thành, đem hết vật sở hữu, bố thí cúng dường chiếc khố, nên phước đức thật vô lượng. Vua nghe việc này, đến gặp hai vợ chồng kia, thấy họ đang nằm trên đất, lõa thể đói khát, nên phát tâm cứu hộ, cấp cho y phục thức ăn, rồi dẫn họ đến nơi Phật. Họ được nghe pháp, liền chứng quả thánh. Hai vợ chồng kia, nghèo cùng tột bực, nhưng phá được cửa ải tham luyến. Tuy nghèo nàn nhưng vẫn bố thí, nên mới được lợi ích như thế. Ðiều này chứng minh, việc khó hay dễ, đều do tâm niệm, không có nhất định.

Xưa kia, vào đời Minh, La Diện có soạn quyển Thơ Tỉnh Thế:

"Mau mau gấp gấp, cầu khổ khổ

Lạnh lạnh nóng nóng, độ xuân thu

Sáng sáng tối tối, mưu việc nhà

Hôn hôn muội muội, đầu tóc trắng

Thị thị phi phi, cả ngày ngày

Phiền phiền não não, lúc nào ngưng.

Rõ rõ ràng ràng, đường lộ cái.

Muôn muôn ngàn ngàn, chẳng chịu tu."

Tuy lời văn mộc mạc, nhưng ý nghĩa thâm sâu, vì bàn về nghiệp chướng hành vi ma quỷ của chúng ta trong một đời. Ai có thể vượt qua những việc trên thì người đó thật là bậc đại giải thoát.

XXIII. Khai thị trong kỳ truyền giới tại núi Vân Cư, vào tháng mười năm 1955.

1/ Duyên khởi của kỳ truyền giới.

Lần này, núi chúng ta làm kinh động các tỉnh các xứ cùng quý Phật tử khắp nơi. Mọi người đều không quản khổ nhọc, đường xa vạn dặm mà đến đây. Hoặc vì cầu giới, hoặc vì muốn trợ đạo thành tựu mà tới. Song, nơi đây chỉ toàn là lều tranh mái lá, không giống như những tùng lâm tự viện, chẳng có thể lo lắng sắp đặt mọi việc chu toàn, nên không thể tránh việc khiến quý vị sanh tâm động niệm. Truyền giới lần này, có rất nhiều người chưa hiểu giới pháp tường tận. Hôm nay do thỉnh mời, tôi ra giảng cho quý vị nghe vài điều, xin chớ sanh phiền não và ngộ nhận.

Nơi đây, vốn là chốn đạo tràng của Tổ đình, cũng là danh lam thắng cảnh nổi tiếng, lại có những di tích hoằng dương chánh pháp của vài mươi vị tổ sư thuở xưa. Từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến nay, chốn Tổ Ðình này đã trải qua bao lần hưng thịnh suy đồi. Thời kháng chiến Nhật, vì binh đao hỏa hoạn, cả trăm điện đường phòng ốc bị tàn phá đốt cháy, không còn một ngôi. Năm ngoái, Hư Vân tôi tham dự pháp hội hòa bình cùng đại hội thành lập liên hội Phật Giáo Trung Quốc xong, liền trở vào Nam, đến vùng Khuông Phụ dưỡng bịnh. Xét thấy Vân Cư vốn là một đạo tràng thắng pháp, nhưng đã bị bỏ hoang phế và chìm trong quên lãng lâu ngày, khiến tôi không thể nhẫn tâm mà nhìn núi này bị mai một, nên phát tâm chấn chỉnh trùng hưng. Vì thế, tôi xin chánh phủ phê chuẩn, cho phép tu sửa. Vừa được chấp thuận, tôi liền lên núi phát hoang cỏ dại. Khi đó, mục kích tận mắt, thấy di tích nền móng chùa chiền cùng hai tôn tượng Phật đồng, tượng Bồ Tát Quán Âm nằm trong những bụi cỏ dại um tùm, khiến lệ bi thương tự nhiên tuôn trào. Tôi lập tức bắt tay vào việc dọn dẹp cỏ lau, sửa chữa chuồng trâu đơn sơ, để làm nơi trú ngụ. Lại nữa, tôi có ý muốn bảo tồn các thánh tích, nhưng chưa tính toán phải xây dựng lại như thế nào. Dọn dẹp chưa xong phân nửa, thì quý vị từ các phương xa, mang y bát đến, trú không đủ chỗ, nên nơi ăn chốn ở trở thành vấn đề khó khăn. Song, tình người thật khó khước từ. Nếu tiếp nhận thì khó lòng lo lắng nơi ăn chốn ở được chu toàn. Bất đắc dĩ, phải cùng nhau đồng kham cộng khổ, không quản khổ nhọc, chuyên cần lao động, khai khẩn ruộng hoang, để lo việc ăn mặc chỗ ở. Lại nữa, có những vị chưa thọ giới, khẩn cầu tôi thuyết giới và truyền giới. Vì vậy, tôi miễn cưỡng bảo:

- Muốn truyền giới, trước tiên phải được chánh phủ phê chuẩn.

May mắn, sau này chánh phủ cho phép lập đàn truyền giới. Ðược phê chuẩn, tôi bèn công bố trước đại chúng:

- Hiện tại, chánh phủ đã hứa khả cho phép lập đàn truyền giới. Chúng ta sẽ khai mở phương tiện giới đàn trong một thời gian ngắn, nhưng chỉ truyền giới cho các vị tân giới tử trên núi. Chớ làm náo động, thông tin này ra ngoài, bảo là nơi đây có truyền giới. Nếu bên ngoài biết được, tăng chúng kéo đến ùn ùn, thì thức ăn chỗ ở không đủ, tiếp đãi không tròn. Tôi vốn vì dưỡng bịnh, nên mới lên đây kết am tranh, chứ chẳng phải muốn đến đây khai mở đạo tràng, pháp hội truyền giới.

Song, có vài vị tự ý thông tin ra ngoài. Lại có những vị từ các nơi xa xôi, trôi nổi tới đây, rồi lại truyền tin ra ngoài, khiến cho khắp bốn phương, viết hàng trăm lá thư hỏi han. Do không thể vọng ngữ, tôi hồi đáp bảo rằng vì nơi ăn chốn ở tại đây rất khó khăn, chỉ khai mở phương tiện giới đàn trong một thời gian ngắn cho các vị tân giới tử trên núi, nên chưa thông báo ra ngoài. Chùa Cao Mân cũng có vài vị gởi thơ đến khẩn cầu thọ giới. Tình người khó quá, nên tôi chỉ viết vài chữ hồi đáp rằng nếu muốn đến đây, phải có giấy chứng nhận của chánh phủ, bằng ngược lại chớ nên đến.

2/ Nguyên nhân những vị bên ngoài đến không thể tham gia thọ giới.

Hôm nay, quý vị đường xa vạn dặm mà đến đây. Nếu không nói rõ nguyên do, e rằng quý vị sẽ hiểu lầm. Chánh phủ vốn thực hành chính sách tự do tôn giáo. Ðối với những việc truyền giới, đả thất, giảng kinh thuyết pháp, họ đều cho phép. Truyền giới lần này, chánh phủ Trần Minh cùng tôn giáo sự vụ và liên hội Phật giáo đã phê chuẩn. Sao quý vị từ xa đến không được tham gia? Trước mắt là việc ăn uống nghỉ ngơi rất khó khăn. Vã lại, ở Thượng Hải, hội Thiên Chúa giáo đang bị rắc rối. Ðây là việc của ngoại đạo, nên không cần nói đến. Hội Thanh Niên Phật giáo tại Thượng Hải thường lấy việc hoằng pháp lợi sanh, mà cũng bị rắc rối với chính quyền cộng sản. Ðây là việc của cư sĩ, cũng không bàn tới. Tại các đạo tràng Kim Cang của người xuất gia, lại liên tục phát sanh bao sự tình rối rắm. Tận mắt chứng kiến những sự việc này, quý vị có đau lòng hay không? Lại nữa, chính quyền ở tỉnh Cam Túc đánh điện cho chánh quyền tỉnh Giang Tây, bảo rằng nơi đây có ngoại đạo, ẩn mình trong giới Phật giáo mà đến Vân Cư. Sự việc trắng đen chưa rõ. Một người làm hại biết bao nhiêu người. Việc này rất hệ trọng, nên không thể chẳng phòng ngừa.

3/ Khai thị phương tiện tự thệ thọ giới.

Quý vị vì không biết nguyên nhân truyền giới của bổn tự mà đến đây. Lại nữa, hiện nay tại Thượng Hải đã phát sanh rất nhiều việc rắc rối. Do đó, xin quý vị ở bên ngoài đến, sau khi thọ giới xong hãy mau mắn trở về. Nghe qua lời này, chắc chắn quý vị sẽ bị phiền muộn. Song, tôi không nhẫn tâm nhìn thấy quý vị bị tai họa.

Những năm về trước, tôi truyền giới mất cả năm mươi ba ngày. Năm nay, vì việc sinh sống khó khăn bề bộn, nên thời gian truyền giới phải giảm xuống. Tôi định là rằm tháng mười nhập đàn truyền giới, cho đến ngày mười tám tháng mười một thì kết thúc. Tổng cộng là ba mươi hai ngày. Hiện tại, nhân duyên cũng không đủ, lại hoãn kỳ truyền giới trong nửa tháng; định đến mồng một tháng chạp mới nhập đàn truyền giới, rồi đến ngày mười tám là viên mãn.

Hôm nay, đặc biệt vì có rất nhiều quý vị tân giới tử từ các nơi khác đến, nên khai phương tiện tự phát nguyện thọ giới. Hy vọng quý vị từ bên ngoài tới, hoan hỷ y chiếu hành theo. Ðời của tôi vốn rất bất mãn người lạm thiết giới đàn, và lạm truyền giới pháp. Thật vậy, tôi thấy có vài nơi truyền giới, chỉ giống như chỗ buôn bán, mà không cần hỏi han hòa thượng giới sư cùng hòa thượng A Xà Lê, có làm đúng như giới pháp không. Tam đàn đại giới chỉ tổ chức trong ba ngày hoặc một ngày. Bán giới điệp khắp nơi, rồi gọi tên đẹp đẽ là Ký Giới, mà chẳng biết quy thức giới luật như thế nào. Tâm tôi thống khổ đau nhức muôn vàn khi nghĩ đến những kẻ manh tâm buôn bán đức Như Lai, hủy hoại Phật pháp. Song, tại sao tôi lại khai phương tiện tự phát nguyện thọ giới?

Bàn về việc thọ giới, có hai loại khác nhau, tức là thọ Phật giới và thọ tăng giới. Năm chúng xuất gia, nơi chánh điện quỳ trước tượng chư Phật chư Bồ Tát. Giới sư khải thỉnh ba lần, khiến giới tử lãnh thọ Bồ Tát mười giới trọng vô tận, bốn mươi tám giới khinh. Hai chúng tại gia thọ sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh. Ðấy là Phật giới. Ðối với giới Bồ Tát, vì đã quên bản ngã, nên trước tượng chư Phật chư Bồ Tát, phát nguyện lãnh thọ giới pháp. Song, đối với người cầu thọ giới Bồ Tát, hãy tự xem xét rằng mình đã quên bản ngã chưa!

Trong tăng chúng, chư sa di lễ thỉnh mười hòa thượng, bạch tứ yết ma, lãnh thọ hai trăm năm mươi giới, tức trở thành tỳ kheo. Sa di ny thọ ba trăm bốn mươi tám giới, trở thành tỳ kheo ny. Ðây là tăng giới; vì chư Thanh Văn, chưa quên bản ngã, nên phải cần mười vị hòa thượng giới sư chứng minh truyền giới.

Bồ Tát giới bổn viết: "Nếu trong vòng ngàn dặm, không có thầy truyền giới, thì có thể quỳ trước hình tượng Phật Bồ Tát mà tự thệ thọ giới, nhưng phải thấy điềm lành tướng tốt."

Kinh Hoa Nghiêm nói: "Tất cả nghiệp chướng, đều từ vọng tưởng sanh ra. Nếu cầu sám hối, phải ngồi niệm thật tướng. Nghiệp tội như sương mai, mặt trời trí huệ năng diệt trừ. Nếu thanh tịnh được sáu căn thì thành tựu giới tướng."

Vì vậy, nếu trong vòng ngàn dặm mà không có vị truyền giới sư thì có thể phương tiện tự thọ giới Bồ Tát, nhưng phải thấy tướng hảo. Nếu trong vòng ngàn dặm có vị giới sư thì không thể tự thệ thọ giới. Ngày nay, quý vị đến đây, không xa ngàn dặm, tức là đã phát tín tâm. Hư Vân tôi chẳng phải trốn tránh việc thuyết giới và truyền giới, mà do nghịch duyên chướng ngại, nên nơi đây đành phải khai mở phương tiện tự thọ giới Bồ Tát.

Ðối với tăng giới, mắt phải quán thấy nghi thức giới đàn, và tai nghe thuyết giới yết ma, thì mới đắc giới thể. Tăng giới tức thọ giới từ chư tăng, không thể tự thệ thọ giới. Song, lần này quý vị đến đây, ân cần khẩn cầu thọ giới. Giới đàn quý vị đã thấy; mười vị giới sư đã nhận ra. Mỗi ngày quý vị đã nghe tôi giảng phép tắc thọ giới; tuy chưa chính thức đăng đàn, nhưng quý vị có thể trở về quê quán tự thệ thọ giới. Tôi tác pháp nơi đây, sẽ hồi hướng đến quý vị. Tuy chưa được tính là làm đúng như pháp, nhưng cũng không vượt ngoài giới pháp.

Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: "Pháp chân thường của chư Phật, nếu xưng 'lành thay, tỳ kheo đến đây', liền thành sa môn."

Hư Vân tôi đức kém, sao sánh bằng Phật, nhưng vì gặp nhân duyên chướng ngại, nên vạn phần bất đắc dĩ mới quyền thiết phương tiện. Hào quang chư Phật thường tịch tĩnh, chắc sẽ thầm mật hứa khả. Song, quý vị nên biết, nếu không có nhân duyên đặc thù nào, thì chẳng có thể khai mở phương tiện thọ giới như vầy được.

Hư Vân tôi nghiệp chướng thâm trọng. Vì được quý vị thỉnh mời, nên tôi phải miễn cưỡng ra thuyết giới. Do nhân duyên tiền kiếp kém cỏi, ngày nay chúng ta mới thọ những nghịch duyên không như ý. Khi trở về bổn xứ, nơi chùa chiền, am miếu, tịnh thất, phải chí thành lễ Phật, khất cầu sám hối. Phải an bài, định nhật kỳ, ngày giờ. Mồng một khai đàn, mồng tám thọ giới Sa Di. Ngày mười lăm thọ giới Tỳ Kheo. Ngày mười sáu dâng hương cúng Phật. Ngày mười bảy thọ giới Bồ Tát. Ngày mười tám thì viên mãn công đức. Lễ sám chân thành khẩn thiết, nếu thấy hảo tướng tức là đắc giới. Sau đó, thỉnh chư trưởng lão thượng nhân chứng minh, hứa khả cho giới tử đàn tràng, chiếu phát giới điệp. Phải nên tự học tập hành trì quy củ phép tắc, oai nghi tế hạnh trong luật Tỳ Ni. Hôm nay, vì quý vị khai mở phương tiện truyền giới, chỉ vì bất đắc dĩ mới hành.

Người xưa bảo:

- Thà thân đọa xuống địa ngục, chớ đem Phật pháp hành theo tình người ở thế gian.

Hôm nay, Hư Vân tôi làm những việc như vầy, chắc phải đọa địa ngục. Song, tôi muốn nhắn nhủ rằng nếu quý vị không lưu tâm, không hành trì đúng giới pháp, lạm dụng ăn cắp hình tướng oai nghi Phật, vọng xưng Thích Tử, chỉ có tấm giấy giới điệp, chỉ đeo quảy hư danh trống rỗng, thì đến ngày cuối gặt quả báo, cực khổ không lường. Hãy lưu tâm cẩn trọng.

4/ Y bát.

Y bát là chánh duyên thọ giới. Nay lược thuyết danh tướng của y bát cho quý vị nghe. Bảy chúng xuất gia, thọ y bát không đồng. Tổng quát, có mạn y và ba loại y của tăng chúng. Mạn y, tiếng Phạn gọi là Bát Tra. Mạn tức là tản mạn, thông mạn, tức y tướng không có sọc điều. Ðây là y lễ sám, tức y của Sa Di, Sa Di Ni. Nếu là ưu bà tắc, ưu bà di, đã thọ tam quy ngũ giới hay Bồ Tát giới, thì có thể đắp y này khi làm Phật sự, lễ bái tụng kinh tại am tranh, chùa chiền. Nếu ở nhà, ra vào tới lui, đều không được đắp, mà phải để y nơi thanh tịnh.

Ba y, tức là y năm điều, bảy điều, và đại y. Luật chế tỳ kheo, tỳ kheo ny, phải có đủ ba y hoại sắc, may cắt dài ngắn tùy theo kích thước để thúc liễm thân tâm, như đắp bờ ruộng, giữ nước trưởng dưỡng lúa mạ. Ruộng y biểu hiện pháp, thấm nhuần bốn loại nước lợi ích, tăng trưởng ba loại lúa mạ lành thiện, nuôi dưõng pháp thân, tích tụ huệ mạng. Thế nên, chư tăng được gọi là phước điền tăng. Y cũng được gọi là y phước điền. Y năm điều, tiếng Phạn gọi là y An Ðà Hội, hạ y, y nhiễm tác, tức y để làm việc chấp tác.

Y năm điều, một dài một ngắn, cắt nối làm thành. Ðây là y mà tỳ kheo, tỳ kheo ny, thường mặc để chấp tác lao động, ra vào đến đi.

Y bảy điều, tiếng Phạn gọi là Huất Ða La Tăng, tức y nhập chúng, hay thượng y. Bảy điều, tức hai mảnh dài, một mảnh ngắn, may cắt thành. Ðây là y mà tỳ kheo, tỳ kheo ny thường đắp lúc lễ Phật, sám hối tụng kinh, tọa thiền, thọ trai, nghe giảng kinh, kiết hạ an cư, tác tụ tứ, cùng họp tăng, nhóm chúng.

Ðại y, tiếng Phạn gọi là Tăng Già Lê, gọi là y Tán Toái, tức dùng các miếng vải nhỏ mà may kết thành. Ðây là y có nhiều điều và lớn nhất của chư tỳ kheo, nên gọi là đại y. Lúc đăng đàn thuyết pháp, nửa tháng tụng giới Bố Tát, thường đắp y này. Ðại y có nhiều loại, như thượng trung hạ phẩm. Hạ phẩm có ba loại. Hạ hạ phẩm là y chín điều. Hạ trung phẩm là y mười một điều. Hạ thượng phẩm là y mười ba điều. Ba phẩm y này có hai miếng dài, một miếng ngắn, may cắt lại thành. Trung có ba phẩm. Trung hạ phẩm có mười lăm điều. Trung trung phẩm có mười bảy điều. Trung thượng phẩm có mười chín điều. Ba phẩm y này có ba miếng dài một miếng ngắn, cắt may lại thành. Thượng phẩm có ba loại. Thượng hạ phẩm có hai mươi mốt điều. Thượng trung phẩm có hai mươi ba điều. Thượng thượng phẩm có hai mươi lăm điều. Ba phẩm y này có bốn miếng dài, một miếng ngắn, cắt may hợp thành. Những loại y này phải dùng vải bố thô may thành, chứ không thể may bằng vải tơ lụa mỏng thưa. Lại nữa, không thể thêu may tượng ngàn vị Phật lên trên y. Có người thêu may hình Phật lên trên y, rồi gọi đó là y ngàn vị Phật. Là đệ tử Phật, phải nên tôn kính đảnh lễ hình tượng Phật. Sao lại điên đảo thêu may hình tượng Phật lên thân? Thậm chí có người lại may hình Phật bên dưới bắp đùi.

Thiên Phật y là chỉ cho ba loại y bên trên. Chư Như Lai đạo đồng, ngàn Phật tương truyền, đều giống như nhau, chứ chẳng phải thêu ngàn Phật trên y mà gọi là Thiên Phật y.

Lại nữa, do khí hậu ở Ấn Ðộ rất nóng, nên tỳ kheo chỉ đắp ba y và mặc một cái khố, chứ không có y phục nào khác. Thế nên, ba y này thường chẳng rời thân. Ngủ cũng mặc, và chết chẳng rời bỏ. Khí hậu ở Tàu rất lạnh, nên trong mình chư tỳ kheo còn đắp thêm những đồ ấm khác. Lúc làm Phật sự, mới đắp y ca sa. Vì vậy, những y ca sa này không thường được đắp. Nếu ra ngoài hành cước, phải mang theo, vì rời ba y này tức phạm giới.

Bàn đến y phục của Sa Di, Sa Di Ni, quyển Án Tát Bà Da, tức luận Tỳ Bà Sa, viết: "Sa Di được mặc thượng y và hạ y, tức là y An Ðà Hội và y Huất Ða La Tăng, khiến được thanh tịnh nhập chúng, và đi đứng được thuận tiện."

Bộ luận Căn Bổn bảo: "Sa Di thọ y Mạn Ðiều. Nếu đủ hai mươi tuổi, có thể thọ giới cụ túc, cầu ba y, bình bát tọa cụ."

Lời bàn của luận Tỳ Bà Sa về y Sa Di ở trên, không đồng với y năm điều của tỳ kheo. Năm điều tức một dài một ngắn. Bảy điều tức hai dài một ngắn. Cắt may thành hình thửa ruộng. Mượn tên năm điều hay bảy điều, nhưng lúc cắt may thì không dùng tướng y năm điều hay bảy điều. Y không có điều tức gọi là mạn y.

Mạn y không có điều. Gần đến khi thọ giới cụ túc, thì mới may cắt thành tướng y có điều. Trong thời gian đó, có thể lập phương tiện. Theo giới luật, Sa Di có ba loại: Thứ nhất, từ bảy tuổi đến mười ba tuổi, gọi là Sa Di đuổi quạ. Nhỏ tuổi cầu xuất gia, ngài A Nan không dám độ. Phật bảo rằng nếu đuổi được quạ thì cho phép xuất gia. Thứ hai, từ mười bốn tuổi đến mười chín tuổi, gọi là Sa Di Ứng Pháp, tức chân chánh hợp với địa vị của Sa Di. Hạng này phải theo thầy học năm năm, để được huấn luyện thuần thục. Nếu kham khổ nổi, thì tiến thêm một bước, thọ giới cụ túc, nên gọi là Sa Di Ứng Pháp. Thứ ba, từ hai mươi tuổi đến bảy mươi tuổi, gọi là Sa Di Danh Tự. Người này vốn hợp địa vị tăng sĩ, nhưng vì nhân duyên chưa đủ, nên chỉ làm Sa Di trên danh tự. Sa Di đuổi quạ, Sa Di Ứng Pháp, chỉ được đắp y không có điều, vì chưa thuộc địa vị tăng sĩ. Ðối với Sa Di Danh Tự, nếu đã hơn hai mươi tuổi, mà quyết chí sẽ đăng đàn thọ giới cụ túc, thì không chỉ hạn cuộc hành trì pháp thức Sa Di, mà có thể dần dần thăng tiến, nhưng không thể nhảy cấp bậc được. Hạng Sa Di này, được hứa khả y tướng phước điền tức y năm điều, nhưng không thể mặc y Tăng Già Lê.

Bàn luận thêm đôi chút, muốn thọ giới tỳ kheo phải đủ hai mươi tuổi. Nhưng nếu chưa đủ tuổi, Phật chế rằng từ ngày ra đời cho đến hiện tại, dùng năm nhuận, lấy ra một tháng nhiều ngày nhất, rồi trong tháng đó, rút ra một ngày, bổ túc vào. Nếu tính đủ tuổi thì có thể thọ giới cụ túc. Song, mọi việc đều phải tính vào nhân cách, chớ quá câu chấp. Chư đại tổ sư xưa kia, xuất gia thọ giới tỳ kheo, chưa đủ tuổi tác, cũng không ít.

Tọa cụ, tiếng Phạn gọi là Ni Sư Ðàn, tức y tùy tọa, y phu tọa, y sấn túc. Y này giống như nền tháp. Thân người thọ giới tức là tháp của năm phần pháp thân. Do từ năm phần pháp thân mà giới thể phát sanh. Tọa cụ này, bảy chúng xuất gia đều có thể thọ trì.

Bình bát, tiếng Phạn gọi là Bát Ða La, nghĩa là Ứng Lượng Khí, tức đầy đủ ba pháp: Thể, Sắc, Lượng. Thể tức là thể thức phép tắc, chỉ được dùng hai vật thiếc sắt, ngói vôi, mà không được dùng đồng hay gỗ chế tạo thành. Sắc tức là dùng hột Ma Tử Hanh, dầm nhuyễn rồi bôi trong ngoài. Dùng tre hun khói thành màu đen. Vẽ hình chim Cưu Linh Khổng Tước ngoài bình. Nung thành màu đen vì vào mùa hè, trong bình bát nếu chứa nhiều thức ăn thì không bị lên men, và cặn cáu không đóng. Bàn về lượng, thượng bát có thể chứa một đấu rưởi. Trung bát chứa một đấu. Hạ bát chứa năm thặng. Theo tiêu chuẩn, thượng bát chứa một đấu. Trung bát chứa bảy thặng rưởi. Hạ bát chứa năm thặng. Những loại bình bát này, chỉ có hai chúng xuất gia mới được dùng.

Ba y, một tọa cụ, một bình bát là chánh duyên thọ giới của hai chúng xuất gia. Phải luôn giữ gìn bên thân. Nếu vay mượn hoặc không có, tức là phi pháp. Y chuẩn theo giới luật thì không thể đắc pháp.

5/ Giới luật là nền tảng căn bản của Phật pháp.

Bên trên đã lược bàn về danh tướng của y bát. Nay nói sơ lược về ý nghĩa thọ giới. Quý vị phải chú ý lắng nghe. Bí yếu của Phật pháp nằm nơi ba pháp vô lậu học, tức giới định huệ. Trong ba pháp này, giới luật là nền tảng căn bản. Nhờ giới luật mà sanh định. Do định mà sanh huệ. Nếu năng trì giới thanh tịnh, thì định huệ tự nhiên sẽ được viên thành. Thể theo ngôn từ, Phật chế giới luật, vốn có ba hạng: Thứ nhất, giới tại gia, tức năm giới và tám giới. Thứ hai, giới xuất gia, tức mười giới của sa di và sa di ni, cùng giới cụ túc của tỳ kheo và tỳ kheo ny. Thứ ba, đạo tục thông hành giới, tức là tam tụ tịnh giới Bồ Tát.

Hôm nay, quý vị cầu thọ giới, tức là phát hạnh nguyện quan trọng, cao cả bậc nhất. Hạnh nghĩa là hành trì, tức y theo giới luật mà tu hành. Nguyện nghĩa là phát nguyện, tức phát bốn hoằng thệ nguyện. Hạnh nguyện nếu tương dung đầy đủ thì sẽ thành diệu dụng. Phật chế giới luật, không ngoài việc khiến cho chúng sanh đoạn trừ thói quen tật xấu, ngưng ác hành thiện, bỏ trần lao, hợp với tánh giác. Kinh Hoa Nghiêm nói:" Giới là nền tảng căn bản của đạo quả Bồ Ðề vô thượng. Phải nên hành trì tịnh giới đầy đủ."

Nhờ giới mà Phật pháp mới trụ thế dài lâu. Tăng già nương vào giới mà trường tồn, phát triển.

6/ Giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng.

Giới được phân thành bốn loại: Giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng.

A/ Giới pháp: Phật chế năm giới, tám giới cho ưu bà tắc và ưu bà di, chế sáu giới cho thức xoa ma noa, chế mười giới cho sa di và sa di ni, và chế giới cụ túc cho tỳ kheo và tỳ kheo ny. Năm chúng Bồ Tát xuất gia, thọ mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh. Hai chúng Bồ Tát tại gia, thọ sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh. Một trăm tám mươi bốn loại yết ma, ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, cùng vô lượng luật nghi, được gọi là giới pháp.

B/ Giới thể: Tức là lúc thọ giới, lãnh nạp giới pháp nơi thân tâm, khiến phát sanh một loại giới thể. Giới thể này, tuy phàm phu không thể nghe thấy biết đến, nhưng suốt đời hằng thường tương tục, có công năng phòng việc xấu ngưng việc ác. Ðược giới thể bậc ưu hay liệt, tùy theo sự phát tâm cao thấp trong lúc thọ giới. Người cầu giới, đầu tiên phải biết phát tâm. Phát tâm có ba phẩm vị thượng trung hạ.

Phát tâm hạ phẩm, tức ngay lúc thọ giới, trí huệ mờ mịt, hạ liệt, thệ nguyện không rộng, hoặc tâm tán loạn, duyên cảnh không chu toàn. Tuy thủ trì giới tướng, nhưng không thể phát khởi công dụng của giới thể, tức phát tâm hạ phẩm, tức chỉ được giới thể hạ phẩm.

Thứ hai, phát tâm trung phẩm, tức ngay khi thọ giới, tâm duyên đến tất cả cảnh giới tình cùng vô tình. Song, tại những cảnh duyên này, có phát khởi phần đoạn các việc ác, phần tu các việc thiện, lại chỉ muốn tự giải thoát sanh tử, mà hoàn toàn không có thệ nguyện độ khắp chúng sanh, tức phát tâm trung phẩm, tức đắc giới thể bậc trung.

Thứ ba, phát tâm thượng phẩm, tức ngay nơi thọ giới, tâm tâm tương tục, thấy cảnh sáng trong thanh tịnh, duyên đến tất cả cảnh giới hữu tình lẫn vô tình. Ngay nơi cảnh duyên này, có thể quyết định phát đại thệ nguyện, tức nguyện đoạn tất cả ác, nguyện tu tất cả thiện, nguyện độ tất cả chúng sanh. Ðó là phát tâm bậc thượng, tức đắc giới thể bậc thượng. Vì vậy, nếu muốn đắc được giới thể thượng phẩm, phải nên phát tâm thượng phẩm.

Do đó, trước khi thọ giới, phải khai mở tâm rộng rãi, kế đến lập chí cao viễn, thì khi thấy các tướng liền hiểu rõ. Nếu không chuẩn bị kỹ càng, chỉ mơ hồ về pháp tướng, thì làm sao đắc được giới thể thượng phẩm? Hoặc giả, hoàn toàn không phát khởi tâm cầu giới, chỉ được danh thọ giới trống rỗng, thật uổng công sức thọ giới, cùng lãng phí một đời tu. Quý vị hãy thận trọng lưu ý.

Cảnh duyên tuy nhiều, nhưng không ngoài hai loại hữu tình và vô tình. Cảnh duyên loài hữu tình tức là tất cả động vật có sanh mạng như loài người, cá, chim, trùng, thú, v.v... Cảnh duyên vô tình tức là tất cả loài không có sanh mạng như thực vật, khoáng vật, đất đai, núi sông, mặt trăng, mặt trời, tinh sao, cỏ cây, nhà cửa, dụng cụ, thuốc men, v.v...

Chúng sanh tạo nghiệp ác, do mê lầm cảnh duyên trước mắt, như vừa thấy tiền tài, liền khởi tâm muốn ăn cắp; vừa thấy sắc đẹp liền khởi niệm dâm dục. Song, nghiệp ác vốn do cảnh khởi, và nghiệp thiện cũng từ cảnh mà sanh. Cảnh là nơi nương tựa của sự chế giới, cũng chính là nền tảng căn bản phát khởi giới luật. Ví như giới cấm giết hại và dâm dục, do cảnh hữu tình phát khởi mà chế giới. Những giới này, cũng y theo cảnh mà sanh. Giới cấm ăn cắp và nói láo, do cảnh hữu tình và vô tình phát khởi mà chế giới. Hai giới này cũng y theo cảnh hữu tình và phi tình mà phát khởi. Thế nên, cảnh của rừng cây thâm thẩm đều là gốc của sự chế giới, và là nhân của sự phát khởi giới. Nếu hưng khởi được tâm từ quảng đại, duyên cảnh hữu tình và vô tình, rồi phát khởi ba thệ nguyện rộng lớn, tương ưng cùng giới pháp, lãnh nạp vào thân, hộ trì suốt đời, tức đắc giới thể thượng phẩm.

C/ Giới hạnh: Tức là sau khi đắc giới thể, trong cuộc sống hằng ngày, hành vi động tĩnh, ung dung tự tại, ngừng các việc ác, tu các điều thiện, thuận trì theo giới đã thọ, không vượt ngoài luật Tỳ Ni. Nơi pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, cùng tất cả pháp môn tu hành, đều không vượt ngoài giới hạnh, lại chẳng rời tất cả ngoại hạnh, nên đặc biệt gọi là giới hạnh.

D/ Giới tướng: Tức là những giới do Phật chế. Nơi mỗi giới, có những phần thọ trì mà phạm và không phạm, lại có phân biệt nặng nhẹ và khai giá. Trì tức là thuận theo giới thể đã thọ mà lập danh, và được phân thành hai phần, chỉ trì cùng tác trì. Phạm tức là do vi phạm giới thể đã thọ mà lập danh, và được phân làm chỉ phạm cùng tác phạm.

Chỉ trì, tức là phương tiện chánh niệm, hộ trì giới thể đã thọ, ngăn ngừa cấm chỉ thân tâm, không tạo việc ác, nên gọi là chỉ. Chỉ mà không vi phạm, thuận theo giới đã thọ, khiến giới thể sáng trong tinh khiết, nên gọi là trì. Trì do chỉ mà thành, tức đối với các việc phi pháp ác nghiệp, không nên làm mà chẳng hề làm, đó là chỉ trì.

Tác trì, nghĩa là chuyên cần thúc liễm ba nghiệp thân miệng ý, tu tập giới hạnh, tức có việc thiện phát khởi thì phải hộ trì, nên gọi là tác. Tác đúng như pháp; thuận theo giới thể đã thọ, nên gọi là trì. Trì do tác mà thành, tức đối với những việc đúng như chánh pháp cùng nghiệp thiện, nên làm thì phải cố làm, đó là tác trì.

Chỉ phạm, tức do tâm ngu si giải đãi, ngã mạn, khiến hành ngược với giới thể đã thọ. Nơi các nghiệp thiện thù thắng, chẳng muốn tu học, nên gọi là chỉ. Chỉ mà có vi phạm, tức phản lại lời nguyện thọ giới, nghĩa là phạm. Phạm do chỉ mà thành, tức ngay nơi nghiệp thiện thù thắng phải nên làm mà không chịu làm, đó là chỉ phạm.

Tác phạm, tức là trong tâm đầy dẫy những chất độc tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tâm kích khởi thân miệng, tạo cảnh vi phạm luân lý, đó gọi là tác. Tác mà có vi phạm, tức ô nhiễm giới thể đã thọ, nên gọi là phạm. Phạm do tác mà thành, tức nơi nghiệp ác phi pháp không nên làm mà lại cố làm, đó là tác phạm.

Ðối với những giới khinh trọng, khai giá trong tạng luật, quý vị phải nghiên cứu tu học kỹ càng. Hiện tại, không thể giảng thuyết tường tận. Những danh tự như thế, được gọi là giới tướng.

Bên trên, tuy phân làm bốn loại, nhưng thật ra chỉ là một. Chuyển phàm thành thánh, gọi là giới pháp. Tổng nhiếp nguồn tâm, gọi là giới thể. Tu tạo ba nghiệp, gọi là giới hạnh. Quán sát thấy khác mà phân biệt, gọi là giới tướng. Do pháp mà thành thể. Nhân thể mà khởi hạnh. Có hạnh tất y cứ vào tướng. Giới tướng tức là tướng của giới pháp, cũng là tướng của giới thể, và là tướng của giới hạnh. Pháp chẳng khác pháp, tức tướng là pháp. Thể chẳng khác thể, tức tổng tướng là thể. Hạnh chẳng khác hạnh, tức ngay nơi tướng mà thành hạnh.

Thế nên, người tu hành phải nghiên cứu tường tận giới tướng. Gọi là giới tướng, tức những tướng trì phạm mà trong luật đã nói rõ ràng. Những tướng trì phạm tuy nhiều, nhưng không ngoài tâm cảnh. Nghiệp ác do cảnh mà phát khởi, và không ngoài tâm mà thành. Giới thiện cũng không vượt ngoài cảnh mà phát, và không ngoài tâm mà sanh. Vì vậy, Ðạo Tuyên, Nam Sơn luật sư bảo:

- Trước khi chưa thọ giới, tội ác biến khắp pháp giới. Nay muốn thọ giới, liền vượt qua cảnh ác, khởi thiện tâm. Ðó là nhân phát khởi giới, khiến giới thể biến khắp pháp giới.

Thế nên, người đắc giới thể, tức vượt qua muôn duyên ác từ bao đời vô thủy, khiến đầy đủ giới thiện, chuyển hóa báo nghiệp khổ hữu lậu, trở thành pháp thân thanh tịnh. Quý vị phát tâm thọ giới, phải nên dụng tâm lành thiện.

7/ Những điểm giống nhau và khác nhau giữa giới luật đại thừa và tiểu thừa.

Giới vốn phân chia làm hai phần, giới đại thừa và tiểu thừa. Giới Bồ Tát gồm có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Ðây là giới đại thừa. Mười giới của sa di và sa di ny, cùng giới cụ túc của tỳ kheo và tỳ kheo ny, là giới tiểu thừa. Tuy là giới tiểu thừa, nhưng nếu người thọ giới phát tâm thượng phẩm thì đắc được giới thể thượng phẩm. Giới thể thượng phẩm này tương đồng với giới thể Bồ Tát, tức tam tụ tịnh giới của đại thừa. Nghiêm trì giới, cấm ngăn việc ác khởi lên, tức nhiếp luật nghi giới. Dùng trí huệ quán sát, tức nhiếp thiện pháp giới. Chẳng ngoài việc tương hộ giới, tức nhiếp chúng sanh giới. Vì thế, ngay nơi đây, giới tiểu thừa tương đồng với giới đại thừa. Thế nên bảo rằng trong tu mật hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn.

Song, giới Thanh Văn vốn chế phục thân không phạm. Giới Bồ Tát chế phục tâm không khởi phạm. Vì vậy, việc kết giới và phạm giới giữa tiểu thừa và đại thừa không đồng. Trong bộ luật Thập Tụng, kết giới phạm giới không ước định nơi tâm, chỉ khi thân miệng động thì mới thành phạm; đây chính là giới tiểu thừa. Trong bộ luật Tứ Phần, kết giới và phạm giới ước định tại tâm. Nếu dùng niệm sau liên tục truy đuổi niệm trước, tức trở thành phạm giới; đây là thông giới đại thừa. Giới Bồ Tát kết phạm tối trọng, ước định tại tâm. Vọng tâm khởi lên, tức đã phạm giới. Ðây chính là giới đại thừa. Tóm lại, chiếu theo giới luật Tứ Phần của đại thừa thì vừa khởi niệm là đã phạm. Chiếu theo luật Thập Tụng thì khi khởi động thân miệng, mới tính là phạm giới. Giới đại thừa và tiểu thừa, phân biệt rõ ràng như thế, phải nên nhận biết.

8/ Tam quy y, ngũ giới.

Không luận giới tiểu thừa hay đại thừa, tam quy y và ngũ giới là nền tảng căn bản. Ðối với người tại gia hay xuất gia, tam quy y và ngũ giới là hai việc quan trọng tối cục. (Người tại gia chỉ giữ giới không tà dâm. Người xuất gia giữ giới hoàn toàn không dâm dục.)

Tam quy y, tức là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng.

Thứ nhất là quy y Phật. Chữ Phật, tiếng Phạn gọi cho đủ là Phật Ðà; Tàu dịch là bậc Giác Giả. Gọi bậc Giác Giả vì Ngài đã giác ngộ hết tất cả sự việc, tức những việc quan hệ với nhân quả tương sanh tương diệt, mà không hạn cuộc vào các loại nhân quả sự tướng, cùng phát hiện sự trật tự tất nhiên của lý nhân quả. Thật thế, Ngài phát hiện những thứ tự của mười hai nhân duyên, như vô minh duyên hành, cho đến sanh duyên già bịnh chết. Từ đó, Ngài chứng ngộ được chân tướng sự và lý của vũ trụ. Vì thương xót chúng sanh chưa hiểu rõ chân tướng này, bị trầm luân trong biển khổ sanh tử, nên Ngài dùng vô số phương tiện, dạy dỗ giáo hóa. Người thuận theo lý này thì tất nhiên sẽ cải thiện cuộc sống, thu hồi tư tưởng hành vi quay về nẻo chánh, khiến xa rời mọi khổ não, đắc cứu cánh an lạc. Ðó gọi là bậc Giác Giả. Phật Ðà giác ngộ chân lý gì? Ðạo giác ngộ vô thượng, không thể dùng lời nói mà hình dung được, chỉ đơn cử nghĩa lý để thuyết minh.

Các pháp đều do duyên khởi; tánh của chúng đều là không. Các pháp tức là tất cả sự vật. Duyên, tức là bao gồm cả nhân thân thuộc và duyên hỗ trợ. Duyên khởi tức khi các pháp sanh khởi, đều do chúng duyên giả hợp tạo thành. Ví như lúa là hạt giống, rồi do ruộng đất, mưa gió, ánh sáng, vật liệu, nhân công, cùng các loại duyên khác hợp lại, khiến sanh ra thóc. Tánh, được gọi là thể, tức thể tánh của các pháp, mà mỗi mỗi đều vốn tự như thế, vĩnh hằng bất biến, không do các loại duyên hợp thành. Tánh không, vốn chỉ là lời nói, chớ ngộ lầm với việc không có chi hết. Bất cứ sự vật nào sanh khởi, phải do các duyên hòa hợp tạo nên. Chúng vốn không được gọi là thể tánh cố định vĩnh hằng bất biến. Thể tánh không cố định vĩnh hằng bất biến, nhà Phật gọi là tánh không. Do đó, tổ thứ mười bốn ở Ấn Ðộ, tức Bồ Tát Long Thọ, bảo:

- Nhân duyên sanh ra các pháp, tức vốn vô tự tánh. Pháp do nhân duyên sanh, Ta bảo chúng là không, cũng gọi là giả danh, cũng là nghĩa trung đạo. Chưa từng có một pháp, không từ nhân duyên sanh. Thế nên, tất cả pháp vốn là không.

Phật thuyết tánh không, chẳng phải bảo rằng tất cả sự vật đều không có, mà thể tánh của chúng vốn không vĩnh hằng bất biến. Vì vậy, Phật Ðà không phải là đấng chúa tể tạo ra muôn vật, mà Ngài là bậc triết nhân phát hiện ra chân lý sanh diệt tương tục của tất cả sụ vật. Tuy chẳng phải là thần, nhưng vì lòng từ bi bao la, thương xót chúng sanh khổ nạn, nên Ngài dùng thần thông vô ngã để cứu hộ. Ngài là bậc vĩ nhân mang phước lạc đến cho chúng sanh. Suốt đời, chưa từng nghỉ ngơi, Ngài luôn hóa đạo dẫn dắt kẻ ngu, phá trừ mê tín, khiến họ thoát khỏi bùn lầy ô nhiễm, quay về nơi thanh tịnh, tức xả si mê quy nơi bờ giác.

Thứ hai là quy y pháp. Pháp tức là lời lược thuyết của Phật, chỉ rõ chân tướng của sự vật cùng các hành vi chân chánh. Biểu hiện của hành vi cá nhân, quan hệ với đạo đức của nhân loại. Hành vi phân rõ tà chánh, thiện ác. Song, phê phán thiện ác, quan điểm và lập trường của mỗi người đều không đồng. Nếu muốn biết tiêu chuẩn xác thật, phải dùng đạo lý tự nhiên về sự tướng của nhân quả mà xem xét, và cũng phải y theo cách nhìn khách quan về sự phát triển hiện thực của quy luật tự nhiên, để phán đoán đúng sai.

Xưa kia, xã hội Ấn Ðộ phân thành bốn chủng tộc: Bà La Môn (tức Phạm Chí), Sát Ðế Lợi (tức vua chúa), Phệ Xá (tức thương nhân), Thủ Ðà La (tức người hạ liệt). Những giai cấp tánh tộc này phân biệt rất nghiêm ngặt. Ðại chúng bần khổ, bị áp bức thống thiết mà không dám kêu ca. Cuộc sống khổ cực còn hơn loài vật. Song, đại chúng bần khổ kia lại nhận lầm rằng đó là do mệnh trời sắp đặt, tức đã được chủ định, không thể cải biến. Sau khi thành đạo nơi núi Tuyết Sơn, Phật Thích Ca Mâu Ni tự ta thán ba lần:

- Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, và có khả năng hiểu rõ các pháp đều do duyên khởi, tánh vốn không. Tất cả chúng sanh, loài hữu tình và vô tình, đều có thể thành Phật.

Ngài kết luận rằng bốn chủng tộc trên đều xác thật bình đẳng, như các dòng sông đồng chảy về biển cả, mà không có tên con sông này, con sông nọ. Do đó, Ngài cực lực nhấn mạnh và chủ trương sự bình đẳng, đả phá phân chia giai cấp. Ðây là dùng chân tướng của sự lý mà làm lệ chứng tiêu chuẩn đạo đức.

Thứ ba là quy y tăng. Chữ Tăng, tiếng Phạn gọi là Tăng Già; Tàu dịch là Chúng Hòa Hợp. Nhiều người cùng nhau sống chung một chỗ, hòa thuận, chí đồng đạo hợp, cùng tu hạnh tự lợi lợi tha.

Năm giới tức là giới không giết hại, ăn cắp, tà dâm, nói láo, và uống rượu.

9/ Mười giới, cụ túc giới, tam tụ tịnh giới.

Bên trên đã lược thuyết tam quy y ngũ giới. Nay bàn về mười giới của sa di, sa di ny, giới cụ túc của tỳ kheo, tỳ kheo ny, cùng Bồ Tát tam tụ tịnh giới. Mười giới và giới cụ túc đều nhắm vào việc tự lợi, vốn cầu tự giải thoát cho chính mình, nên chỉ là hương thơm biểu thị. Giới Bồ Tát đa phần nhắm vào việc lợi người, tức tự rèn luyện thân tâm, để chuẩn bị xả thân cứu thế; tất nhiên là hương thơm cúng dường chư Phật. Người xuất gia, tức sa di và sa di ny, đều được dự vào giới phẩm; bên trong phải tu từ bi hòa nhã; bên ngoài phải đắp y khác người thế tục; cử chỉ hành động đều luôn theo oai nghi phép tắc; chuyên cần học tập luật nghi về giới sa di và sa di ni; cẩn trọng, chớ phóng dật.

Tỳ kheo phải thường hành hai trăm năm mươi giới. Tỳ kheo ny phải hành ba trăm bốn mươi tám giới. Phòng cấm ba độc, điều phục bảy chi, đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Ba độc tức là tham, sân, si. Bảy chi tức là bảy chi phần của thân miệng. Thân có ba chi, khiến phạm giới giết hại, ăn cắp, dâm dục. Miệng có bốn chi, khiến phạm giới nói láo, nói lời thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời ác độc. Nơi bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, đều đầy đủ hai trăm năm mươi giới, cộng thành một ngàn. Thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều đầy đủ, nên cộng thành ba ngàn oai nghi. Nơi bảy chi của thân miệng, đều đầy đủ ba ngàn oai nghi, cộng thành hai mươi mốt ngàn. Nơi tham sân si cùng các đẳng phần, (khi tham khởi lên thì sân và si cũng theo nó mà khởi, nên gọi là đẳng phần) tức là trong bốn loại phiền não, nếu đều thanh tịnh không hủy phạm, tức là tám mươi bốn ngàn tế hạnh. Tám mươi bốn ngàn cũng chỉ cho con số lớn.

Trong giới luật, có một điều rất quan trọng, nay muốn nói rõ cho quý vị nghe. Trong giới bổn có cấm tỳ kheo tự tay đào đất, dệt vải. Hiện tại, chúng ta đang làm ruộng, dệt vải, vậy có phạm giới không? Chúng ta phải biết, việc chế giới luật của Phật, có hai loại tánh giới và giá giới. Thiên đầu là tội ba la di, tức tánh giới, cũng là giới căn bản; nếu phạm thì không thể sám hối được. Những giới khác, đều là giá giới; nếu phạm thì có thể sám hối. Người nghiên cứu kinh tạng, luật tạng, phải nên hiểu rõ tường tận về sự khác biệt giữa các giới khinh, trọng, khai, giá.

Ðối với tánh giới, nếu làm thì vi phạm lý thể. Vô luận Phật có chế hay không chế, nếu làm thì phạm tội, như giết hại, ăn cắp, tà dâm, v.v... Giá giới, tức là lúc Phật chưa chế giới mà làm thì không có tội. Từ khi Phật chế giới ra, nếu làm thì thành tội, như giới đào đất dệt vải. Phật chế ra giá giới vì có nhiều nguyên nhân, như địa thế, sự việc, thời tiết. Ví như lập ra giới không được đào đất và dệt vải, là vì muốn tránh sự hiềm nghi của người đời. Xã hội Ấn Ðộ thời xưa, hành khất thức ăn y phục, vốn là việc của người xuất gia. Nếu tự mưu tính việc ăn mặc, thì bị người đời hiềm nghi. Vì vậy, Phật phải chế ra giới này. Song, xã hội và phong tục tập quán các nơi không đồng; phải thuận theo địa thế, sự việc thời tiết mà chế giới. Do đó, không thể giữ giới cứng chắc. Trong luật Ngũ Phần, Phật nói:

- Tuy Ta chế giới như thế, nếu tại các nơi khác, không thể hành thanh tịnh, thì không nên ứng dụng. Tuy Ta chẳng chế giới, nhưng tại các nơi khác, nếu nên hành ở các nơi khác, thì phải ứng hành.

Do đó, xưa kia tổ Bá Trượng thấy hoàn cảnh nước Tàu và Ấn Ðộ không đồng, nên cử ra giới: "Ngày nào không làm thì ngày đó không ăn". Nếu Phật giáng sanh nơi xứ này, thì quyết chắc sẽ không chế giới đào đất, dệt vải. Thế nên, chúng ta làm ruộng dệt vải, chẳng phải phạm giới luật. Hy vọng trong khi tu trì, quý vị chớ nên bỏ phế việc lao động. Trong lúc lao động, cũng không nên quên việc tu trì. Cả hai việc đều có thể làm cùng một lúc. Ðối với việc thọ trì giá giới, quý tại tuân thủ bổn ý chế giới của Như Lai, chớ nên tử thủ chấp chặt giới điều. Nếu hiểu được ý Phật, tuy tương phản điều văn, nhưng cũng gọi là trì giới. Nếu không hiểu được ý Phật, tuy tôn thủ giới điều, nhưng cũng thành phạm giới. Song, không thể vay mượn lời tôi, mà phá giới luật Phật chế. Muốn hiểu chi tiết, quý vị phải nghiên cứu và thâm nhập sâu vào tạng luật.

Giới Bồ Tát nhiếp hết ba tụ: Nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiếp chúng sanh giới.

Thứ nhất, nhiếp luật nghi giới, tức là xa rời tất cả việc ác. Trong tụ giới này, chỉ tức là trì, và tác tức là phạm; phải thuận theo luật giáo mà hộ trì nghiêm túc, cẩn trọng chớ phạm.

Thứ hai, nhiếp thiện pháp giới, tức là tích tụ tất cả việc lành. Thân miệng ý đều lành; ba huệ văn tư tu, mười ba la mật, tám muôn bốn ngàn pháp trợ đạo, đều tu hành đến cứu cánh cùng cực. Nơi tụ này, tác tức là trì, chỉ tức là phạm; phải thuận theo giáo pháp mà hành, chớ hối hận, thối tâm.

Thứ ba, nhiếp chúng sanh giới, cũng gọi là nhiêu ích hữu tình giới, tức độ tận hết tất cả chúng sanh; dùng bốn môn vô lượng làm tâm, và dùng bốn nhiếp pháp làm hạnh. Bốn môn tâm vô lượng tức là từ, bi, hỷ, xả. Từ là ban vui. Bi là cứu khổ. Hỷ là hoan hỷ vui mừng khi chúng sanh thoát rời mọi khổ não, và đắc pháp lạc sung túc. Xả là khiến chúng sanh hành hạnh Phật, đến nơi Phật địa, rồi khởi tâm xả bỏ.

Bốn nhiếp pháp, tức là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Thứ nhất bố thí, tức là nếu có chúng sanh thích muốn tiền tài thì bố thí tiền tài; nếu thích nghe pháp thì bố thí pháp; nếu sợ hãi thì sẽ an ủi che chở, khiến họ sanh tâm thân ái, y theo mình mà thọ giáo học đạo. Thứ hai ái ngữ, tức là tùy theo chúng sanh lợi căn và độn căn mà dùng lời lành thiện khuyên lơn an ủi, khiến họ sanh tâm thân thiết, y theo mình mà học đạo. Thứ ba lợi hành, tức là khởi hành động lành thiện từ thân miệng ý, làm lợi ích chúng sanh, khiến họ sanh tâm thân mến mà thọ đạo. Thứ tư đồng sự, tức là dùng pháp nhãn quán sát căn tánh của chúng sanh, tùy theo ý thích mà thị hiện; lại nữa, cùng làm việc, tạo ích lợi, khiến họ thọ đạo. Nơi tụ này, tác tức là trì, chỉ tức là phạm.

Ngoài ra, lúc Bồ Tát phát tâm, phải phát bốn hoằng thệ nguyện:

Thứ nhất, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, tức là phát tâm Bồ Tát, hành đạo Bồ Tát, y theo giáo pháp, đoạn trừ ngã ái, hy sinh thân mình cho người, lấy tâm chúng sanh làm tâm mình, lấy khổ chúng sanh làm khổ của mình, thường hành bố thí bình đẳng độ khắp chúng sanh. Bồ Tát Ðịa Tạng bảo:

- Chúng sanh độ tận hết thì Ta mới thành Bồ Ðề. Ðịa ngục chưa trống không, Ta thệ không thành Phật.

Thứ hai, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, lưu lạc trong sanh tử, đều do chưa đoạn được phiền não. Phiền não do cội gốc sáu độc phát ra chi nhánh, tầng tầng lớp lớp vô tận. Cội gốc sáu độc tức là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Từ đó, sanh ra giải đãi, làm biếng, phóng dật, đố kỵ, chướng ngại, hôn trầm, tán loạn, xiểm khúc, cuồng vọng, không biết xấu hổ, cùng vô số chi nhánh. Tuy phiền não rất nhiều, nhưng tổng quát không vượt ngoài hai sự chấp trước, tức là chấp ngã và chấp pháp. Chúng sanh vì chưa đạt được ý nghĩa đạo lý duyên khởi tánh không, nên vọng chấp thân tâm này là thật ngã, cùng phân biệt các pháp là pháp thật. Vì dùng chúng làm nhân, nên vọng lầm, khiến thọ quả khổ sanh tử. Thế nên, đức Thế Tôn thiết giáo phương tiện, tùy theo bịnh mà cho thuốc. Ngài thuyết ra vô lượng pháp môn, để trị vô tận phiền não của chúng sanh. Chúng ta phải y theo giáo mà phụng hành, thệ nguyện đoạn tận hết phiền não.

Thứ ba, pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Bồ Tát vì muốn lợi ích khắp muôn loài hữu tình, nên nơi vô lượng pháp thế gian, xuất thế gian, đều tùy thuận tu học. Vì vậy, Bồ Tát luôn cầu học pháp ngũ minh. Một là thanh minh, tức hiểu rõ ngôn từ văn tự. Hai là công xảo minh, tức hiểu rõ tất cả công nghệ, chi thuật, toán số v.v... Ba là dược phương minh, tức hiểu rõ y thuật. Bốn là nhân minh, tức học về luân lý, để định quyết chánh tà, hoạch kiểm pháp chân ngụy. Năm là nội minh, tức hiểu rõ tông chỉ của Phật. Vô luận pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, khoa học, triết học, Bồ Tát phải đều học. Lục Tổ bảo:

- Phật pháp tại thế gian, không rời sự giác ngộ trong thế gian. Nếu rời pháp thế gian mà cầu Bồ Ðề, thì như tìm lông rùa sừng thỏ.

Vì vậy, không phải chỉ nhắm mắt, ngồi xếp bằng, mà tính là tu hành. Gánh nước, chặt củi, cuốc đất, trồng rau, cho đến ăn cơm, mặc áo, đi đại tiểu tiện, đều là tu hành Phật pháp. Người xuất gia chớ nên đóng cửa làm xe, tử thủ một pháp.

Thứ tư, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Phật đạo, tiếng Phạn gọi là Bồ Ðề; Tàu dịch là giác. Giác tức là tự tánh linh giác. Giác tánh này nơi Thánh không tăng, nơi phàm không giảm, vốn tự viên thành, ai ai cũng có. Chư Phật thánh nhân, thị hiện thế gian, làm bậc đạo sư cho trời người, làm mô phạm cho đời hậu thế. Các ngài lại chỉ dạy chúng sanh rằng nếu rời vọng tưởng chấp trước, tức có khả năng thành Phật.

Lục Tổ bảo:

- Phải hướng vào trong tự tánh mà tìm Phật, chớ nên hướng ngoại truy cầu. Tự tánh ngu mê, tức là chúng sanh. Tự tánh giác ngộ, tức là Phật.

Chúng ta phải xả mê quay về giác, và thệ nguyện thành Phật đạo. Hoằng tức là thâm sâu và rộng rãi; nghĩa là thâm sâu đến tận cùng ba cõi, và rộng rãi biến khắp mười phương. Thệ tức là tự chế phục tâm mình. Nguyện tức là chí cầu đầy đủ. Bồ Tát phải phát những thệ nguyện như thế, chớ sợ, chớ thối tâm, chớ diêu động, mãi đến tận đời vị lai, luôn dũng mãnh chuyên cần tu tập.

Hư Vân tôi bất quá chỉ thuyết lại những lời của Phật, để nhắc nhở kẻ hậu lai. Ðức giáo chủ cõi Ta Bà, Phật Thích Ca Mâu Ni, là hòa thượng bổn sư của quý vị. Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù là hòa thượng Yết Ma A Xà Lê. Bồ Tát Di Lặc, nhất sanh bổ xứ, là hòa thượng giáo thọ A Xà Lê. Bảy vị Phật trong đời quá khứ và mười phương chư Phật, là những bậc tôn chứng. Mười Phương Bồ Tát là các bậc thầy dẫn lễ, cùng là pháp lữ đồng học của quý vị. Tuy tôi thọ thỉnh, nhưng chỉ là pháp sư giáo giới của quý vị, được gọi là hòa thượng Bỉnh Giới.

10/ Kết khuyến.

Lúc lên đàn thọ giới, quý vị mỗi người phải thành tâm khẩn thiết, lễ bái cầu thỉnh chư Phật, chư Bồ Tát từ bi gia hộ. Lại nữa, phải thỉnh mời chư thiên, long thần, tám bộ quỷ thần, đồng lâm đến đàn tràng hộ giới. Tôi sẽ vì quý vị mà tác pháp hồi hướng. Quý vị mỗi người tại nơi bổn xứ, phải thanh tịnh ba nghiệp, chăm chú nhất tâm; trong mười hai thời, y theo pháp mà lễ sám. Phải nên dũng mãnh tinh tấn, chớ tham ăn ngủ, khiến tự mất lợi ích. Song, không nên khổ nhọc quá mức, đến nỗi phải sanh bịnh. Khi tĩnh tọa, phải điều hòa thân thể: "Ngồi thẳng niệm nhớ thật tướng". Thật tướng tức là bổn tâm. Bổn tâm tức là Phật. Nếu vọng tưởng không sanh thì đắc tịnh giới. Nếu giới thanh tịnh thì đắc định. Ðịnh sanh tức phát huệ.

Phật thuyết đại tạng giáo, tức là giới, định, huệ. Nếu đắc được bổn tâm này, thì cành nhánh không bị hư hoại. Nếu luôn y theo đó mà hành trì, thì không uổng là giới tử của đàn tràng, lại cũng không phụ niềm hy vọng của tôi. Xin đại chúng, hãy cùng nhau phấn tấn. Những vị bên ngoài vào núi, ngày mai nên hoan hỷ trở về quê quán. Mỗi người phải tự hành trì.

XXIV. Thiền tông cùng Tịnh Ðộ tông.

(Vào năm 1955, cư sĩ Lương Hàn Chiêu vào núi, cung thỉnh Ngài giải thích nguyên nhân phát khởi sự tranh luận giữa Thiền Tông và Tịnh Ðộ tông. Dưới đây là lời giải thích về tông chỉ không hai khác của Thiền Tông và Tịnh Ðộ tông.)

Hỏi: Khi hỏi rằng tham thiền có bằng niệm Phật không, thì thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ đáp:

- Có thiền không Tịnh Ðộ, mười người tu, chín người lạc. Ðiển hình là Giới thiền sư, hậu thân làm Tô Ðông Pha, cho đến Nhạc Ðàng Tăng làm Thần Thị Tử Hội, v.v...

Ðáp: Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Văn Thù sau khi chọn lựa pháp môn viên thông, liền thuyết kệ:

- Xoay về nguồn tánh vốn không hai, nhung phương tiện lại có nhiều pháp môn. Thánh tánh không thể chẳng thông. Thuận nghịch chỉ là phương tiện.

Từ trong các pháp môn, Bồ Tát Văn Thù định ra nhĩ căn viên thông:

- Ðây là phương tiện chân thật của thể giáo ở phương này, vốn được thanh tịnh tại âm thanh. Nếu muốn đạt tam ma đề, phải dùng tánh nghe mà nhập vào.

Lại chỉ ra:

- Những phương tiện khác, đều do thần thông ứng hóa của Phật cảm nên. Hiểu sự liền bỏ trần lao, chẳng phải chỗ thường tu học.

Ðối với niệm Phật tam muội, ngài Văn Thù bảo:

- Chư hành vốn vô thường, tánh chất của vọng niệm nguyên là sanh diệt, nay cảm thọ nhân quả sai biệt, sao được viên thông!

Trong quyển Tứ Liệu Giản, thiền su Vĩnh Minh viết: "Có Thiền không Tịnh Ðộ, mười người tu, lạc hết chín. Ấm cảnh hiện tiền, chớp mắt liền tùy nghiệp chuyển sanh. Không Thiền có Tịnh Ðộ, muôn người tu, muôn người vãng sanh. Thấy Phật A Di Ðà, sao lo không khai ngộ! Có Thiền có Tịnh Ðộ, ví như hổ thêm sừng; đời này làm thầy người, đời vị lai làm Phật Tổ. Không Thiền không Tịnh Ðộ, giường đồng cùng trụ sắt, muôn kiếp và ngàn đời, chẳng có nơi nương tựa."

Gần đây, người tu Tịnh Ðộ đa số đều cố chấp vào quyển Tứ Liệu Giản này, mà thật ít có ai nghiên cứu Kệ Viên Thông, để đối chiếu, nên họ đều hiểu lầm ngộ giải, khiến chẳng những phụ bạc Bồ Tát Văn Thù lại còn làm lụy đến thiền sư Vĩnh Minh. Tựu chung, đối với những pháp môn quyền thật, họ không thể dung hội quán thông, nên thấy pháp Thiền và Tịnh, như lửa với nước, và băng với than. Bàn về việc này, Hư Vân tôi không thể lặng thinh. Kiểm lại, tổ Vĩnh Minh Diên Thọ sanh vào đời Tống, là con cháu của Dư Hàng Vương. Ngài là một trong ba vị tổ, có rất nhiều trước tác nhất ở Tàu. Trong cuốn Phật Tổ Thống Ký, quyển thứ hai mươi sáu viết: "Thời Ngô Việt Tiễn, Ngài làm quan thuế, nhưng thường dùng tiền của công khố, mua cua cá phóng sanh. Việc này bại lộ, nên bị bắt nhốt xử trảm. Ngô Việt Vương bảo quan quân:

- Nếu thấy sắc mặt của ông ta biến đổi thì hãy chém, bằng ngược lại hãy thả.

Khi sắp bị chém, sắc mặt Ngài vẫn bình thường, nên được tha mạng. Sau đó, Ngài theo thiền sư Tứ Minh Thúy Nham xuất gia. Ngài không đắp y phục tơ lụa, ăn không trọng mùi vị. Sau này, đến tham thiền với Thiệu quốc sư mà phát minh tâm địa... Kế đến, Ngài lên núi Trí Giả Nham, bốc thăm hai thẻ. Thẻ thứ nhất viết: "Suốt đời tu thiền định." Thẻ thứ hai viết: "Tụng kinh, hành muôn việc thiện, trang nghiêm Tịnh Ðộ."

Ngài lại thành tâm cầu khẩn, rồi bốc được thẻ "tụng kinh, hành muôn việc thiện, trang nghiêm Tịnh Ðộ", cho đến bảy lần.

Ngài là một vị thiền sư, đệ tử đời thứ ba của thiền sư Pháp Nhãn. Trước tác của Ngài có rất nhiều. Bài "Tâm Phú" và bài "Tâm Phú Lạc" giảng giải về việc minh tâm kiến tánh. Bài "Vạn Sự Ðồng Quy" giảng giải về sự viên dung vô ngại của các pháp. Một trăm quyển "Tông Cảnh Lục", hoằng dương xiển lý "dâng cành hoa ngộ tông chỉ", cùng dung hợp giáo lý các tông pháp, quy về nguồn tâm.

Ở Nhật Bản, có mười ba tông phái. Ở Tàu, có mười tông phái. Bộ Tông Cảnh Lục, lấy tâm làm tông, và lấy việc ngộ đạo làm pháp tắc. Lời lẽ tuy có sâu cạn, nhung muôn pháp đều cùng phát xuất từ một cội nguồn. Những điểm vi tế đều phát xuất từ tâm. Dẹp tà trợ chánh, khiến người sau không đi lầm lạc.

Suốt đời, Ngài giảng thuyết rất nhiều, nhưng chưa từng bảo tu Thiền là dở. Ngài ngộ đạo từ Thiền tông, sao lại đi hoằng dương Tịnh Ðộ? Ðối với người đại ngộ, pháp pháp đều dung thông; tham Thiền là tu đạo; niệm Phật cũng là tu đạo. Chúng ta lao động cuốc đất ở đây, cũng là tu đạo. Vì muốn cứu độ những người độn căn hạ liệt trong đời mạt pháp, nên cả đời Ngài hoằng dương pháp môn niệm Phật, và được người người tôn vinh là vị tổ thứ sáu của tông Tịnh Ðộ. Nơi chùa Tịnh Từ, tăng chúng kiến lập tháp kỷ niệm tôn thờ Ngài. Trong quyển Phật Tổ Thống Ký, viết: "Có vị tăng từ Lâm Xuyên đến, kể rằng lúc bị bịnh nặng, hồn nhập xuống cõi u minh, thấy vua Diêm La đảnh lễ trước tôn tượng của một vị thánh tăng. Hỏi ra thì biết là vua Diêm La đang đảnh lễ tôn tượng thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ ở Hàng Châu. Ngài đã được vãng sanh vào hàng thượng phẩm thượng sanh ở cõi Tây Phương."

Phật tử Tàu lấy ngày mười bảy tháng chạp làm ngày vía Phật A Di Ðà. Vậy họ y cứ theo kinh điển nào? Kinh A Di Ðà thuyết: "Qua mười muôn ức cõi Phật về phía tây, có Phật hiệu là A Di Ðà."

Vậy ai biết được mười bảy tháng chạp là ngày vía của Phật A Di Ðà? Ngày này, vốn là ngày sanh nhật của thiền sư Vĩnh Minh, vì Ngài chính là Phật A Di Ðà thừa nguyện hóa thân trở lại cõi Ta Bà.

Tứ Liệu Giản vừa viết ra, hai tông Thiền Tịnh liền khởi tranh luận. Người tu Tịnh Ðộ bảo:

- Có Thiền, không Tịnh Ðộ, mười người tu, chín người lạc.

Nếu chỉ tu theo Thiền tông thì không thể giải thoát khỏi sanh tử. Nếu chỉ tu theo tông Tịnh Ðộ thì "muôn người tu, muôn người được vãng sanh". Vừa tham Thiền vừa niệm Phật thì như "hổ mọc sừng". "Không Thiền không Tịnh Ðộ", là kẻ ác trong thế gian.

Người tu Tịnh Ðộ phê bình Thiền tông như thế. Ngày nay, họ vẫn còn náo nhộn không ngừng, tức thường bảo rằng tham Thiền là việc xấu. Họ lại dẫn chứng:

- Giới thiền sư, hậu thân làm Tô Ðông Pha. Thanh Tảo Ðường, hậu thân làm Tăng Lỗ Công. Tôn Trưởng Lão, hậu thân làm Lý Thị Lang. Nam Am Chủ, hậu thân làm Trần Trung Túc. Trí Tạng Mỗ, hậu thân làm Trương Văn Ðịnh. Nghiêm Thủ Tọa, hậu thân làm Vương Quy Linh. Thiền sư Tắc Thừa, hậu thân làm Hàn Thị Tử. Kính Tự Tăng, hậu thân làm Kỳ Phu Tử. Thiện Mân, hậu thân làm Ðổng Ty Hộ Nữ. Hải Ấn, hậu thân làm Chu Phòng. Nhạn Ðàng Tăng, hậu thân làm Tần Thị Tử Cối, do dựa quyền thế mà tạo các nghiệp ác. Những vị này, nếu xưa kia phát tâm cần cầu vãng sanh cõi Tịnh Ðộ, thì chắc sẽ không bị triển chuyển như vầy... Làm dân thường, làm người nữ, làm kẻ ác, hoặc chuyển thân làm quan thần, văn võ danh tiếng, nhiều không thể tính được. Ai ơi! Hãy nên vãng sanh qua cõi Tây Phương!

Theo tôi nhận thấy, hậu thân của người tu hành, bị "triển chuyển hạ liệt" do người chớ chẳng phải do pháp. Thời vua Ðường Hy Tông, có cô kỷ nữ tại Ðĩnh Châu, nơi miệng thường thoát ra mùi hương hoa sen. Một vị tăng nước Thục bảo:

- Cô này đời trước làm ni, thường tụng Pháp Hoa hơn hai mươi năm.

Tụng kinh Pháp Hoa mà triển chuyển làm thân kỷ nữ, không thể đổ lỗi cho kinh Pháp Hoa. Cũng vậy, hậu thân của các vị thiền sư làm thường dân, người nữ, kẻ ác, v.v... không thể đổ lỗi cho thiền tông được. Ba mươi hai ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, tùy theo sở nguyện của chúng sanh mà hóa độ, hiện thân thuyết pháp. Vậy có thể nào bảo rằng ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm cũng bị "triển chuyển hạ liệt" được không? Phật A Di Ðà hóa thân làm thiền sư Vĩnh Minh. Hậu thân thiền sư Vĩnh Minh làm tổ sư Thiện Kế. Hậu thân của tổ sư Thiện Kế làm cư sĩ Vô Tướng Tống Liêm. Tổ sư Thiện Kế tại chùa Bán Dong Thọ Thánh, ngoài thành Sương Môn, ở Tô Châu, viết nguyên bộ kinh Hoa Nghiêm bằng máu. Sự nghiệp hoằng pháp của Ngài chỉ bằng phân nửa sự nghiệp của thiền sư Vĩnh Minh. Lúc làm quan, Tống Liêm ít khi hành việc thiện, nên không thể sánh bằng tổ sư Thiện Kế. Như vậy, có thể bảo rằng Phật A Di Ðà cũng "triển chuyển hạ liệt" được không? Tần Thủ Tọa tu thiền, đốt một cây hương liền ngồi tịch mất, nên không được hứa khả nơi núi Cửu Phong. Ðề Y Ðạo Giả đến đi tự tại, nhưng núi Tào Sơn cũng không thừa nhận. Do những câu chuyện này, người tu hành tông Tịnh Ðộ thường phê phán tu theo Thiền tông là sai, mà chẳng chịu tìm hiểu kỹ càng. Núi Cửu Phong và núi Tào Sơn vốn là những nơi xuất sanh chư thiện tri thức chánh tri chánh kiến của Thiền tông. Phải nên chú tâm đến Thiền tông, chứ sao lại đánh giá thấp như thế! Hiện tại, có ai trong chúng ta, ngồi thiền mà thị tịch không? Chúng ta chưa sánh bằng Tần Thủ Tọa, Ðề Y Ðạo Giả, sao lại dám khinh mạt Thiền tông? Thật ra, tông môn có sâu cạn. Pháp môn hiển giáo và mật giáo cũng có đốn tiệm tà chánh. Pháp môn niệm Phật cũng lại như thế.

Bàn về sự khác biệt, có nhiều loại thiền định, như thiền ngoại đạo, thiền phàm phu, thiền tiểu thừa, thiền trung thừa, thiền đại thừa. Thiền tông ở Tàu là tổ sư thiền, hay thiền tối thượng, tức không đồng với các loại thiền khác. Song, người tu thiền trong đời mạt pháp, thật sự có tu lầm lạc, nên không lạ gì bị thiền sư Vĩnh Minh chê trách trong quyển Tứ Liệu Giản.

Vì quyển Tứ Liệu Giản này được lưu truyền trong thiên hạ rất lâu, nên khi xem qua, tôi không dám phê bình là sai lầm. Mắng trách "có Thiền, không Tịnh Ðộ, mười người tu, chín người lạc", có phải là Ngài phân Thiền Tịnh làm hai không? Người niệm Phật, nếu tâm tịnh thì cõi Phật thanh tịnh, tức thấy tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ. Thiền tông cùng Tịnh Ðộ tông vốn không hai. Song, người đời nay chỉ giới hạn, bảo rằng niệm Phật là tu Tịnh Ðộ, còn tham thiền là tu thiền.

Xưa kia, đức Phật vượt thành xuất gia, vào núi Ðan Ðặc tu đạo. Ðầu tiên, Ngài tu theo ông A Lam Ca Lam ba năm, học thiền định bất dụng xứ, nhưng nhận biết đó chẳng phải là pháp cứu cánh. Kế tiếp, Ngài đến tu với ông Uất Ðầu Lam Phất ba năm, học thiền định phi phi tưởng xứ, và cũng biết định này chẳng phải là tối thượng. Ngài lại đến núi Hương Tượng, cùng tu với ngoại đạo; ngày ăn một hạt mè, trải qua sáu năm... Kế đến, Ngài tới dưới cội cây Bồ Ðề ngồi thiền trong suốt bốn mươi chín ngày đêm. Rạng ngày mồng tám tháng chạp, khi sao mai vừa chớp sáng, Ngài liền đại ngộ, thành đẳng chánh giác, rồi ta thán:

- Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí huệ Như Lai. Vì vọng tưởng chấp trước, nên không thể chứng đắc.

Khi ấy, Thiền với Tịnh Ðộ xuất phát từ chỗ nào? Thuyết pháp trong bốn mươi chín năm trường, Ngài vẫn chưa cho đó là cứu cánh. Khi đưa cành hoa lên, mỉm cuời phó chúc cho tôn giả Ca Diếp, Ngài cũng chưa từng nói một chữ "Thiền". Thiền vốn là pháp môn tối thượng. Ví như sữa bò, ngày ngày bị pha trộn với nước, khiến dần dần mất chất tinh khiết. Người học Phật cũng như người thêm nước vào sữa. Thiền sư Vĩnh Minh thấy sữa Thiền đã bị nước thế tục hòa tan, nên bảo "có Thiền không Tịnh Ðộ, mười người tu, chín người lạc", chứ không phải nói rằng sữa Thiền sai lạc. Thiền sư Vĩnh Minh lên đảnh núi Trí Giả, bốc thăm giữa Thiền và Tịnh, rồi cầu được quẻ tu Tịnh Ðộ bảy lần. Nếu Thiền không hay, Ngài quyết không bốc thăm như thế. Nếu ưa chuộng pháp môn Tịnh Ðộ, thì Ngài đâu cần bốc thăm đến bảy lần, mới quyết chắc. Chứng minh rằng Ngài vốn ngưỡng mộ Thiền tông. Vã lại, Ngài xuất thân từ Thiền tông và là bậc pháp nhãn trong tông môn, có lý nào đi nói xấu Thiền tông?

Pháp tham thiền, phải nên quán chiếu xem bổn lai diện mục của mình trước khi cha mẹ sanh ra như thế nào. Mục đích chỉ cầu minh tâm kiến tánh. Người sau tu thiền sai khác với phương pháp này. Vừa đắc được vài cảnh giới thanh tịnh, hay thân thể được nhẹ nhàng, thì tự bảo rằng mình đã có công phu. Thật ra, đã bị dính nơi ấm cảnh. Họ nào biết rằng một niệm do duyên khởi, tức vốn vô sanh; nơi cột trụ trăm thước, phải nên tiến thêm một bước. Vì thế, ngài Vĩnh Minh bảo:

- Ấm cảnh hiện tiền, liền tùy nghiệp vãng sanh.

Ngược lại, niệm Phật vốn có nơi nương tựa. Song, Ngài không bảo rằng chẳng cần niệm Phật mà vẫn có thể "muôn người niệm, muôn người được vãng sanh", mà là phải chân thật tu hành pháp môn Tịnh Ðộ thì mới có thể thấy Phật A Di Ðà. Nếu dùng câu "lúc thấy Phật A Di Ðà, sao lo không khai ngộ", làm chỗ nương tựa, thì đây cũng là vọng tưởng sai lầm.

Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A Nan bạch Phật:

- Từ lúc theo Phật phát tâm xuất gia, con thường tự suy nghĩ rằng không cần tu hành mệt nhọc, chỉ nương oai thần của Phật, nhờ Như Lai ban ân huệ, sẽ cho thiền định tam muội. Nào biết rằng thân tâm vốn không thể tu thế được, nên khiến quên mất bản tâm của mình.

Phật Thích Ca không thể dùng oai thần lực mà ban ân huệ thiền định tam muội cho ngài A Nan được. Như vậy, Phật A Di Ðà làm sao ban ân huệ thiền định tam muội cho mình được?

So sánh với vọng tưởng, ba độc, năm dục, thì chắc chắn niệm Phật là hay hơn. Như lúc mộng, nếu mơ thấy điềm lành, thì khi tỉnh dậy, tinh thần sảng khoái. Nếu mơ thấy ác mộng, thì khi tỉnh dậy, tâm tư bồn chồn sợ hãi mờ mịt. Thế nên, đui mù khởi vọng tưởng, không bằng nhất tâm niệm Phật. Nếu đạt đến pháp pháp đều dung thông, tức tu hành pháp cao tột "có Thiền có Tịnh Ðộ", thì như hổ vốn có oai thế, mà nay lại thêm sừng, càng gia tăng oai mãnh, khiến làm Phật Tổ dễ dàng. Lý này là lẽ đương nhiên.

Ðối với người không có căn lành, tức không tin Thiền cũng không tin Tịnh Ðộ, chỉ hàm đồ mê mờ, thì "muôn kiếp cùng ngàn đời, chẳng có nơi nương tựa".

Suốt đời, tôi luôn khuyên người người nên niệm Phật. Song, tôi thật bất mãn những vị thường khuyên người chớ nên tu thiền. Mỗi lần nhớ lại kinh Lăng Nghiêm nói "tà sư thuyết pháp, như số cát sông Hằng", khiến tâm tư đau nhức. Nay tôi đem quyển Tứ Liệu Giản ra để lược bày. Hy vọng tất cả người tu hành, chớ nên thiên chấp vào văn cú của quyển Tứ Liệu Giản này, khiến vọng sanh phân biệt cao thấp giữa Thiền và Tịnh, thì mới không phụ lòng thiền sư Vĩnh Minh.

XXV. Phương tiện khai thị thuyết pháp vào ngày mười chín tháng mười, năm 1958.

Cổ nhân bảo:

- Chớ đến những nơi chợ búa lợi danh. Ngủ trong núi cũng là vi diệu.

Người trên thế gian luôn bị danh lợi ràng buộc, triền phược tầng tầng lớp lớp. Bỏ được một tầng thì vẫn còn tầng khác. Tập khí xấu xa, giam cầm thân tâm, không thể nào xoay chuyển được. Người có giác chiếu thì không chạy theo lợi danh. Kẻ không giác chiếu, luôn chạy đuổi theo chúng. Vì vậy, con người có biết bao khó khăn hoạn nạn. Chư cổ đức thường nhắc nhở những vị tu hành:

- Tỳ kheo thường trụ nơi núi rừng thì Phật hoan hỷ. Ngược lại, tỳ kheo thường trú tại nơi ồn ào náo nhiệt thì Phật rất ưu sầu.

Thật vậy, chư tỳ kheo phải thường trú nơi A Lan Nhã. Sớ kinh Ðại Nhật viết: "A Lan Nhã được gọi là nơi 'Ý Lạc', tức là nơi an lạc của hành giả không tịch. Bên ngoài chùa cất những am tranh theo hạn lượng, để ở một mình hay cùng vài ba người mà trú. Những am tranh đó, có thể do các thí chủ xây cất. Hành giả lại có thể ngồi bên dưới các gốc cây cổ thụ, tại những khoảnh đất trống."

Chư tỳ kheo thường trú nơi A Lan Nhã, chớ nên trú ở bên ngoài tự viện. Ðó là hạnh bậc nhất trong mười hai hạnh Ðầu Ðà. Thành ấp chợ búa vốn là nơi trao đổi lừa ngựa, và là chốn của hai chữ danh lợi, khiến con người thường bị trần lao triền phược trói buộc; suốt ngày chỉ bận rộn trong thị phi khổ não.

Vì vậy, chư Tổ Sư xưa nay, phần lớn là cư trú nơi núi rừng. Thích Ca Thế Tôn xuất gia tu đạo, nơi Tuyết Sơn tu khổ hạnh trong sáu năm trường. Tại nhà hay tại thành thị chẳng phải là nơi tu hành sao, hà tất phải đến núi tuyết tu hành? Tháng chạp tuyết rơi, băng giá lạnh lẽo, vốn là lúc vạn vật thu mình. Núi sông đất đai đều biến thành thế giới kim ngân lưu ly, khiến muôn vạn màu sắc đều tan mất. Ðó vốn là cảnh giới của các bậc đạo nhân. Thật vậy, nơi Tuyết Sơn băng giá lạnh lẽo, khiến muôn niệm đều tan, nên không bị cảnh chuyển. Không trụ tại thế gian, nên gọi là xuất gia. Không khởi vọng tưởng, tức gọi là xuống tóc tu đạo. Thuở xưa, chư Phật đều đến núi tuyết để ẩn cư tu hành. Phàm phu chúng ta sao lại dám sống qua ngày tại thành ấp chợ búa nhộn nhịp. Chư cổ đức một khi đã trụ tại thâm sơn, thì không còn nhiễm duyên trần. Dẫu có ông hoàng đế nào đến thỉnh mời, các ngài cũng chẳng màng xuống núi.

Xưa kia, thiền sư Vô Nghiệp tại Phần Châu thường bảo rằng chỗ đắc chí bậc nhất của chư cổ đức là nơi am tranh thạch đá. Ngài thường dùng nồi đá nấu cơm rau đạm bạc. Trải qua ba mươi năm, Ngài chẳng đoái hoài đến danh lợi; niệm niệm chẳng còn nghĩ về tiền tài vật báu; quên hẳn người đời, thường ẩn tích nơi rừng sâu núi thẩm. Quân vương dầu có xuống chiếu thỉnh mời vào kinh đô, mà Ngài vẫn dửng dưng, không màng đi. Chư hầu thỉnh mời mà chẳng màng đến. Nào như chúng ta, mãi tham danh ái lợi, mờ mịt trên đường đời, như những thương buôn! Ngài nói được và làm được những điều này. Vua Ðường Huệ Tông xuống chiếu triệu Ngài vào kinh đô, mà Ngài chối từ, lấy cớ là già bịnh. Khi Ðường Mục Tông lên ngôi, vì ngưỡng mộ đạo cao đức trọng của Ngài, nên sai hai vị tăng lục là Linh Phụ và Ðẳng Tê đến núi cung ngưỡng thỉnh mời vào kinh. Hai vị tăng lục đến, thưa:

- Hoàng Thượng lần này ân cần cung thỉnh hòa thượng vào kinh, chẳng khác bình thời. Xin Ngài hãy thuận theo thiên ý, chớ từ chối vì lý do bịnh hoạn.

Nghe thế, Ngài chúm chím cười, bảo:

- Bần đạo có đức độ gì mà phải lụy phiền đến thánh chúa. Xin mời quý vị hãy đi trước. Bần đạo sẽ theo sau.

Nói xong, Ngài đi tắm rửa cạo đầu. Ðến tối, Ngài gọi các đệ tử như Huệ Âm, v.v..., bảo:

- Tánh thấy nghe giác tri của các ngươi, thọ lượng đồng thái dương hư không, vốn không sanh không diệt. Tất cả cảnh giới, đều vốn tự không tịch. Không có pháp nào để chứng đắc. Kẻ ngu không liễu đạt, do cảnh làm mê hoặc. Một khi bị cảnh mê hoặc, thì lưu chuyển không cùng tận. Các ngươi nên biết, tâm tánh vốn tự có, chớ chẳng do tạo tác, ví như kim cương, không thể bị phá hoại. Tất cả các pháp, như bóng như âm hưởng, không có chi là thật cả. Kinh nói:" Chỉ có một sự thật. Còn hai tức chẳng phải chân. Thường hiểu tất cả đều là không, thì chẳng lụy tình đến vật chi." Ðây là nơi dụng tâm của chư Phật. Các ngươi phải tinh cần hành theo.

Nói xong, Ngài ngồi xếp bằng mà thị tịch. Ngày làm lễ trà tỳ, mây ngũ sắc hóa hiện, mùi hương lạ vi diệu bay khắp bốn phương. Xá lợi của Ngài, sáng chói như châu ngọc. Vì không thích đến những nơi chợ búa lợi danh, mà tâm hoàn toàn tại đạo, nên Ngài đến đi tự do tự tại, chẳng hề bị sanh tử xoay chuyển. Người đời thì khác biệt.

Ðời tôi rất khổ đau, nhiều nạn nhiều chướng, nhiều quỷ nhiều bịnh. Bao năm lừa lẫn ăn uống nơi cửa không. Vào nam ra bắc, nên nay tâm rất hổ thẹn. Khi vừa sanh ra, mẹ tôi liền tạ thế. Tôi bất hiếu như thế; e sợ thiên lôi đánh chết, nên phát tâm vì mẹ mình mà tạo công đức, bằng cách lễ bái xá lợi Phật, triều bái núi Ngũ Ðài để cầu ngài Văn Thù Sư Lợi gia hộ cho mẹ hiền. Tuy những việc đó chỉ là hướng ngoại truy cầu, nhưng cũng có đôi phần tốt. Lần thứ hai trở lại triều bái núi Ngũ Ðài, tôi gặp quân Nghĩa Hòa Ðoàn khởi nghĩa, vào năm 1900.

Lúc đó, tôi muốn đến Xiểm Tây, nhưng không được. Vừa trở lại Bắc Kinh thì gặp nạn liên quân tám nước vây đánh kinh thành, khiến Hoàng Ðế, Hoàng Thái Hậu, cùng hoàng gia trong triều nội phải chạy lánh nạn. Mỗi ngày họ phải chạy bộ cả chục dặm, mà không có kiệu cán. Lúc đến huyện Phụ Bình, liền gặp tướng ở Cam Phiên là Sầm Xuân Huyên, dẫn ba ngàn quân đến hộ giá. Khi đó, tôi theo đoàn hộ giá đến ải Ngọc Môn, rồi qua Nhạn Môn. Nếu là thời bình, thì Hoàng Ðế oai nghiêm lẫm liệt. Mỗi lần Hoàng Ðế ra khỏi hoàng cung, thì pháo nổ báo hiệu chín lần. Ði trên đường, đều có quân hầu cận. Ðường ra vào, không ai dám đi. Người người đều cung kính, mà không dám nhìn mặt vua. Lúc chạy tị nạn, Hoàng Ðế lăng xăng vội vã, không còn ra vẻ oai nghi lẫm liệt, lại không có kiệu để ngồi; ăn khổ cực cũng được; ai gặp mặt cũng được; thường dân nói chuyện vãn cũng được. Chẳng có gì là tôn quý. Tất cả mọi việc đều xả bỏ được. Sầm Xuân Huyên vốn là quan tuần phủ của tỉnh Xiểm Tây. Khi đó, tại Bắc Kinh, Lý Hồng Chương nghị hòa với liên quân tám nước. Tại cửa Tây Hoa Môn, lập đài kỷ niệm đại sứ người Ðức (bị phục kích chết). Liên quân lại yêu cầu phải để tám cái đầu người Tàu tại mộ phần của ông đại sứ người Ðức. Sắp xếp mọi việc xong, Lý Hồng Chương liền thỉnh Hoàng Ðế trở về Bắc Kinh.

Lúc ấy, tôi đang ở tại Xiểm Tây, trú nơi chùa Ngọa Long. Từ sáng đến tối, qua lại với quan lại tể tướng, phiêu bạc trong danh lợi, phiền phiền não não. Công phu có khi được thọ dụng, nhưng cũng có lúc đi đứng nằm ngồi lại bất an. Thường lo sợ vì nếu lỡ nói sai lời thì đầu lìa xác. Quý vị thấy không! Nơi danh lợi, có chi là tốt đẹp! Vì sợ lụy phiền não, nên phải vào núi Chung Nam, tu hành ẩn danh. Song, ẩn không được, lại phải vào núi Thái Bạch. Núi cao một trăm tám mươi dặm. Trèo lên núi đó, vẫn gặp người khác, nên tôi không thể trụ được, rồi lại chạy đến Vân Nam, muốn làm người vô sự. Chẳng bao lâu, thị phi phiền não lại đến. Thiên hạ chiếm đoạt tài sản tự viện, nên đại chúng thúc tôi lên Bắc Kinh bày tỏ sự tình. Lại thỉnh Kinh Tạng, khiến thêm nhiều thị phi. Nhân vì nhớ tình hộ giá lánh nạn lúc xưa, Hoàng Ðế lại ban phát tặng phẩm, khiến tôi phải lọt vào hố danh lợi nữa. Vì có liên hệ mật thiết với triều Mãn Thanh, nên lúc chánh phủ Dân Quốc vừa thành lập, tôi trở thành kẻ cừu địch. Tướng Lý Căn Nguyên phái quân vào núi tìm tôi. Trên núi, tổ sư Ca Diếp hiển hiện điềm linh ứng, nên thoát được đại nạn. Sau này, tại Thượng Hải tôi thành lập Tổng Hội Phật Giáo, thiết lập pháp hội Cầu Thế Giới Hòa Bình, Tiêu Tai Miễn Nạn, rồi lại vào kinh đô để gặp Tôn Trung Sơn, Vương Thế Khải. Kế đến, tôi thiết lập phân hội Phật giáo tại vùng Quý Châu, Vân Nam, Tây Tạng. Ðiên ba đảo bốn, chánh phủ cũ tan rã, chánh quyền mới lên chấp chính. Họ lại nghi tôi là đảng viên của chánh phủ cũ, vì lúc xưa thường qua lại với đảng Quốc Dân tại Trùng Khánh và chủ tịch Lâm Sâm. Sau ba mươi năm, hiệp ước bất bình đẳng ký kết với liên quân tám nước được hủy bỏ. Quân Nhật vừa đầu hàng, Trung Hoa chiến thắng. Lý Nhậm Triều làm tướng đóng doanh trại tại Quế Lâm. Tôi lại vào nơi danh lợi, rối rắm mù mịt, nên dẫn đến hoạn nạn tại Vân Môn. Tại Hồ Bắc tôi lại phải xuất đầu, rồi ra bắc vào kinh đô dâng kiến nghị. Vừa rời Bắc Kinh, chánh phủ lại bảo tôi phải trở lại kinh đô. Ngồi trên lưng cọp, chẳng biết nước cờ chết. Hiện tại, họ lại bảo tôi vào kinh nữa. Bộ nội vụ phái người đến mời, mà tôi không đi. Vì họ yêu cầu, nên nhờ hai vị là Từ Tạng và Tánh Phước, đại biểu tôi để ra bắc. Song, hai vị này lại chẳng chịu đi; hôm qua họ gởi thơ đến khước từ. Tâm tôi chán chường. Nhớ lại, người xưa thường nhắc nhở là chớ chạy vào chốn danh lợi; dẫu ngủ trong núi cũng là điều vi diệu lắm rồi. Song, dầu có hối hận nhưng đầu đã lộ, thì thật vô ích. Người người ai cũng muốn kết giao qua lại với những nhà quyền quý, nhưng họ nào biết phước họa thường đi đôi, như hình với bóng. Xin khuyên quý vị trẻ tuổi, phải nên sớm nỗ lực dụng công, đạo tâm kiên cố, chớ nhiễm thế pháp, cùng nơi trường danh lợi.

Làm người trên thế gian thật không phải chuyện dễ. Xưa kia, thiền sư Khuê Phong Tông Mật, vốn là đệ tử đời thứ tư của ngài Thần Hội. Ngài có duyên lành với tông Hoa Nghiêm. Vừa xem qua sớ sao của quốc sư Thanh Lương liền tôn sùng trì phụng. Sau này, Ngài làm môn đệ của quốc sư Thanh Lương, rồi trở thành tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm. Khi ấy, quốc gia tôn sùng Phật pháp. Vì ngài Thanh Lương làm quốc sư, nên ngài Khuê Phong cũng được trọng vọng. Do đó, ngài Khuê Phong thường qua lại với các nhân sĩ đại phu. Ðương thời, Lý Phác Mạc tạo phản với triều đình, nhưng thất bại, nên chạy đến chùa của ngài Khuê Phong lánh nạn. Vì nghĩ tình thân hữu xưa kia, nên ngài Khuê Phong muốn cho ông ta lưu lại để lánh nạn, nhưng đại chúng trong chùa lại không chuẩn y. Vì vậy, ông Lý Phác Mạc phải rời chùa, nhưng khi đến Phượng Tường lại bị bắt chém. Về sau, Khuê Phong cũng bị bắt vì án quan bảo rằng Ngài qua lại với nghịch thần. Nơi phán đường, ngài Khuê Phong chẳng run sợ, bảo:

- Ðối với oán thân, nhà Phật đều xem bình đẳng. Hể thấy người bị nạn thì phải ra tay cứu giúp. Hôm nay, tôi thật có tội. Vậy hãy y theo pháp luật mà trừng phạt.

Ðại trượng phu luôn có tinh thần vô úy. Có việc gì thì nói rõ việc đó. Khi phạm tội, không chạy trốn hình phạt. Vua quan thấy việc khó xử, nên tha cho Ngài. Sau này, chư Phật tử có thành kiến, nên không thích Ngài. Song, cũng có người bảo rằng việc làm và sự đến đi của Ngài phân minh rõ ràng. Chúng ta không có công phu, chí hướng, và lòng can đảm như Ngài. Ðời tôi đã từng trải qua bao hiểm nạn gian nguy. Quân lính liên quân tám nước đã từng chĩa súng vào đầu tôi. Khi Lý Căn Nguyên dẫn binh lính vào núi tìm tôi, bảy tám trăm người xuất gia đều bỏ chạy trốn, chỉ còn lại một mình. Tướng quân thổ phỉ là Dương Thiên Phúc và Ngô Học Hiển gặp tôi liền tra khảo đánh đập. Sau này, Ðường Kế Phiêu cùng Long Vân khởi chiến sự. Tăng chúng chùa Vân Thê bị bắt bớ, nên trách tôi không phân biệt cừu địch hay bạn hữu. Người Dân Quốc trách tôi thường qua lại với Hoàng Ðế, quan lại đại thần của triều Mãn Thanh. Làm sao tôi phân rõ ai là bạn, ai là giặc? Họ có phân chia cách nào cũng đúng. Cuối cùng, họ lại tha tội cho tôi. Lần này, tôi không muốn vào kinh đô, nhưng các đệ tử ở khắp nơi gởi thư đến trách rằng tôi không biết thời cuộc, và không đoái hoài gì đến Phật pháp. Nghĩ đến những việc lộn xộn những khi vào kinh đô thuở xưa, nên tôi không muốn đi. Song, dầu không muốn vào kinh cũng chẳng được. Hiện tại mọi việc đã được an bày. Chiếc đại y vẫn được bảo tồn. Quy củ giới luật tại các tùng lâm vẫn còn gìn giữ. Tôi không muốn đi ra bắc nữa, vì tuổi già sức yếu lại thường bịnh hoạn, thân thể đang rã rời. Xin quý vị hãy cẩn trọng!

(Phụ chú: Xin xem lại tiểu sử và cuộc đời tu hành của ngài Hư Vân trong quyển 'Ðường Mây Trên Ðất Hoa')

XXVI. Biểu tướng của Tăng Ðồ trong đời mạt pháp.

Người thế tục có câu:

- Tú tài là tội nhân của Khổng Tử. Tăng sĩ là tội nhân của Phật đà.

Lời của người xưa thật rất thâm thúy. Làm mất sáu nước là do người của sáu nước, chứ chẳng phải do người nước Tần. Làm nước Tần tan rã là do thân tộc nhà Tần, chứ chẳng do thiên hạ. Diệt Phật pháp là do tăng sĩ. Hôm nay, để bày tỏ nỗi lòng uẩn khúc, tôi tự hỏi tự đáp những lời như sau.

Hỏi: Hiện tại có thể sửa đổi năm tháng Phật lịch, tức không dùng mồng tám tháng tư là ngày làm lễ Phật đản sinh được không?

Ðáp: Vận pháp của Phật Thích Ca, có ba thời kỳ là chánh pháp, tượng pháp, và mạt pháp. Ðời chánh pháp có một ngàn năm, và đời tượng pháp cũng có một ngàn năm. Mạt pháp có mười ngàn năm. Ðời chánh pháp và tượng pháp đã qua. Hiện nay là đời mạt pháp và đã qua chín trăm năm tám mươi hai năm. Thật ra, không có mạt, vì pháp làm sao mạt được? Nếu thường được nhiều người ủng hộ, thì Phật pháp trường tồn muôn năm. Sự tướng có phân biệt là chánh pháp tượng pháp và mạt pháp. Song, nếu con người chân chánh thì thời mạt pháp cũng là chánh pháp. Nếu tự sanh thối thất, thì tuy là đời chánh pháp, nhưng đã trở thành mạt pháp.

Kinh Mạt Pháp thuyết rất nhiều biểu tướng suy vi, mà hiện nay đã xuất hiện: Tăng cưới vợ; ni lấy chồng; sắc y ca sa biến thành màu trắng. Người bạch y (cư sĩ) ngồi trên tòa, còn tỳ kheo ngồi dưới tòa. Lúc con người thọ mạng khoảng ba mươi tuổi, thì pháp đại thừa sẽ bị diệt mất. Lúc con người thọ mạng chỉ còn hai mươi tuổi, pháp tiểu thừa cũng bị diệt luôn. Lúc thọ mạng của con người là mười tuổi, thì chỉ còn sáu chữ "Nam Mô A Di Ðà Phật". Trong đời mạt pháp, tất cả pháp của Phật thuyết ra, đều bị hoại diệt, mà đầu tiên là kinh Lăng Nghiêm, rồi đến kinh Ban Chu Tam Muội. Ví như ông Âu Dương Cảnh Vô, dùng kiến giải của mình, viết trăm lời ngụy thuyết, để phản đối bộ kinh Lăng Nghiêm. Tại Hồng Kông, có ông pháp sư nọ, bảo rằng kinh Hoa Nghiêm, Viên Giác, Pháp Hoa, Ðại Thừa Khởi Tín Luận, v.v... đều là ngụy giả. Ðây là biểu tướng của đời mạt pháp.

Ðời quá khứ, Phật Ca Diếp vừa nhập diệt, chư thiên liền thu góp ba tạng thánh giáo của Ngài, mà kết thành tam tạng kinh điển, rồi lập tháp cúng dường. Trong đời Ðường, chư thiên xuống mách bảo luật sư Ðạo Tuyên là thánh giáo tam tạng cùng kinh tượng của Phật Ca Diếp vẫn còn lưu giữ tại kho tàng thánh tích ở núi Chung Nam, tức Nam Cao Tứ Ðài. Hiện tại, có mười ba vị bồ tát hàng Viên Giác, đang thủ hộ trong đó. Ngày nay, vào mỗi tháng chạp, dân chúng địa phương thường nghe tiếng chuông khánh vang dội trên hư không.

Lúc trước, liên hội Phật Giáo Trung Quốc vừa được thành lập. Trong những lần luận nghị, có người bảo Phật pháp đã diệt tận. Thật ra, đó là người Phật tử tự diệt. Chánh phủ không màng Phật tử đã diệt hay không, chỉ phái người đến làm chủ tọa các buổi thảo luận. Trong những buổi thảo luận, có các Phật tử phân vân rối rít bàn tán rằng trong kinh giáo, có các bộ kinh hại chết rất nhiều thanh niên nam nữ như kinh Phạm Võng, Tứ Phần Luật, Bá Trượng Thanh Quy, nên phải hủy diệt thủ tiêu. Họ lại bảo rằng ba y ca sa, vốn là áo quần của dân chúng đời Hán, chứ chẳng phải là tăng y. Hiện tại, tăng sĩ nên cải cách, chẳng cần đắp ba bộ ca sa. Nếu vẫn còn đắp mặc, tức là bảo thủ phong kiến, chống đối lại chế độ mới. Họ lại bảo rằng vì tín giáo tự do, nên tăng ni có quyền tự do lập gia đình, ăn thịt uống rượu. Vừa nghe qua những lời ngược ngạo, tà tri tà kiến, tôi phản đối dữ dội, chẳng nệ hà họ là người gì. Họ lại không thừa nhận ngày Phật đản sinh là mồng tám tháng tư. Tôi liền căn cứ theo bổn pháp nội truyền, cùng những lời đối đáp giữa pháp sư Ma Thắng và vua Minh Ðế để cải chánh như sau:

- Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sanh vào mồng tám tháng tư, thuộc năm giáp dần, tức nhằm đời Chu Chiêu Vương thứ hai mươi bốn tại Trung Thổ.

Theo sách vở đời Ngụy, sa môn Ðàm Mô Tối bảo:

- Phật giáng sanh vào mồng tám tháng tư năm thứ hai mươi bốn của triều vua Chu Chiêu Vương, và nhập diệt vào ngày mười lăm tháng hai năm thứ năm mươi hai của triều vua Mục Vương. Năm tháng Phật đản sanh và nhập niết bàn, hầu hết các triều đại quân chủ đều tuân phụng như nhau mà không sửa đổi.

Ðời vua Chu Chiêu Vương, năm Giáp Dần, cách ngày nay (1952) khoảng hai ngàn chín trăm tám mươi hai năm. Hiện tại, họ muốn sửa thành hai ngàn năm trăm lẻ hai năm. Ông Khổng Tử vốn sanh sau Phật, nhưng họ lại muốn sắp đặt ngày sanh của Khổng Tử trước Phật. Trong buổi hội nghị đó, tôi cùng họ tranh luận về giới luật, niên hiệu, tăng y và bảo rằng không thể hủy hoại. Hai tôn giả Mã Thắng và Trúc Pháp Lan đem giáo lý của Phật đà từ Thiên Trúc sang Trung Thổ. Khi đó, Phật mới vừa diệt độ. Ðương thời, phía đông chùa Bạch Mã có ánh sáng lạ kỳ chiếu vào ban đêm. Tôn giả Mã Thắng bảo rằng xưa kia vua A Dục đã từng sai người mang xá lợi của Phật đặt để nơi đó. Nghe điều này, vua Minh Ðế liền sai người dựng tháp cúng dường. Bấy giờ tăng sĩ cùng đạo sĩ thi thiết pháp thuật. Tôn giả Mã Thắng hiện thần thông biến hóa quảng đại, phi thân trên không trung. Ngài Trúc Pháp Lan xuất đại pháp âm, tuyên dương Phật pháp. Thần thông trí huệ diệu dụng của hai tôn giả, dầu kể suốt bao năm tháng cũng không thể hết. Chư cao tăng sau này như ngài Cưu Ma La Thập, Huyền Trang, Ðạo Tuyên, v.v... tuy thuyết pháp bao ngôn từ, mà không bao giờ xác quyết sửa đổi cải biến ngày Phật đản sinh. Vào năm Dân Quốc thứ hai, cư sĩ Chương Thái Ðàm cùng các vị khác, chiêu tập khai mở đại pháp hội Vô Giá tại chùa Pháp Nguyên, Bắc Kinh. Trong lần đó, họ cũng thảo luận về ngày Phật đản sinh, và đồng nghị quyết rằng mồng tám tháng tư là ngày Phật đản sinh. Hiện tại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng dương lịch. Song, chánh phủ cũng chưa bảo rằng Phật giáo đồ nên sửa đổi từ âm lịch sang dương lịch. Tôi chủ trương là chúng ta phải ứng dụng theo Phật Lịch, vậy có được hay không? Ðó là tôn kính giới luật và giáo pháp của bậc cổ nhân, mà không thể sửa đổi. Họ lại ương ngạnh bảo rằng mồng tám tháng hai, mồng tám tháng tư, ngày mười lăm tháng hai, vốn là ngày kỷ niệm tổ tiên. Họ muốn đổi ngày Phật đản sinh từ mồng tám tháng tư qua rằm tháng tư. Kinh Phạm Võng thuộc thời Hoa Nghiêm và Tứ Phần luật thuộc thời A Hàm. Họ đều muốn hủy bỏ. Thanh Quy của Tổ Bá Trượng, từ đời Ðường cho đến ngày nay, thiên hạ đều phụng hành, mà họ lại muốn sửa đổi. Tăng y ca sa từ đời Hán đến nay, họ cũng muốn cải đổi. Quý vị xem coi, có phải là đời mạt pháp không? Vì vậy, tôi phải tranh luận với họ, mà bảo rằng nếu các ông muốn cải đổi thì phải tự cải đổi chính mình.

Phật đà vốn là người Ấn Ðộ. Ở Ấn Ðộ, một năm chia làm ba quý. Mỗi quý là bốn tháng. Nước Tàu mỗi năm chia làm bốn quý. Mỗi quý chia làm ba tháng. Nước Tàu có phân hiệu niên giáp, mà nước Ấn Ðộ lại không có. Vì vậy, chớ nên hàm đồ thay triều đổi niên đại không rõ ràng. Ngài Huyền Trang ở Ấn Ðộ mười tám năm, mà chưa từng xác định niên đại. Trải qua hơn hai ngàn năm, người xưa thường cử hành lễ Phật đản vào mồng tám tháng tư. Nếu sửa đổi thì rất bất tiện. Chúng ta là ai, mà lại dám tự sửa đổi?

Tôi bàn luận với Lý Nhậm Triêu là những Phật tử xấu xa này, muốn cải đổi giáo chế của Phật đà. Nếu chánh phủ không tự chủ, dung túng những kẻ này, tạo những việc xằng bậy, thì Phật tử quốc tế sẽ sanh tâm hồ nghi.

Ðối với những kẻ manh tâm xằng bậy cải đổi quy chế giới luật Phật giáo, Lý Nhậm Triêu cùng các người khác khuyên tôi hãy nên nhẫn nhục với họ. Chánh phủ thấy việc tranh cãi lộn xộn, liền hỏi han về lý do muốn sửa đổi giới luật quy chế Phật giáo. Có người bảo rằng tăng ni phải nên mặc y hoại sắc. Chánh phủ hỏi rằng y hoại sắc là như thế nào? Năng pháp sư đáp rằng ca sa vốn là y hoại sắc, còn những y phục khác thì không phải. Mọi người nghe lời phân trần rõ ràng này, quyết định giữ lại y ca sa hoại sắc, hủy bỏ ý kiến của những kẻ muốn cải đổi tăng bào. Tôi bảo rằng lời nói của Năng pháp sư là không sai. Tiếng Phạn gọi là ca sa. Tiếng Tàu gọi là y hoại sắc. Y ca sa có ba loại là y năm điều, y bảy điều, và đại y. Lại có một khỏa y và một cái quần. Chư tăng Ấn Ðộ dùng ba y và một cái quần tức là y khố chúng ta đang mặc ở nước Tàu. Những y ca sa và quần này luôn luôn mặc trên thân. Ngủ cũng mặc, mà chết cũng không rời. Tại Ấn Ðộ khí hậu nóng nực nên chỉ cần có ba y ca sa là đủ. Tại Tàu khí hậu lạnh lẽo, nên trong mình còn phải mặc thêm y phục thế tục, nhưng không được mặc y phục có nhiều màu sắc rực rỡ, mà phải nhuộm thành y hoại sắc. Nếu đi ra ngoài làm việc Phật sự thì phải đắp y ca sa. Y ca sa không thường đắp, nên khiến người nhìn khởi tâm tôn kính. Các triều đại như Tống, Kim, Nguyên đều sửa đổi y phục khác với đời Hán. Tăng nhân đến hôm nay vẫn chưa từng sửa đổi, tức dùng y ca sa đời Hán làm tăng y. Ðó gọi là đại y ca sa, cũng là y hoại sắc. Nếu cho rằng mặc loại y ca sa này khiến đi đứng bị hạn chế, thì không nên cải đổi. Nếu cải đổi tăng y thì ranh giới giữa tăng nhân kẻ tục khó phân định. Nghe những lời tôi phân trần, chánh phủ đồng ý tán trợ, và lại bảo rằng Phật luật Tổ quy không thể sửa đổi, mà phải giữ gìn bảo hộ.

Sau đó, chánh phủ gọi tôi vào kinh đô, tiếp đãi các thân hũu Phật giáo quốc tế.

Tạm cáo kết cuộc. Quý vị thấy không, có phải là tăng sĩ tự hủy hoại Phật pháp chăng? Lão già Hư Vân này vô lực khuông phò Phật pháp. Ngưỡng vọng chánh tri kiến tăng già, đồng tránh khỏi những phong ba bão táp, thì Phật pháp mới không bị hủy diệt.

XXVII. Mười hai bài kệ tham thiền:

"Tham thiền chẳng huyền bí "Tham thiền không học vấn

Thể hội tận căn nguyên Học vấn tăng thấy nghe

Ngoài tâm chẳng có pháp Ảnh hưởng không kham truyền

Sao bảo trời ngoài trời." Ngộ đến dư là thừa."

"Tham thiền không nghe nhiều "Tham thiền chớ nói rỗng

Nghe nhiều thành thiền bịnh Người nói khách ngoài cửa

Thương thay Quán Thế Âm Nhiều vị bảo đạt thiền

Nghe lại tự tánh mình." Chứng rùa thành ba ba."

"Tham thiền không nên nói "Tham thiền tham tự tánh

Lúc nói không chỗ che Nơi nơi thường tùy thuận

Lúc chứng bằng hư không Lại chẳng giả mài giũa

Nói bụi cùng thuyết trần." Gốc vốn thường thanh tịnh."

"Tham thiền như tìm báu "Tham thiền pháp thức tu

Lúc vào núi nhà tìm Bảo quyết khỏi sanh tử

Gặp kho hiện trước mặt Tử tế đưa lên xem

Nhất định sẽ liễu đạo." Cười ngã lão Hàn Sơn."

"Tham thiền phải nghi nhiều "Tham thiền không nói thiền

Nghi lớn tuyệt đường rẽ Chỉ mê mới thuyết thiền

Ðạp đổ Diệu Cao Phong Tâm này nếu chưa ngộ

Thì trời bay đất đổ." Phải gấp mau tham thiền."

"Tham thiền không thân sơ "Tham thiền không giai cấp

Mới là trân gia bảo Mau siêu lên đất Phật

Mắt tai thân mũi lưỡi Tích trượng vừa đưa lên

Diệu dụng thật khó bàn." Liền thấy nghĩa đệ nhất."

XXVIII. Bài ca đi, đứng, nằm, ngồi.

Ði trên núi,

Ðạp nát đảnh đầu mây.

Hồi quang phản chiếu,

Ðại địa chẳng có tấc bụi.

Ðứng trên núi,

Cắt đoạn đường sanh tử.

Trợn mắt mà nhìn,

Ngàn thánh chẳng thèm ngó.

Ngồi trên núi,

Suốt ngày chỉ như thế.

Ngồi nát bồ đoàn,

Không dạy trẻ con đọa.

Nằm trên núi,

Cỡi lừa cỡi ngựa qua.

Ta chủ nhân ông,

Không mộng vẫn sáng soi."

Phụ chú A:

1/ Ðại lão hòa thượng Hư Vân tiếp nối mạch nguồn năm hệ phái Thiền tông.

...Vào mùa hè năm giáp tuất, có các trưởng lão và cư sĩ từ núi Quy Sơn đến gặp Ngài ở tại chùa Nam Hoa, như trưởng lão Nam Ngạc Bảo Sanh, thủ tọa Cửu Thành Liễu Chiếu, cư sĩ Tế Khoan Huệ ở thành Trường Sa, v.v... Họ là những vị tuổi cao lạp lớn, được chư sơn trưởng lão cung kính tín nhiệm. Vì thấy tông môn không có người thừa kế, tổ đình xiêu sụp, hoang tàn, họ đồng quyết định, đến thỉnh mời Ngài qua núi Quy Sơn để trùng tu tự viện, cùng kế thừa và phục hồi tông Quy Ngưỡng, hầu mong mạch pháp năm tông phái của Thiền tông được nối tiếp dài lâu. Vì thật khó từ chối, nên Ngài phải nhận lời. Tra cứu kỹ càng, nhận biết tông này do tổ Linh Hựu khai sáng, rồi truyền đến đời thứ tư, thiền sư Tư Phúc Như Bảo. Từ đó, tận hết hai mươi chữ truyền tông Quy Ngưỡng. Cuối cùng là chữ "Diệu", rồi không còn chữ nào tiếp dòng truyền. Song, theo sử sách thì dòng Quy Ngưỡng vẫn còn truyền đến hai ngài Tam Ngư Chí Khiêm và Hưng Dương Từ Ðạt thuộc đời Tống, thì ngừng. Có thuyết nói rằng hai ngài là anh em, đồng thừa kế mạch phái từ thiền sư Báo Từ Ðức Thiều, làm tổ thứ sáu của dòng Quy Ngưỡng. Có thuyết nói rằng thiền sư Chí Khiêm làm vị tổ thứ sáu, còn thiền sư Từ Ðạt thì làm tổ thứ bảy. Hệ phái Quy Ngưỡng truyền thừa rất ít. Vì vậy, sau này không có chỗ căn cứ để kiểm nghiệm. Song, Ngài ghép nối pháp danh của thiền sư Từ Ðạt với mình để trích diễn ra năm mươi chữ truyền tông phái, hầu mong hậu hiền tiếp nối không đứt đoạn. Kệ viết:

"Từ đức tuyên diễn đạo đại hưng

Giới đỉnh hình biến ngũ phân tân

Huệ diễm di bố châu sa giới

Hương vân phổ ấm xán cổ kim

Từ bi tế thế nguyện vô tận

Quang siêu nhật nguyệt lãng thái thanh

Chấn khai điểm hoa hoằng quy thượng

Viên tướng tâm đăng vĩnh xương minh."

Dịch:

"Ðức từ tuyên diễn, hưng đại đạo

Hương giới tràn đầy, khắp năm phần

Ðuốc huệ chiếu soi, khắp pháp giới

Mây hương bao trùm, sáng cổ kim

Từ bi cứu thế, nguyện vô tận

Sáng hơn nhật nguyệt, trong xanh thẳm

Cầm hoa chấn khai, hoằng Quy Ngưỡng

Ðuốc tâm tròn đầy, mãi sáng soi."

Lại nữa, khi ở chùa Nam Hoa, Ngài biết chốn tổ đình dòng Vân Môn, hương khói vô định, tức có lúc nối tiếp có lúc ngùng. Vì vậy, Ngài quyết tâm khôi phục lại dòng thiền Vân Môn. Kiểm lại dòng Vân Môn thì thấy rằng tông này phát khởi từ thiền sư Văn Yển, rồi truyền được mười một đời, cho đến thiền sư Kỷ Am Thâm Tịnh tại chùa Quang Hiếu, tỉnh Ôn Châu, thuộc triều Tống thì dừng. Dòng kệ từ tổ Văn Yển truyền đến đời thứ tám là Ưu Hồng Tăng, có hai mươi chữ. Sau này, không biết ai lại thêm vào hai mươi chữ truyền hệ phái. Vì vậy, cổ phái lại phân thành ba. Nay muốn kế tục hoằng truyền, nhưng Ngài lại không biết phải bắt đầu từ chữ nào. Do đó, phải dùng pháp danh của Ngài, ghép với thiền sư Thâm Tịnh, để viết ra năm mươi sáu chữ, hầu mong các bậc hiền sĩ đời sau tấn bước, truyền đăng vô tận. Kệ viết:

"Thâm diễn diệu minh diệu càn khôn

Trạm tịch hư hoài hải ấn dung

Thanh tịnh giác viên huyền trí cảnh

Huệ giám tinh chân đạo đức dung

Từ bi hỷ xả xương phổ hóa

Hoằng khai điểm hoa tích truyền đăng

Kế chấn Vân Môn quan nhất chỉ

Huệ trạch thương sanh pháp vũ long."

Dịch:

"Thâm diễn diệu minh, sáng càn khôn

Lặng lẽ u hoài, hình hải ấn

Thanh tịnh viên giác, kính trí treo

Huệ giám tinh chân, dung đạo đức

Từ bi hỷ xả, xướng độ khắp

Cầm hoa hoằng khai, tiếp truyền đăng

Chấn thừa Vân Môn, chỉ nhất ải

Nguồn huệ dồi dào, mưa pháp tràn."

Mùa xuân năm Quý Dậu, thiền sư Minh Trạm, từ Trường Ðinh đến Nam Hoa, bảo rằng vừa sáng lập núi Bát Bảo tại Truờng Ðinh, chí nguyện muốn tiếp nối dòng Pháp Nhãn. Không biết lý do gì, thiền sư Minh Trạm lại khẩn thỉnh Ngài cứu vãn dòng hệ Pháp Nhãn. Ðáp lời của thiền sư Minh Trạm, Ngài nói:

- Tông này xuất phát tại núi Thanh Lương ở Kim Lăng, và bị thất truyền đã lâu, nên không dễ dàng mà khôi phục lại. Kể từ đời Tống, Nguyên, tiếp nối lưu truyền. Tra trong bộ điển tịch, thiền sư Văn-ích khai mở hệ phái, truyền được bảy đời, cho đến thiền sư Tường Phù Lương Khánh thì ngưng, nên không thể kiểm duyệt hệ phái được nữa. Từ thiền sư Văn-ích truyền đến thiền sư họ Quang đời thứ sáu, có hai mươi chữ. Sau này, không biết người nào lại thêm bốn mươi chữ. Tuy có hai phái, nhưng con cháu lại ngưng truyền. Tra lại hệ phái thì thấy rằng thiền sư Văn-ích xuất sanh ra quốc sư Ðức Thiều ở núi Thiên Thai cùng thiền sư Thái Khâm tại núi Thanh Lương. Ðiều tra hệ phái thì có hai thuyết: Một là quốc sư Ðức Thiều truyền xuống cho thiền sư Luơng Khánh. Một là thiền sư Thái Khâm truyền pháp xuống thiền sư Lương Khánh. Có nơi ghi bảy đời:" ích, Thiều, Thọ, Thắng, Nguyên, Huệ, Lương."

Có nơi ghi:" ích, Khâm, Tề, Chiếu, Nguyên, Huệ, Lương."

Nay muốn tiếp nối kế thừa, thật khó mà khảo chứng. Vì vậy, phải chọn ra hệ phái từ quốc sư Ðức Thiều, rồi ghép pháp danh của Ngài cùng thiền sư Lương Khánh, mà viết ra dòng chữ hệ phái, để hậu hiền mãi mãi tiếp tục tương truyền huệ đăng.

Kệ viết:

"Lương hư bổn tịch thể vô lượng

Pháp giới thông dung quảng hàm tàng

Biến ấn xum la viên tự tại

Tắc không tình khí tổng chân thường

Duy tư thắng đức chiêu nhật nguyệt

Huệ đăng phổ chiếu động âm dương

Truyền tông Pháp Nhãn đại tương nghĩa

Quang huy địa cửu cố thiên trường."

Dịch:

"Hư không lặng lẽ, thể không cùng

Pháp giới dung thông, chứa đầy tràn

Ấn khắp xum la, tròn tự tại

Tình khí lấp không, thảy chân thường

Duy mình thắng đức, sáng nhật nguyệt

Ðuốc huệ chiếu khắp, thấu âm dương

Truyền tông Pháp Nhãn, tương nghĩa lớn

Rạng ngời khắp nơi, mãi dài lâu."

Ðại lão hòa thượng Hư Vân xuất gia tại núi Cổ Sơn. Từ đời Minh đến thời cận đại, hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng được tiếp nối tương truyền tại núi Cổ Sơn. Hòa thượng Diệu Liên dĩ nhiên là vị tiếp thừa hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng. Hòa thượng Diệu Liên truyền mạch pháp của hai tông này lại cho ngài Hư Vân.

Do đó, ngài Hư Vân làm vị tổ dòng Lâm Tế, đời thứ bốn mươi ba, và tổ dòng Tào Ðộng, đời thứ bốn mươi bảy.

Dòng Quy Ngưỡng gần mấy trăm năm, không ai kế thừa. Do hòa thượng Bảo Sanh cùng chư sơn trưởng lão khẩn thỉnh, ngài Hư Vân làm vị tổ thứ tám, tính từ tổ khai sơn Quy Sơn Linh Hựu. Sau này, đại lão hòa thượng Hư Vân truyền lại cho đệ tử đắc pháp là ngài Ðộ Luân Tuyên Hóa (1918-1995), vị khai sơn chùa Vạn Phật Thánh Thành ở Mỹ Quốc.

Dòng Pháp Nhãn đã bị thất truyền rất lâu. Do hòa thượng Thanh Trì, núi Bát Bảo khẩn thỉnh, ngài Hư Vân tiếp nối mạch pháp của thiền sư Lương Khánh, tức làm tổ sư dòng Pháp Nhãn, đời thứ tám.

Dòng Vân Môn cũng bị thất truyền đã lâu. Từ tổ khai sơn Văn Yển, truyền đến đời thứ mười một là thiền sư Kỷ Am Thâm Tịnh. Vì muốn trùng hưng mạch phái Vân Môn, ngài Hư Vân tiếp thừa tông phái, làm tổ thứ mười hai, sau thiền sư Kỷ Am Thâm Tịnh.

2/ Nhân duyên của quyển Tăng Ðính Phật Tổ Ðạo Ảnh.

Truy cứu từ đời Minh, bốn quyển Phật Tổ Ðạo Ảnh, do hai thầy Chân Tịch và Vân Phúc phát tâm sưu tập tất cả hình ảnh, pháp tướng, kệ cú của chư thánh tăng Ấn Ðộ và Trung Quốc, gồm có hai trăm bốn mươi tôn tượng, được lưu trữ tại tự viện núi Ngưu Thủ. Sau này, đại sư Hám Sơn tuyển chọn truyện tán; ngài Tử Bá khắc bản lưu truyền. Ðời Thanh, niên hiệu Sùng Trinh, hòa thượng Vĩnh Giác tại chùa Dõng Tuyền, núi Cổ Sơn lại sưu tập thêm hơn một trăm ba mươi pháp tướng và kệ cú của chư Tổ Sư, rồi khắc bản lưu truyền, nhưng lâu ngày lại bị mất hết. Niên hiệu Khang Hy, năm thứ tư, thầy Vi Lâm gom nhóm và bổ khuyết lại. Tất cả được một trăm hai mươi hai tôn tượng và kệ cú. Sau này được khắc in, gọi là bản Phật Tổ Ðạo Ảnh.

Thời cận đại, khi trụ trì tại chùa Dõng Tuyền, ngài Hư Vân phát hiện bản trân bảo này. Nhận thấy bản Phật Tổ Ðạo Ảnh rất có giá trị về lịch sử Thiền tông, nên Ngài trùng tân chỉnh lý. Ngài lại đi khắp nơi sưu tập các tư liệu về tông phái của chư Tổ Sư, thánh tăng Ấn Ðộ và Trung Quốc. Cộng chung với bản cũ và tư liệu sưu tập, tất cả hơn ba trăm ba mươi vị Tổ Sư. Do đó, Ngài thêm truyện kệ cú tán, rồi xuất bản thành bốn quyển, được gọi là Tăng Ðính Phật Tổ Ðạo Ảnh Truyện Tán.

Hiện nay, bốn quyển này được cố hòa thượng Tuyên Hóa, đệ tử truyền tâm ấn của đại lão hòa thượng Hư Vân, xuất bản tại chùa Vạn Phật Thánh Thành.

Phụ chú B: Sơ lược tiểu sử của cố đại lão hòa thượng Ðộ Luân tự Tuyên Hóa (1918-1995).

Ðại lão hòa thượng Hư Vân tự Ðức Thanh, tổ thứ tám dòng Quy Ngưỡng, viết kệ biểu tín truyền tâm ấn cho đại lão hòa thượng Tuyên Hóa tại pháp đường chùa Chân Như, núi Vân Cư, vào năm 1956.

"Tuyên vi diệu nghĩa chấn gia thanh

Hóa thừa Linh Nhạc pháp đạo long

Ðộ dĩ tứ lục truyền tâm ấn

Luân toàn vô hưu tế khổ luân."

Dịch:

"Tuyên vi diệu nghĩa chấn mọi nhà

Hóa thừa Linh Nhạc đạo pháp hưng

Ðộ bốn sáu đời truyền tâm ấn

Luân toàn không nghỉ cứu quần sanh."

Phật Tổ Tâm Ðăng

(Ðuốc Tâm của Phật Tổ).

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tổ thứ nhất, tôn giả Ma Ha Ca Diếp. (Sơ Tổ Ấn Ðộ)

Tổ thứ hai, tôn giả A Nan.

Tổ thứ ba, tôn giả Thương Na Hòa Tu.

Tổ thứ tư, tôn giả, Ưu Ba Cúc Ða.

Tổ thứ năm, tôn giả Ðề Ða Ca.

Tổ thứ sáu, tôn giả Di Dá Ca.

Tổ thứ bảy, tôn giả Bà Tu Mật.

Tổ thứ tám, tôn giả Phật Ðà Nan Ðề.

Tổ thứ chín, tôn giả Phục Ðà Mật Ða.

Tổ thứ mười, tôn giả Hiếp Tôn Giả.

Tổ thứ mười một, tôn giả Phú Na Dạ Xa.

Tổ thứ mười hai, tôn giả Mã Minh.

Tổ thứ mười ba, tôn giả Ca Tỳ Ma La.

Tổ thứ mười bốn, tôn giả Long Thọ

Tổ thứ mười lăm, tôn giả Ca Na Ðề Bà.

Tổ thứ mười sáu, tôn giả La Hầu La Ða.

Tổ thứ mười bảy, tôn giả Tăng Già Nan Ðề.

Tổ thứ mười tám, tôn giả Già Da Xá Ða.

Tổ thứ mười chín, tôn giả Cưu Ma La Ða.

Tổ thứ hai mươi, tôn giả Xà Dạ Ða.

Tổ thứ hai mươi mốt, tôn giả Bà Tu Bàn Ðầu.

Tổ thứ hai mươi hai, tôn giả Ma Noa La.

Tổ thứ hai mươi ba, tôn giả Hạc Lặc Na.

Tổ thứ hai mươi bốn, tôn giả Sư Tử.

Tổ thứ hai mươi lăm, tôn giả Bà Xá Tư Ða.

Tổ thứ hai mươi sáu, tôn giả Bất Như Mật Ða.

Tổ thứ hai mươi bảy, tôn giả Bát Nhã Ða La.

Tổ thứ hai mươi tám, tôn giả Bồ Ðề Ðạt Ma. (Tổ thứ nhất, Thiền Tông Trung Quốc)

Tổ thứ hai mươi chín, đại sư Huệ Khả. (Tổ thứ hai, Thiền Tông Trung Quốc)

Tổ thứ ba mươi, đại sư Tăng Xán. (Tổ thứ ba, Thiền Tông Trung Quốc)

Tổ thứ ba mươi mốt, đại sư Ðạo Tín. (Tổ thứ bốn, Thiền Tông Trung Quốc)

Tổ thứ ba mươi hai, đại sư Hoằng Nhẫn. (Tổ thứ năm, Thiền Tông Trung Quốc)

Tổ thứ ba mươi ba, đại sư Huệ Năng. (Tổ thứ sáu, Thiền Tông Trung Quốc)

Ðời thứ ba mươi bốn, thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng.

Ðời thứ ba mươi lăm, thiền sư Mã Tổ Ðạo Tín.

Ðời thứ ba mươi sáu, thiền sư Bá Trượng Hoài Hải.

Ðời thứ ba mươi bảy, thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ nhất)

Ðời thứ ba mươi tám, thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ hai)

Ðời thứ ba mươi chín, thiền sư Tây Tháp Quang Mục. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ ba)

Ðời thứ bốn mươi, thiền sư Tư Phúc Như Bảo. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ bốn)

Ðời thứ bốn mươi mốt, thiền sư Báo Từ Ðức Thiều. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ năm)

Ðời thứ bốn mươi hai, thiền sư Tam Ngư Chí Khiêm. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ sáu)

Ðời thứ bốn mươi ba, thiền sư Hưng Dương Từ Ðạt. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ bảy)

Ðời thứ bốn mươi bốn, thiền sư Ðức Thanh Hư Vân. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ tám)

Ðời thứ bốn mươi lăm, thiền sư Tuyên Hóa Ðộ Luân. (Dòng Quy Ngưỡng, đời thứ chín)

Năm mươi sáu chữ truyền tông Quy Ngưỡng của ngài Ðức Thanh Hư Vân, đời thứ tám.

"Từ đức tuyên diễn đạo đại hưng

Giới đỉnh hinh biến ngũ phân tân

Huệ diễm di bố châu sa giới

Hương vân phổ ấm xán cổ kim

Từ bi tế thế nguyện vô tận

Quang siêu nhật nguyệt lãng thái dương

Chấn khải điểm hoa hoằng quy thượng

Viên tướng tâm đăng vĩnh xương minh."

dịch:

"Ðức từ tuyên diễn, hưng đại đạo

Hương giới tràn đầy, khắp năm phần

Ðuốc huệ chiếu soi, cùng pháp giới

Mây hương bao trùm, sáng cổ kim

Từ bi cứu thế, nguyện vô tận

Sáng hơn nhật nguyệt, trong xanh thẳm

Cầm hoa chấn khai, hoằng Quy Ngưỡng

Ðuốc tâm tròn đầy, mãi sáng soi."

Ðại lão hòa thượng Ðộ Luân tự Tuyên Hóa, tục danh Bạch Ngọc Thư, xuất sanh tại huyện Song Thành tỉnh Kiết Lâm, vào ngày mười sáu tháng ba âm lịch, năm 1918. Người mẹ vừa qua đời vào năm 1936, Ngài xuất gia làm sa di và hành hạnh thủ hiếu tại phần mộ mẹ hiền trong ba năm liền. Ðương thời Ngài phát mười tám đại nguyện:

"Kính lạy mười phuơng chư Phật, tam tạng chánh pháp, chư Hiền Thánh Tăng trong quá khứ hiện tại và vị lai, xin nguyện chứng minh cho đệ tử Ðộ Luân, Thích An Từ. Con nay phát tâm, không cầu phước báo trời người, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến chư vị Bồ Tát Quyền Thừa, chỉ y theo tối thượng thừa, phát tâm Bồ Ðề, nguyện cùng pháp giới chúng sanh, một thời đồng đắc A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.

1/ Nguyện tận hư không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Bồ Tát, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

2/ Nguyện tận hư không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Duyên Giác, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

3/ Nguyện tận hư không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Thanh Văn, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

4/ Nguyện các loài trời trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

5/ Nguyện mười phương, tất cả loài người trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

6/ Nguyện tất cả loài A Tu La trong cõi trời người, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

7/ Nguyện tất cả loài súc sanh trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

8/ Nguyện tất cả loài ngạ quỷ trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

9/ Nguyện tất cả loài địa ngục trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

10/ Nguyện tất cả các vị trời người, tiên thiên, A Tu La, loài vật trên không dưới nước, loài rồng trong các cõi linh, cùng chúng quỷ thần, đã từng quy y với tôi, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ chánh giác.

11/ Nguyện tất cả các phước lạc mà tôi được thọ hưởng, đều đem hồi hướng, bố thí cho tất cả chúng sanh trong pháp giới.

12/ Nguyện tôi sẽ thay thế cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, chịu lãnh thọ hết tất cả khổ nạn.

13/ Nguyện phân thân vô số, nhập khắp vào tâm của tất cả chúng sanh không tin Phật pháp, khiến họ sửa ác hướng thiện, ăn năn hối cải, quy y Tam Bảo, cúu cánh thành Phật.

14/ Nguyện tất cả chúng sanh, nếu thấy mặt tôi, cho đến nghe tên tôi, liền phát tâm Bồ Ðề, sớm thành Phật đạo.

15/ Nguyện tôn kính giới pháp do Phật chế, thực hành ăn một ngày một buổi.

16/ Nguyện giác ngộ chư hữu tình, nhiếp thọ hết mọi loài.

17/ Nguyện đời này đắc được ngũ nhãn lục thông, phi hành tự tại.

18/ Nguyện tất cả lời phát nguyện đều được thành tựu trọn vẹn."

Ngày nọ, Ngài thấy Lục Tổ Huệ Năng đi thẳng vào chòi lá. Lục Tổ đàm đạo với Ngài rất lâu, rồi sau đó bảo:

- Trong tương lai, con sẽ qua Tây Phương hoằng pháp... Năm tông phái thiền sẽ phân thành mười tông. Con sẽ gặp và giáo hóa rất nhiều người, vô lượng vô biên, không thể tính đếm. Ðó là bước đầu mở đường cho công cuộc truyền bá Phật pháp tại Tây Phương.

Sau khi thọ giới cụ túc tại núi Phổ Ðà với pháp danh là Ðộ Luân, Ngài đến lễ bái đại lão hòa thượng Hư Vân tại chùa Nam Hoa vào năm 1948. Từ năm 1950 đến năm 1960, Ngài sang Hồng Kông hoằng pháp lợi sanh và kiến lập chùa Tây Lạc Viên, Từ Hưng Thiền Tự, Giảng Ðường Phật Giáo. Trong năm 1956, Ngài được đại lão hòa thượng Hư Vân truyền pháp mạch với pháp hiệu là Tuyên Hóa, chánh thức làm vị tổ thứ chín dòng thiền Quy Ngưỡng, tức thuộc đời thứ bốn mươi lăm kể từ sơ tổ Ca Diếp.

Kế đến, Ngài sang nước Mỹ hoằng dương Phật pháp vào năm 1962. Song, vì cơ duyên chưa chín mùi Ngài phải ẩn tu từ năm 1962 cho đến năm 1968. Ðương thời, Ngài tự gọi mình là "Mộ Trung Tăng", tức vị tăng sống trong phần mộ. Vào mùa hè năm 1968, tại vùng Cựu Kim Sơn, Ngài mở khóa tu học kinh Thủ Lăng Nghiêm cho một nhóm sinh viên giáo sư đại học người Mỹ từ thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Tháng chạp năm kế, có năm người Mỹ, ba nam hai nữ, phát tâm y chỉ theo Ngài thọ giới xuất gia, trở thành tăng chúng người Mỹ đầu tiên ở Hoa Kỳ. Từ đó, Ngài liên tiếp dạy thiền đạo và diễn giảng các kinh điển đại thừa như Kim Cang, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, v.v... Ngài thường dạy các đệ tử xuất gia:

"Dầu lạnh chết không phan duyên.

Dầu đói chết không hóa duyên.

Dầu nghèo chết không cầu duyên.

Tùy duyên không đổi, không đổi tùy duyên.

Chúng ta quyết thật hành ba tông chỉ này.

Xả mạng vì Phật sự.

Tạo mạng vì tăng sự.

Chánh mạng vì bổn sự.

Nơi sự hiểu lý, nơi lý hiểu sự.

Luôn hành tổ sư nhất mạch tâm truyền."

Ngoài ra, Ngài định đặt tiêu chuẩn tu hành cho mình và cho những người đệ tử xuất gia lẫn tại gia là phải theo sáu tông chỉ: Không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói láo. Ðặc biệt, Ngài rất chú trọng và quan tâm đến giới luật của tăng chúng xuất gia, vì "Giới Luật Còn Thì Phật Pháp Còn". Do đó, thể theo giới luật của Phật chế, Ngài tự nghiêm thủ cung hành và dạy tăng chúng xuất gia hành trì giới mỗi ngày ăn một buổi, và y ca sa bất ly thân. Kế đến, Ngài thành lập chương trình huấn luyện tăng ni cư sĩ vào năm 1982, với mục đích nhấn mạnh vào việc tu trì học tập Phật pháp trong khuôn viên tự viện, dựa trên nền tảng giới định huệ.

Lại nữa, Ngài thành lập viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc Tế để phiên dịch các kinh điển đại thừa từ tiếng Tàu sang tiếng Anh hầu mong giáo lý của Phật đà được truyền bá phổ cập vào xã hội Tây Phương. Hiện nay, viện đã phiên dịch và xuất bản hàng trăm quyển kinh đại thừa, mà trong đó hầu hết có những lời chú giải của Ngài.

Ngoài ra, Ngài thành lập trường tiểu học Dục Lương, trung học Bồi Ðức, đại học Pháp Giới, hầu mong bồi dưỡng nhân tài cho Phật giáo tại Tây Phương.

Vì số người Mỹ đến cầu đạo ngày một tăng, Ngài thành lập hội Phật Giáo Trung Mỹ. Dần dần, tín chúng Phật tử thuộc nhiều thành phần và sắc tộc khác nhau đổ dồn về, quy y thọ giới học đạo, ngày một gia tăng. Ðể thích ứng với điều kiện mới và hệ thống hóa tổ chức theo tầm vóc quốc tế, Ngài đổi danh hiệu hội Phật Giáo Trung Mỹ thành Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới vào năm 1984, với trung tâm chính là chùa Vạn Phật Thánh Thành.

Ngài thường chủ trương kết hợp thống nhất Phật giáo Tiểu Thừa và Ðại Thừa thành một khối duy nhất để thuận tiện cho việc hoằng dương Phật pháp ở Tây Phương. Ðiển hình, Ngài thường thỉnh mời các chư tăng Tiểu Thừa và Ðại Thừa thuộc các sắc tộc khác nhau đến giảng kinh thuyết pháp và truyền giới cho chúng xuất gia tại chùa Vạn Phật Thánh Thành. Ngài lại chủ trương hòa đồng tôn giáo. Ðiển hình, Ngài thỉnh mời hồng y Thiên Chúa giáo là Vu Bình ở Ðài Loan, sang làm chủ tịch trung tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế Giới tại chùa Vạn Phật Thánh Thành. Tiếc thay, hồng y Vu Bình qua đời đột ngột, khiến đình chỉ dự án đó. Sau này, tại tu viện ở Berkeley, Ngài thành lập viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế Giới vào năm 1994.

Hơn ba mươi năm hoằng dương Phật pháp ở Mỹ, cuối cùng Ngài an tường thị tịch vào mồng bảy tháng sáu năm 1995, tại Los Angeles, Mỹ quốc, thọ bảy mươi tám tuổi. Song, Ngài đã cống hiến cho Phật giáo một công nghiệp vĩ đại: Hơn hai trăm tăng ni thuộc nhiều sắc tộc như Mỹ, Việt, Tàu, Ý, v.v... lần lượt thọ giới xuất gia. Hơn ba mươi đạo tràng Phật giáo được thành lập tại nước Mỹ, Gia Nã Ðại, và các nước ở vùng Ðông Nam Á.

Cả một đời, Ngài luôn khiêm cung, vô ngã, và rải lòng đại bi đến tất cả chúng sanh. Ngài hành đạo không nghỉ ngơi, chỉ muốn dẹp trừ màng vô minh, ngu si đang che lấp bản tánh chân thật của chúng sanh. Ngài luôn hành đạo cho hòa bình nhân loại, tôn giáo, quốc gia, thế giới. Song song với sự chú trọng vào việc phát triển Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, công nghiệp truyền bá Phật giáo qua tây phương của Ngài được tóm gọn như sau:

Phật giáo đã có mặt ở Trung Hoa trước khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông, từ Ấn Ðộ sang. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều mê mờ về giáo nghĩa chân chánh của Phật pháp, không thể phân biệt gì là chân thật hay giả dối, và gì là bề mặt hay thâm sâu. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma thắp ngọn đuốc trí huệ, làm sáng tỏ chân nghĩa của Phật pháp, bằng cách dạy họ tự rõ tâm thấy tánh (minh tâm kiến tánh), chứng thẳng đến quả vị Bồ Ðề. Ðại lão hòa thượng Tuyên Hóa qua tây phương sau khi Phật giáo được truyền sang đây khoảng một trăm năm. Ðương thời, có rất nhiều người thích nghiên cứu học hỏi Phật pháp, nhưng cũng rất mù mờ với những hiểu biết sai lầm. Vì vậy, nhận thấy rằng chỉ khi nào tăng đoàn Phật giáo được thanh tịnh và vững mạnh thì Phật giáo tại quốc gia đó mới được hưng thịnh, nên Ngài trùng hưng cải cách chế độ của tăng đoàn, chú trọng việc giữ gìn giới luật tinh nghiêm của hai chúng đệ tử xuất gia và tại gia. Nhận biết bản tánh người Mỹ rất thích thực tế, và nhờ tiếp thừa tinh thần của tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, Ngài đề xướng thật hành thiền định tinh tấn, để họ có thể trực tiếp, tự chứng ngộ giáo nghĩa chân chánh của Phật giáo. Vì có một số người nhận thức sai lầm về Phật giáo, Ngài giảng giải kinh điển Phật giáo bằng phương pháp đơn giản dễ hiểu, và chỉ rõ sự liên hệ mật thiết giữa chân nghĩa kinh điển cùng việc tu tập thực hành trong đời sống hằng ngày. Sau đó, lại phiên dịch những lời chú giải ra Anh ngữ để giúp các độc giả Tây Phương tiện việc nghiên cứu học hỏi. Tóm gọn, Ngài quyết định chọn lựa tây phương là nơi thực hành giáo hóa, tức dùng sự hành trì chân thật của mình mà hóa đạo người Tây Phương trong đời sống hằng ngày, hầu chỉ rõ chân nghĩa Phật giáo. Do đó, khiến vô số người tây phương cảm động vô cùng. Ngài thật đã gieo mầm mống Bồ Ðề vào trong tâm thức của họ.

 

1 2 3 4 5 6

Trang Nhà

Về Ðầu Trang