|
Hành hương
Tôi là một nhà sư đến từ dãy
núi Trường Bạch, một hành giả tu Thiền đến từ Hắc Thủy. Tôi phát tâm tu Đạo
khi còn niên thiếu. Khi nghe về hiếu hạnh của Vương Hiếu Tử (Đại Sư Thường
Nhân) của quận Song Thành, tôi nguyện sẽ noi gương ngài. Mỗi sớm tối, sau
khi đảnh lễ chư Phật, tôi lễ lạy cha và mẹ của tôi ba lần. Ban đầu, cha mẹ
tôi nghĩ rằng điều đó là kỳ lạ, nhưng sau một thời gian họ đã quen dần. Sau
đó, tôi quy y Tam Bảo và có niềm tin thâm sâu đối với Phật giáo. Tôi theo
học với Đại Sư Thường Nhân (tức Vương Hiếu Tử của quận Song Thành). Những
lời dạy của Đại Sư luôn đúng lúc. Sau khi mẹ tôi qua đời, tôi dựng một lều
tranh bên mộ mẹ, xuống tóc và xuất gia.
Khi nghe về Đại Lão Hòa
Thượng Hư Vân, một bậc thiện tri thức trong Thiền tông, đang giáo hóa tại
chùa Nam Hoa tại Tào Khê, tôi ao ước có thể đi tới đó. Tuy nhiên, để đến đó
thì phải đi qua con đường núi non hiểm trở. Sau khi Nhật đầu hàng vào năm
1945, giao thông trở nên thuận tiện hơn. Vào mùa thu năm 1946, vào giữa tháng
tám âm lịch, tôi đã khăn gói lên đường với hai đệ tử là Quả Năng và Quả
Thuấn. (Hiện nay, tôi không có tin tức gì của Quả Năng. Còn Quả Thuấn thì đã
đốt thân cúng dường cúng dường chư Phật). Chúng tôi hướng về Tào Khê, mong
mỏi thân cận Hòa thượng Hư Vân. Cuộc hành trình này rất là gian khổ. Chúng
tôi đi bộ ban ngày và nghỉ ngơi vào ban đêm, đôi khi chúng tôi phải đi cả
đêm, cho đến khi chúng tôi đến tu viện Bát Nhã tại Trường Xuân (nơi được gọi
là Tân Kinh, "Thủ đô mới," trong triều đại Mãn Châu ). Hai đệ tử của tôi ở
lại tu viện đó để chờ thọ Cụ túc giới vào năm tới. Không mang thêm quần áo
hay hành lý (những quần áo tôi mặc trên người không vượt quá 5 cân Anh), tôi
một mình đi vào nội địa.
Khi tôi về tới Thiên Tân, tôi đã ở tại
Chùa Đại Bi và nghe Đại Lão Hòa Thượng Đàm Hư giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tôi đã
gặp Pháp Sư Thể Kính và đã đi cùng thuyền với ông đến Chùa Chánh Giác ở Hồ
Bắc. Đi cùng với chúng tôi còn Pháp Sư Thánh Chiếu, Thánh Diệu, Chiếu Định,
Nguyen Tường, Nhuận Tuệ, Bổn Tri, Giác Tri, Dung Linh, Linh Quan, Tinh Giới,
và những người khác. Tôi đã làm một bài thơ như sau:
Đồng thuyền vượt biển mười bốn Tăng,
Chúng đều tôn quý, chỉ tôi bần.
Áo vá, một bữa, không chi khác,
Ai nấy hủy báng cùng mắng la.
Tại
tu viện Chánh Giác, tôi đã tu khổ hạnh và làm những việc như quét dọn, đun
nước, chăm sóc vườn, giữ chùa, trông nom Phật Điện, và làm nhiệm vụ tri
khách. Công phu thiền định của tôi ngày càng gia tăng hơn. Năm 1947, sau khi
đến núi Phổ Đà để thọ Cụ túc giới, tôi đi học giáo lý tại Học viện Phật giáo
tại Tu viện Linh Nham Sơn ở Tô Châu. Vào mùa thu, tôi đã đi đến núi Không
Thanh dự khóa thiền và trải qua mùa đông ở đó. Tôi đã bày tỏ sự tôn kính đối
với hòa thượng Minh Quang và hoà thượng Liễu Thừa. Trong tháng đầu năm
1948, tôi rời Thượng Hải đón thuyền đến Tu viện Bảo Thông ở Hồ Bắc.
Khi tôi lên thuyền, tôi không có một xu. Trên thuyền, tôi đã gặp
một người bị tật ở chân không thể đi được. Khi tôi trì chú Đại Bi gia hộ cho
ông thì ngay lập tức chân ông đã được chữa lành và có thể đi lại được. Điều
này làm những hành khác trên thuyền sanh tâm kính tín. Trước khi chia tay,
họ đã cúng dường tôi hơn 700.000 nguyên (đơn vị tiền tệ thời đó). Nhờ vậy,
tôi đã có thể mua vé xe lửa để đi đến Khúc Giang. Tại nhà ga xe lửa, tôi đã
gặp Đại Sư Chu Dịch, một người gốc Hồ Bắc. Khi tôi hỏi, ông nói với tôi
ông cũng đang đi đến Tu viện Nam Hoa tại Quảng Đông để thân cận Đại Sư Hư
Vân. Tôi hỏi ông, "Ngài có tiền mua vé tàu lửa không?" Ông nói, "Không." Tôi
mua cho ông một vé, và cả hai của chúng tôi đã đón tàu đến Mã Bá. Khi xuống
tàu, Thầy Chu Dịch nói: "Tôi đói lắm." Sau khi trả tiền tàu, tôi vẫn còn hơn
100.000 nguyên, tôi đã đưa cho thầy dùng bữa sáng. Một lần nữa, tôi không có
một xu.
Trích
http://www.drbachinese.org/vbs/publish/474/vbs474p029.pdf
|