Nhớ Về Nhân Duyên Với Hòa Thượng Hư Vân

Hành Hương
Nam Hoa Tự
Thổ Phỉ
Năm Mới 1949
Hòa Thượng Hư Vân Viên Tịch
Cung Thỉnh Xá Lợi Hòa Thượng Hư Vân
Kệ Di Ngôn
<

Hành hương

Tôi là một nhà sư đến từ dãy núi Trường Bạch, một hành giả tu Thiền đến từ Hắc Thủy. Tôi phát tâm tu Đạo khi còn niên thiếu. Khi nghe về hiếu hạnh của Vương Hiếu Tử (Đại Sư Thường Nhân) của quận Song Thành, tôi nguyện sẽ noi gương ngài. Mỗi sớm tối, sau khi đảnh lễ chư Phật, tôi lễ lạy cha và mẹ của tôi ba lần. Ban đầu, cha mẹ tôi nghĩ rằng điều đó là kỳ lạ, nhưng sau một thời gian họ đã quen dần. Sau đó, tôi quy y Tam Bảo và có niềm tin thâm sâu đối với Phật giáo. Tôi theo học với Đại Sư Thường Nhân (tức Vương Hiếu Tử của quận Song Thành). Những lời dạy của Đại Sư luôn đúng lúc. Sau khi mẹ tôi qua đời, tôi dựng một lều tranh bên mộ mẹ, xuống tóc và xuất gia.

Khi nghe về Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân, một bậc thiện tri thức trong Thiền tông, đang giáo hóa tại chùa Nam Hoa tại Tào Khê, tôi ao ước có thể đi tới đó. Tuy nhiên, để đến đó thì phải đi qua con đường núi non hiểm trở. Sau khi Nhật đầu hàng vào năm 1945, giao thông trở nên thuận tiện hơn. Vào mùa thu năm 1946, vào giữa tháng tám âm lịch, tôi đã khăn gói lên đường với hai đệ tử là Quả Năng và Quả Thuấn. (Hiện nay, tôi không có tin tức gì của Quả Năng. Còn Quả Thuấn thì đã đốt thân cúng dường cúng dường chư Phật). Chúng tôi hướng về Tào Khê, mong mỏi thân cận Hòa thượng Hư Vân. Cuộc hành trình này rất là gian khổ. Chúng tôi đi bộ ban ngày và nghỉ ngơi vào ban đêm, đôi khi chúng tôi phải đi cả đêm, cho đến khi chúng tôi đến tu viện Bát Nhã tại Trường Xuân (nơi được gọi là Tân Kinh, "Thủ đô mới," trong triều đại Mãn Châu ). Hai đệ tử của tôi ở lại tu viện đó để chờ thọ Cụ túc giới vào năm tới. Không mang thêm quần áo hay hành lý (những quần áo tôi mặc trên người không vượt quá 5 cân Anh), tôi một mình đi vào nội địa.

Khi tôi về tới Thiên Tân, tôi đã ở tại Chùa Đại Bi và nghe Đại Lão Hòa Thượng Đàm Hư giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tôi đã gặp Pháp Sư Thể Kính và đã đi cùng thuyền với ông đến Chùa Chánh Giác ở Hồ Bắc. Đi cùng với chúng tôi còn Pháp Sư Thánh Chiếu, Thánh Diệu, Chiếu Định, Nguyen Tường, Nhuận Tuệ, Bổn Tri, Giác Tri, Dung Linh, Linh Quan, Tinh Giới, và những người khác. Tôi đã làm một bài thơ như sau:

Đồng thuyền vượt biển mười bốn Tăng,
Chúng đều tôn quý, chỉ tôi bần.
Áo vá, một bữa, không chi khác,
Ai nấy hủy báng cùng mắng la.

Tại tu viện Chánh Giác, tôi đã tu khổ hạnh và làm những việc như quét dọn, đun nước, chăm sóc vườn, giữ chùa, trông nom Phật Điện, và làm nhiệm vụ tri khách. Công phu thiền định của tôi ngày càng gia tăng hơn. Năm 1947, sau khi đến núi Phổ Đà để thọ Cụ túc giới, tôi đi học giáo lý tại Học viện Phật giáo tại Tu viện Linh Nham Sơn ở Tô Châu. Vào mùa thu, tôi đã đi đến núi Không Thanh dự khóa thiền và trãi qua mùa đông ở đó. Tôi đã bày tỏ sự tôn kính đối với hòa thượng  Minh Quang và hoà thượng Liễu Thừa. Trong tháng đầu năm 1948, tôi rời Thượng Hải đón thuyền đến Tu viện Bảo Thông ở Hồ Bắc.

Khi tôi lên thuyền, tôi không có một xu. Trên thuyền, tôi đã gặp một người bị tật ở chân không thể đi được. Khi tôi trì chú Đại Bi gia hộ cho ông thì ngay lập tức chân ông đã được chữa lành và có thể đi lại được. Điều này làm những hành khác trên thuyền sanh tâm kính tín. Trước khi chia tay, họ đã cúng dường tôi hơn 700.000 nguyên (đơn vị tiền tệ thời đó). Nhờ vậy, tôi đã có thể mua vé xe lửa để đi đến Khúc Giang. Tại nhà ga xe lửa, tôi đã gặp Đại Sư Chu Dịch, một người gốc Hồ Bắc. Khi tôi hỏi, ông nói với tôi ông cũng đang đi đến Tu viện Nam Hoa tại Quảng Đông để thân cận Đại Sư Hư Vân. Tôi hỏi ông, "Ngài có tiền mua vé tàu lửa không?" Ông nói, "Không." Tôi mua cho ông một vé, và cả hai của chúng tôi đã đón tàu đến Mã Bá. Khi xuống tàu, Thầy Chu Dịch nói: "Tôi đói lắm." Sau khi trả tiền tàu, tôi vẫn còn hơn 100.000 nguyên, tôi đã đưa cho thầy dùng bữa sáng. Một lần nữa, tôi không có một xu.
 

Trích http://www.drbachinese.org/vbs/publish/474/vbs474p029.pdf