Cuộc Đời Hòa Thượng Tuyên Hóa

Giới Thiệu
Thời Thơ Ấu
Xuất Gia
Truyền Pháp
Tại Hương Cảng
Mang Pháp Đến Tây Phươngt
Mộ Trung Tăng
Tăng Đoàn Hoa Kỳ Đầu Tiên
Đoạn Đường Khó Khăn
Đại Bát Niết Bàn
Pháp Luân Vô Tận
Phân Ưu

Thời kỳ Mộ Trung Tăng  

Ngài đã giương cao ngọn cờ Chánh Pháp tại Phật Giáo Giảng Đường ở San Francisco. Vì bắt đầu sống trong một tầng hầm ẩm ướt, không cửa sổ, giống như  một phần mộ, nên ngài đã tự gọi mình là “Mộ trung tăng” (Nhà sư trong phần mộ).  

Lúc bấy giờ, cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba diễn ra giữa Mỹ và Liên Bang Nga Sô, ngài đã thực hiện ba mươi lăm ngày tuyệt thực hoàn toàn để cầu nguyện cho việc chấm dứt chiến tranh vì hòa bình thế giới. Vào cuối sự kiện tuyệt thực này, nguy cơ bùng nổ chiến tranh đã được kết thúc.  

Tiến sĩ Ron Epstein, một trong những vị đệ tử đầu tiên của ngài ở Mỹ nhớ lại:

“Năm 1963, ngài rời khu phố người Hoa và dời Giảng Đường Phật Giáo đến tầng thứ nhất ngay góc đường Sutter và Webster sát cạnh khu Fillmore và khu phố Nhật của San Francisco. Sự chuyển dời của Ngài đã đánh dấu cho việc bắt đầu thời kỳ ở ẩn mà ngài tự gọi mình là "Mộ Trung Tăng (nhà Sư trong phần mộ), và đã kéo dài đến năm 1968. Nhân sự việc này, Ngài có làm bài thơ sau để ghi nhớ :  

Gặp đây là vị “tăng trong mộ”
Trên không nhật nguyệt dưới không đèn
Bồ-đề phiền não, băng là nước
Sanh tử Niết-bàn, sắc tức không
Buông hết mọi duyên lìa vọng tưởng
Dứt cuồng tâm lộ giác viên dung
Tự tánh quang minh bừng chứng ngộ
Pháp báo hai thân chẳng khác nhau
(*)

Bấm vào đây để xem phần giảng giải của bài thơ trên.  

Nhiều phật tử người Hoa trong vùng giận dữ vì ngài đã rời khỏi khu phố này. Chỉ còn lại một số ít những đệ tử trung thành nhất của ngài thường xuyên đến viếng thăm và cúng dường ngài. Tuy nhiên, Ngài vẫn chia sẻ hết những gì ngài có được với mọi người ở dãy phòng. Ngài đã để những bao gạo trong những bếp tập thể chung để không ai phải chịu cảnh đói. Thỉnh thoảng, vào những ngày lễ Phật đản hoặc những khi ngài có dư thức ăn, ngài thường mời nhiều người chúng tôi đến để dùng cơm trưa do chính tay ngài nấu. Tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng những thức ăn này rất ngon. 

-          Tiến sĩ Ron Epstein (Quả Dung)

Ngay tại địa điểm đường Sutter này, nơi mà lần đầu tiên ngài tiếp xúc với những thanh thiếu niên người Mỹ ham thích tọa thiền. Một số người đã đến đây mỗi ngày vào giờ tọa thiền từ bảy đến tám giờ mỗi tối, và một vài người Mỹ còn đến tham dự những buổi giảng Kinh do Ngài thuyết pháp như Kinh A Di Đà, Kinh Kim Cang, Tâm Kinh Kệ Tụng, giảng giải Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca, và nhiều phẩm của Kinh Pháp Hoa.  

Tháng 7 năm 1967, ngài dời Giảng Đường Phật Giáo về lại phố Tàu, tọa lạc ngay chùa Thiên Hậu, đánh dấu cho sự chấm dứt thời kỳ “Mộ Trung Tăng”.

  DSC06302.JPG (216951 bytes)

Chùa Thiên Hậu


Chú thích của Ban Phiên Dịch Vĩệt Ngữ VPTT: 

(*) Nguyên văn:

各位今遇墓中僧,上無日月下無燈; 
煩惱菩提冰是水,生死涅槃色即空。 
放下攀緣離諸妄,歇止狂心覺圓融; 
悟得自性光明藏,原來報身即法身


Các vị kim ngộ “mộ trung tăng”

Thượng vô nhật nguyệt hạ vô đăng

Phiền não Bồ-đề băng thị thủy

Sanh tử Niết-bàn sắc tức không

Phóng hạ phan duyên ly chư vọng

Yết chỉ cuồng tâm giác viên dung

Ngộ đắc tự tánh quang minh tạng

Nguyên lai báo thân tức Pháp thân.