Phái Đoàn Pháp Giới, 1983

Giới Thiệu

Sơ Lược Hành Trình

Thư Phái Đoàn - 3 thang 11, 1983
Thu Phái Đoàn - 7 tháng 12, 1983
Một Pháp Hội Đáng Nhớ
Ấn Tượng Thăm Viếng Pagan

Những Ấn Tượng Của Chuyến Thăm Viếng Thành Phố Pagan, Miến Điện


Có một lần Đức Phật đứng trên đỉnh núi Taunggyi, nhìn xuống dòng sông Irrawady và nói rằng, "Sẽ có một ngày Phật pháp được nảy nở bên kia dòng sông." Mảnh đất mà Đức Phật đã từng chỉ hiện nay là Pagan, một thành phố với vô số đền, tháp và chùa. Thành phố Pagan được thành lập vào giữa thế kỷ thứ 11 và thế kỷ thứ 13, và vì mật độ của nhiều kiến trúc (trên 4000 kiến trúc được xây dựng trên diện tích của 1 hải lý vuông) làm cho ta có cảm tưởng như là những thửa ruộng của thành phố Pagan đã mọc lên vụ mùa bằng đền và tháp

Hôm nay nhịp mạch của Phật pháp vẫn đập một cách mạnh mẽ như lúc thành phố Pagan vừa được thành lập. Thật vậy, những người dân địa phương vẫn kính trọng và tôn sùng những đền và tháp đó như tổ tiên của họ đã từng làm trong nhiều thế kỷ qua. Thành phố Pagan là một chứng tích sống động lưu lại một thời khi tư tưởng tâm linh tột đỉnh của con người được biểu tượng bằng những thủ công xây cất thiện xảo. 

Khi hướng mắt nhìn theo những dãy kiến trúc quy mô, tâm không tránh khỏi sự lôi kéo trở vể bên trong. Đó là những tiêu điểm tập trung tâm trí; khi tìm kiếm những hình dáng và đường cong của những kiến trúc thì lục tặc được tĩnh lặng. Những kiến trúc này đóng vai trò như bài mật chú "bằng đá" làm lắng diụ cái tâm điên đảo. Nhất điểm trụ mà những kiến trúc này chia sẻ là sự đưa tâm của chúng ta vào nhất niệm. Pagan là một thành phố diệu kỳ vượt trên ngôn ngữ và thăng hoa vượt qua bất cứ phân biệt nào mà các sử gia và học gia cố tìm kiếm. "Đại Thừa", "Tiểu Thừa" ..., những danh từ này đều bị tan biến bởi sự kết hợp do những kiến trúc này chiêu cảm. 

 

The Dharma Realm Buddhist University Delegation visits one of the thousands of Pagodas at Pagan

Phái đoàn Đại Học Phật Giaó Pháp Giới đang thăm viếng một trong hàng ngàn tháp miếu tại Pagan.
 

Một Bảo Tháp của Pagan


Có một bảo tháp tại Pagan mà tất cả mọi người trong phái đoàn điều muốn chiêm bái. Tất cả chúng tôi ai cũng muốn đến đó để thăm viếng mặc dù hướng dẫn viên ngỏ ý không muốn đưa chúng tôi đi. Chúng tôi tự mình tìm đến bảo tháp này. Ở bên trong tháp chúng tôi tìm thấy một tượng của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Bên ngoài  vòng khắp từ chân tháp đến đỉnh tháp miêu tả nhiều hình hóa thân của Ngài, trám khằp những lỗ nhỏ và khe hở của tháp. Có hàng trăm hàng trăm hình ảnh trên chót đỉnh. Chúng tôi thường kinh nghiệm cảm giác của Kinh Hoa Nghiêm với chư Phật và chư Bồ Tát nhiều như vi trần lúc ở bên trong và bên ngoài các tháp miếu mà chúng tôi thăm viếng. 

Tâm Giống Như Nhau 

Chúng tôi nhận thấy một cảm giác đặc biệt tại một Thọ Giới Đường lúc chúng tôi thăm viếng Pegan,. Chúng tôi đi vào trong, đảnh lễ và toạ thiền với những tăng sĩ Nguyên Thủy cùng đi chung với chúng tôi. Có hai hướng dẫn viên và một vài người làm việc từ các cánh đồng tụ họp chung quanh. Khi chúng tôi ra ngoài thì có một cuộc đối thoại rất hứng thú về giới y. Tất cả dân chúng cư ngụ tại vùng này của Miến Điện đều được dạy từ lúc còn nhỏ là tăng sĩ theo truyền thống Nguyên Thủy quấn y màu vàng mới là tăng sĩ. Bất cứ tu sĩ nào mặc y khác đi thì dưới mắt họ người đó không được xem như là một vị tu sĩ - ngay cả chẳng phải là phật tử. Họ lớn lên với sự suy nghĩ và niềm tin như vậy. Cho nên những hướng dẫn viên chăm chú nhìn chúng tôi và cố tình phỏng đoán chúng tôi là những người như thế nào. Đoán biết như vậy, một vài người bắt đầu so sánh y giới của mình với y giới của những tăng sĩ Nguyên Thủy. Chúng tôi trải những y giới ra và đếm số mảnh. Cả hai chiếc y, Đại Thừa và Tiểu Thừa, điều được may đồng một kích thước giống nhau. Chiếc y của sư Tiểu Thừa cũng có một chiếc khoen và một cái móc giống như của chúng tôi thường đuợc sử dụng trong những ngày có nhiều gío. Chiếc khoen và móc cũng có miếng vải đệm hình tam giác may vào y. Khi những hướng dẫn viên nhìn thấy sự tương tợ này, họ vô cùng kinh ngạc. Họ chưa bao giời được biết sự việc như vậy. 
Chúng tôi tụng câu kệ từ Luật Tạng khi đắp y:

Lành thay! Lành thay!
Chíếc áo giải thoát
Mảnh áo phước điền vô thượng.
Con nay xin đê đầu lãnh thọ
Nguyện đời đời kiếp kiếp luôn được mặc.

Khi nghe được câu kệ thì gương mặt những người đó nở cười lớn và các dấu hiệu căng thẳng cũng tan biến. Sự việc mà chúng tôi chiêm bái tại từng thánh điạ cũng gây cho họ sự cảm kích. Chúng tôi không phải chỉ là những du khách. Chúng tôi tôn kính những gì họ tôn kính. Một người đàn ông lên tiếng, "Như vậy, bên ngoài tuy có chút khác biệt, nhưng bên trong tôi chẳng thấy có khác biệt gì cả. Tâm cũng giống như nhau."

Vị sư Nguyên Thủy gật đầu nhấn mạnh, "Đúng. Tâm của chúng ta hoàn toàn giống nhau. Đây đúng là giáo pháp Phật dạy." Bắt đầu từ đó, chúng tôi rất dung hòa với nhóm người này.

Họ Biết Họ Có Những Gì Tại Pagan

Đi đến thành phố Pagan không phải là một chuyện dễ. Bạn phải đối phó với những công ty du lịch của nhà nước và nhiều thủ tục quan liêu khó khăn và cản trở. Nếu không có thành tâm, có lẽ chúng tôi không bao giờ vượt qua được những thủ tục và thói quan liêu. Chúng tôi có cảm tưởng có lẽ họ cố tình làm như vậy vì họ biết họ có những gì tại Pagan và không muốn để cho những người du khách đến chỉ để chụp hình, uống rượu cốc-tay và ra đi. 

Một nguyên nhân khác là vì trong quá khứ có nhiều người đến từ Âu Châu đã phá hủy hình tượng của chư Phật bằng cách lấy đầu của các tượng Phật đem đi, chỉ để lại thân. Khi ở Á Châu chúng tôi thấy nhiều tượng Phật và Bồ Tát không có đầu. Khi đến Âu Châu, thì chúng tôi thấy những tượng Phật không có thân mình, chỉ có đầu được triển lãm tại các viện bảo tàng. Những người muốn kiếm cách làm giàu và các nhà khảo cổ đã lấy đầu của các tượng Phật đưa về Âu Châu. Những tượng Phật không đầu vẫn còn tồn tại ở Á Châu. Thành phố Pagan là một ngoại lệ của sự kiện này. Ở đây hầu hết đầu và thân của các tượng vẫn còn nguyên vẹn . Lý do vì chính phủ đã bỏ rất nhiều công sức giữ gìn không cho những người muốn kiếm cách làm giàu có cơ hội lai vãng. 

Thành phố Pagan rất xa cách với thế giới tân tiến. Trong lúc đi bộ trên con đường đất với vị tăng sĩ đang hướng dẫn chúng tôi, vị thầy này nói nhiều người đến thành phố Pagan là những người hành hương từ những nơi khác của Miến Điện. Họ rất cung kính. Như, khi một tu sĩ đi ngang qua thì họ cởi bỏ giày và tránh sang một bên để đảnh lễ, sau đó mang giầy vào và tiếp tục đi. Tăng đoàn tại đây được họ đối xử một cách vô cùng kính trọng. Tất cả các tăng sĩ điều cầm bình bát đi khất thực mỗi ngày. Tôi còn nhớ khi chúng tôi đang đảnh lễ vòng quanh một ngôi bảo tháp vào một buổi sáng, khi lạy lên lên cao và bất chợt nhìn xuống phía bên làng thì nhận thấy một vị tu sĩ đang đi khất thực. Thật là một cảnh đầy ấn tượng khi thấy vị sư ấy sửa chiếc y từ khi còn đứng ngoài bìa mỗi làng, sắp xếp cho mọi thứ được chỉnh tề và ngay thẳng, đặt bình bát cho đúng vị trí và bước đi chậm rãi trong chánh niệm đến từng nhà, đứng trước cửa nhà và không nhìn sang hai bên. Một thí chủ, đứa bé hoặc người lớn đi ra khỏi nhà mang theo thức ăn. Người thí chủ đi đến một bên của vị sư, đặt thức ăn vào bình bát và quay gót trở vào nhà. Họ không trao đổi với nhau một lời nào. Vị tu sĩ không nhìn sang bất cứ bên nào. Sau đó vị tu sĩ chỉnh lại chíếc y cho ngay thẳng và cất thêm một vài bước trong chánh niệm để đi đến ngôi nhà kế bên. 

Ngay cả những trẻ em cũng hiểu rõ đạo lý trưởng dưởng công đức. Có khi chúng tôi đi chiêm bái các bảo tháp trong đêm tối. Những hành lang tối đen như đường hầm và quanh co như những mê cung lên đến tận nóc của tháp. Có nhiều ngõ ra qua cửa sổ và cửa thường ở đỉnh tháp. Khi chúng tôi đi xuống những đường hầm này vào lúc ban đêm thì rất tối. Lúc đó những trẻ em cầm đèn đi đến để dắt chúng tôi xuống. Khi chúng tôi xuống đến tận cùng thì các em chắp tay lại và nói "Cảm ơn" với chúng tôi. Thông thường bạn nghĩ chúng tôi phải là người nói lên lời cảm tạ với các em, nhưng các em lại muốn tỏ lòng biết ơn vì chúng tôi đã cho các em cơ hội để đưa đường. 

Ở vùng này của Miến Điện đời sống bên trong và bên ngoài tu viện không khác biệt nhiều lắm. Bởi vì dân chúng sống rất đơn giản. Họ có ít ham muốn và có lòng tôn kính tăng đoàn. Họ cũng là những người biết tự trọng và ngay thẳng. Tinh thần đạo đức của họ rất cao. Họ vẫn chưa bị ô nhiễm. Họ biết tuân theo quy củ như những người lương thiện. Sự kiện này chuyển đạt một cảm giác thanh tịnh cả bên trong và bên ngoài Đao tràng. Đây là một cấu trúc xã hội tôn giáo của thời kỳ trước kỷ nghệ và vẫn tồn tại như trong vùng chân không. Chúng tôi chưa từng thấy một nơi nào khác giống như nơi này, kể cả Ấn Độ. 

Những em nhỏ phải tập gặt hái, dọn dẹp, và nấu thức ăn. Các em phải học đan rổ và nắn chén dĩa để dùng. Khi chơi thì các em chơi với những đồ chơi thiên nhiên. Các em dùng sự tưởng tượng để tạo những món đồ chơi làm bằng những vật mà các em có thể tìm được ở chung quanh môi trường sống. Kết quả là các em vui vẻ hài lòng. Các em rất dễ dàng để được thoả mãn. Ngược lại, khi chúng tôi đi đến những thành phố lớn hơn như Kuala Lumpur, Bangkok, và đặc biệt là những thành phố ở Âu Châu thì chúng tôi nhận thấy một sự biến chuyển từ sự thanh bình sang bạo động và bất an hơn. Hình như các trẻ em trưởng thành trước tuổi. Cuối cùng, chúng tôi đi đến thành phố Paris, có lẽ thành phố này là tệ nhất. Chúng tôi thấy nhiều trẻ em nhìn giống như 30, 40 hoặc 50 tuổi. Trong khi các em không thể hơn 8 hoặc 9 tuổi. Hoàn toàn trưởng thành một cách sành sỏi về phương diện thế gian và vô cùng hư hỏng. Cho nên mặc dù những nơi như Miến Điện bị xem như là một nơi "lỗi thời và thiếu văn minh", nhưng về mặt đạo lý, luân lý và trí tuệ, họ tiến bộ hơn nhiều trên nhiều lãnh vực. 

Sau khi đi một chuyến vòng quanh thế giới, chúng tôi cảm thấy nước Mỹ thật sự là một nơi để cho Phật giáo được sinh sôi và nảy nở trong thế giới hiện tại. Đây là một đất nước còn non trẻ và tự do tôn giáo được luật pháp bảo vệ. Vì Mỹ quốc là một cái nơi trộn lẫn nhiều nền văn hoá khác nhau, do đó có khoảng trống để Phật giáo phát triển và sống trở lại mà không bị ép vào khuôn khổ của xã hội. Sau khi đi vòng quanh thế giới và trở về Vạn Phật Thánh Thành, chúng tôi có những kinh nghiệm khó có thể diễn tả bằng lời. Đó là vì nơi đây có một khí lực không thể tìm được ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Không nơi nào chúng tôi có thể mang lại những trạng thái tâm linh và kinh nghiệm như Vạn Phật Thánh Thành. Và không phải tất cả kinh nghiệm đều tốt đẹp. Khi tôi ở tại Vạn Phật Thánh Thành thì tôi bắt đầu nhận ra nhiều lỗi lầm và tật xấu của mình một cách rõ ràng hơn là khi ở một nơi khác cách xa. Ở đây không có chỗ để trốn tránh. Ở bên ngoài thì rất dễ cảm thấy thoải mái. Rất là dễ dàng để rơi vào cảm tưởng tự cho mình là số một vì không có loại ánh sáng này, loại kiếng này, luôn luôn hiện rõ những gì mà chúng ta ưa thích trốn tránh trong ta. Nếu bạn muốn ghìm nó lại để xem nó ở đâu thì bạn sẽ không tìm được nó. Nhưng cái đó lại hiện hữu tại Vạn Phật Thánh Thành. Cái đó có khắp. Cái đó ở mọi nơi. Mặc dù ở ngoài rất thoải mái, nhưng không dễ để được chơn thật và trưởng thành. Còn ở Vạn Phật Thánh Thành mặc dù không thoải mái, nhưng sự không thoải mái đó thật sự là sự lớn mạnh của chơn ngã. Đó thật sự là liều thuốc tốt. Mỗi lần tôi đến Thánh Thành, tôi lại thích cái cảm giác không thoải mái ở đây vì tôi biết đây đúng là thuốc mà tôi đang cần. Chính vì lý do này, điều này khó có thể diễn đạt bằng lời, làm cho Vạn Phật Thánh Thành rất đặc biệt và là một niềm hy vọng cho Phật giáo. Phật giáo tùy thuộc sự thay đổi của con người từ bên trong, thay đổi từ tâm. 

Kim Cang Bồ Đề Hải, Tháng 5, năm 1984