Những Đóng Góp Xuất Bản

Giới Thiệu

Kinh Điển

Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Hoa Nghiêm

Kinh Pháp Hoa

Kinh A Di Đà

Tâm Kinh

Kinh Địa Tạng

Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn

Khai Thị

Lắng Nghe và Suy Nghĩ

Bảo Tạng

Khai Thị

Sách Tiểu Sử

Hòa Thượng Hư Vân Họa Truyện

Hòa Thượng Tuyên Hóa Ký Sự

Cao Tăng Truyện

Phật thuyết Kinh A Di Ðà

 

The Buddha Speaks of Amitabha Sutra

Tất cả chư Phật đều có cõi Tịnh Độ. Mặc dầu quốc độ Phật nhiều như số cát sông Hằng, nhưng  chỉ có kinh A Di Đà là đức Thế Tôn tự thuyết mà không cần thưa thỉnh, tất cả chư Phật đều đồng thanh tán thán cõi Tịnh Độ ở phương Tây (của Đức A Di Đà). Vì thế, sự thù thắng của kinh A Di Đà là không thể nghĩ bàn.

KInh A Di Đà trong bản Hoa văn chưa đến hai ngàn chữ, là bộ kinh ngắn nhất trong ba Kinh về Tịnh Độ (Tịnh Độ Tam Kinh)[1]. Song, qua bao thế hệ, kinh A Di Đà luôn là bộ kinh nền tảng cho các hành giả  tu tập trì danh niệm Phât và hành trì pháp môn Tịnh Độ.

Pháp môn nhất tâm trì danh hiệu Phật dường như dễ dàng, nhưng đạo lý trong đó rất thâm diệu. Thực ra, tất cả các pháp môn đều không rời [2]. Dễ dàng đến ngay cả  người căn cơ thấp kém nhất, miễn là họ thành tâm trì niệm thì sẽ được vãng sanh Tịnh Độ.

Người thượng, trung, và hạ căn đều có thể hành trì pháp môn niệm Phật, và người  lợi căn hay độn căn  đồng được nhiếp thọ”.  Vì thế, “ một câu A Di Đà Phật, là vua trong các Pháp, gồm thâu cả ngũ thời bát giáo”[3].

Nếu người hành giả có thể chân thực và thành tâm trì niệm danh hiệu Phật, thì người ấy nhất định sẽ đến được “Đạo tràng thường, tịch, quang” (Thường Tịch Quang Tịnh Độ)[4].Trong suốt chiều dài lịch sử, các tổ sư của nhiều tông phái cũng thực hành theo giáo lý Tịnh Độ. Hy vọng Đại chúng sách tấn lẫn nhau và cùng nhau tu tập để chóng được vãng sanh cõi Tịnh mà viên thành Phật đạo. 

Vajra Bodhi Sea, June 1994

Chú thích của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

[1] Tịnh độ Tam kinh: Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà.

Tịnh độ Ngũ kinh: Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà, Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, và Kinh Thủ Lăng Nghiêm Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông.

[2] Không rời sự “vãng sanh” tức là không rời sự “thành Phật” bởi vì “Hoa khai kiến Phật ngộ ‘Vô sanh’” và cũng bởi vì tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, thị hiện nơi thế gian đều là vì một đại sự nhân duyên là khiến cho tất cả chúng sanh “khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến”, nói một cách: khiến cho chúng sanh đều thành Phật như các Ngài. Tất cả các pháp các Ngài dạy đều để đưa tới “Nhất thừa”, chính là Phật thừa vậy.

 

[3] A Di Đà Phật vạn pháp vương

Ngũ thời bát giáo tận hàm tàng

Hành nhân đản năng chuyên trì tụng

Tất chí tịch quang bất động tràng.

 

[4] Căn cứ vào “Tây phương Hiệp luận” đã ghi chép, thì Tịnh độ có 10 loại không đồng nhau. Nhưng ở đây chỉ nói về NHẤT TÂM TỊNH ÐỘ và BẤT KHẢ TƯ NGHỊ TỊNH ÐỘ có liên quan đến chúng ta.

  •  NHẤT TÂM TỊNH ÐỘ

Nhất tâm Tịnh độ là nương nơi tâm mà biến hiện và tùy theo công năng tu chứng cao thấp nên có phân ra bốn bậc không đồng:

a/ Phàm Thánh đồng cư Tịnh độ

Ðây là quốc độ của hàng Nhị thừa và nhân thiên. Nhị thừa là Thánh, nhân thiên là phàm. Thánh phàm cùng ở chung nên gọi là Phàm Thánh đồng cư, lại vì tính chất tịnh uế không đồng mà có chia thành hai thứ. Như cõi Ta-bà là đồng cư uế độ, cõi Cực lạc là đồng cư Tịnh độ.

b/ Phương tiện hữu dư Tịnh độ

Ðây là cảnh giới an trú của hàng Tiểu thừa. Hàng Tiểu thừa nhờ đoạn Kiến Tư hoặc nên thoát ly tam giới.Kiến hoặc là sự mê lầm về kiến thức. Tư hoặc là sự mê lầm về tư tưởng. Trên con đường tu chứng, đoạn trừ Kiến Tư hoặc chỉ là mới đạt phương tiện, chưa đạt cứu cánh. Cần phải tiến lên nữa và phải đoạn hai món mê lầm là Trần sa hoặc và Vô minh hoặc. Trần sa hoặc là sự mê lầm nhỏ nhặt như vi trần. Vô minh hoặc là sự mê lầm cội gốc do căn bản vô minh gây nên. Ðoạn Kiến hoặc và Tư hoặc chỉ là đạt phương tiện, hành giả phải tiến tu thêm nữa. Vì vậy gọi là phương tiện hữu dư. Hữu dư nghĩa là còn sót, chưa rốt ráo.

c/ Thật báo vô chướng ngại Tịnh độ

Ðây là cảnh giới an trú của các vị đại Bồ-tát. Chư Bồ-tát nương theo phương pháp chân thật mà tu hành, cảm được quả báo thù thắng chân thật; sắc giới (vật chất) cũng như tâm giới (tinh thần) không còn gây chướng ngại đối với Bồ-tát nên gọi là Thật báo vô chướng ngại. Ðây là cảnh giới của các vị Bồ-tát tu chứng.

d/ Thường tịch quang Tịnh độ

Ðây là cảnh giới đại Niết-bàn của chư Phật an trú. Thể tánh cảnh giới này thường vắng lặng mà vẫn thường quang minh, vì do trí tuệ của Phật hằng thường tỏa cùng khắp. Vì thế nên gọi là Thường Tịch Quang Tịnh độ. Thường Tịch nghĩa là thường vắng lặng. Thường Quang là thường soi sáng.

  • BẤT KHẢ TƯ NGHỊ TỊNH ÐỘ

Bất khả tư nghị Tịnh độ là cảnh giới Cực lạc của Ðức Phật A-di-đà, để thâu nhiếp, tiếp nhận chúng sanh trong mười phương. Sức thâu nhiếp ấy không thể nghĩ bàn, vì ngoài sức tư tưởng và luận bàn của chúng sanh.

Cõi Cực lạc Tịnh độ là mục tiêu chính để cho chúng ta tập trung tất cả lực lượng tư tưởng vào đó. Nếu thật chứng được một cõi Tịnh độ ấy thì bao nhiêu cõi Tịnh độ khác cũng đều chứng được.