Vietnamese | English
Th
ử Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Đối Với Nền Phật HọcTrần Do Bân
Dịch từ nguyên bản Hoa Ngữ : Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích Phật Học Cống Hiến
đăng trên nguyệt san Vajra Bodhi Sea từ số tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997.
![]()
![]()
Mục Lục:
Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu
Phần 1: Động Cơ Nghiên Cứu
Phần 2: Chọn Lựa Tài Liệu
Phần 3: Phương Pháp Nghiên Cứu và Mục Tiêu Dự Định
Phần 4: Tóm Tắt Toàn Bộ Luận Án
Phần 5: Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên HóaPhần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Phần 2: Anh Linh và Sự Siêu ĐộPhần 3: Chay Thuần Khiết và Chay Giả Mặn
Phần 4: Khí Công và Tà, Chánh
Phần 5: Quy Y và Phong Bì Đỏ
Phần 6: Luôn Mặc Áo Giới và Ăn Ngày Một BữaChương Thứ Ba: Giảng Kinh
Chương Thứ Tư: Lão Tử và Trang Tử
Chương Thứ Năm: Sanh Tử
Chương Thứ Sáu: Bát Nhã
Chương Thứ Bảy: Thần Dị
Chương Thứ Tám: Viên Tịch
Chương Thứ Chín: Kết Luận
![]()
![]()
Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu
Từ năm 1989 khi tôi quy y với Hòa Thượng Tuyên Hóa và trong suốt sáu năm kế tiếp, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng Hòa Thượng sẽ rời bỏ cõi Ta Bà này sớm như vậy. Phải chăng do chúng sanh chúng ta bạc phước cho nên Đại Sư Ấn Quang, Đại Sư Hoằng Nhất, Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân, Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, cùng nhiều bậc cao tăng đã theo nhau viên tịch, và luôn cả người mà Lão Hòa Thượng Hư Vân đích thân trao truyền Pháp mạch là ngài Tuyên Hóa cũng chẳng nán lại lâu hơn nữa? Điều này khiến cho tôi không khỏi không ngớt ngậm ngùi thương tiếc.
Những người đã biết Hòa Thượng đều biết rằng Ngài suốt đời nghiêm trì hạnh nguyện "giữa ngày ăn một bữa, tối ngủ không nằm" và thực hành Sáu Đại Tông Chỉ. Đặc biệt trong thời Mạt Pháp nhiễu nhương, Hòa Thượng lại càng là biểu hiệu vững chắc của Chánh Pháp, và là ánh sáng soi đường cho chúng sanh. Hòa Thượng không sợ sự hủy báng của loài ma - đến đâu Ngài cũng xiển dương Kinh Lăng Nghiêm, tuyên giảng Chánh Pháp, phá tà hiển chánh. Sau khi Hòa Thượng nhập Niết Bàn, tôi muốn tổng hợp và quy nạp những lời nói và việc làm, cũng như những điều không nói và không làm trong suốt cuộc đời của Ngài, mục đích là để cho người đời nhân đó mà có được "Trạch Pháp Nhãn", có thể phân biệt tà chánh, đúng sai. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới có thể ngăn chặn đà suy vi của Phật Giáo, giữ cho Phật Giáo khỏi bị nhận chìm bởi tà thuyết của ngoại đạo. Tôi tin rằng tất cả các Phật tử đều không muốn thấy chuyện đó xảy ra.
Những cống hiến trong suốt cuộc đời của Hòa Thượng cho nền Phật Học đã được các đệ tử của Ngài sưu tập rất chi tiết, đặc biệt là trong bộ kỷ yếu "Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Truy Tư Kỷ Niệm Truyền Tập” I và II mới xuất bản gần đây nhất. Những tập sách này, nói chung, đã giới thiệu quan điểm của Ngài về vấn đề giáo dục, phiên dịch kinh điển, hoằng dương Phật Pháp, chế độ Tăng Già, tinh thần yêu nước yêu dân, luân lý đạo đức, đoàn kết Đại Thừa và Tiểu Thừa, dung hợp tất cả các tôn giáo, v. v...một cách tường tận; do đó ở đây sẽ không tra cứu bình luận lại nữa. Trọng tâm nghiên cứu của văn bản này là những lời dạy của Hòa Thượng về như thế nào mới là chánh tín chân chánh của Phật Giáo, thế nào mới là Chánh Pháp, cùng các chứng cớ đằng sau những lời giảng giải kinh điển của Ngài. Đó chính là động cơ nghiên cứu của văn bản này.
Các tài liệu dùng trong văn bản nầy chủ yếu lấy từ các sách do Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới tại Hoa Kỳ phát hành; cũng như từ nguyệt san của Vạn Phật Thánh Thành (Kim Cang Bồ Đề Hải - Vajra Bodhi Sea), nguyệt san Trí Huệ Chi Nguyên xuất bản tại Cao Hùng, Đài Loan; các bài khai thị từ các băng ghi âm và các sách báo, tạp chí, bài tường thuật trong các chuyến hoằng pháp ở Đông Nam Á; nhiều bản tin từ các tập san hay báo chí; các bài nói chuyện của đệ tử của Hòa Thượng; các Pháp ngữ khai thị của lịch đại Tổ Sư; và các cảm ứng do tín chúng kể lại.
Về nội dung khai thị của Hòa Thượng, ngoại trừ những trường hợp quan trọng, có tính cách đặc thù, tôi mới ghi chú xuất xứ và thời điểm; còn lại thì đều có thể tìm thấy trong các sách và băng ghi âm do Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới phát hành.
Phần 3: Phương Pháp Nghiên Cứu và Mục Tiêu Dự Định
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận án này là lấy tất cả lời giảng từ sách và băng ghi âm khai thị của Hòa Thượng lúc sanh thời làm chuẩn, thêm vào đó là các lời giảng giải của Ngài về kinh điển cũng như về hành trạng của lịch đại Tổ Sư, nhằm phán đoán các vấn đề Phật Học một cách khách quan; rồi tiến tới tìm hiểu cách nhìn và khai thị của Ngài đối với Phật Học.
Chúng ta đều biết rằng phần nhiều nội dung khai thị của Hòa Thượng là nhằm dùng phương tiện để hóa độ các đệ tử người Hoa Kỳ vào một thời điểm nào đó, bao gồm các vấn đề như thọ trì giới không giữ tiền hoặc không đụng đến tiền bạc (trì ngân tiền giới), ăn ngày một bữa, không sát sanh, không phá thai, không đốt giấy vàng bạc, giáo dục nam nữ, v.v... Hòa Thượng đã vượt hàng ngàn dặm để mang Phật Pháp đến Hoa Kỳ, với hy vọng lập nên một chế độ "Phật Giáo như Pháp.” Vì lý do đó, lắm lúc những lời khai thị của Ngài nghe có vẻ “lạnh lùng, không tình cảm,” thậm chí có đôi khi khiến người ta không chấp nhận được và nghĩ rằng Ngài chỉ một mực phê bình người khác; mà không chịu hiểu là Ngài đã tốn biết bao tâm huyết để giáo hoá các chúng sanh cang cường, căn cơ hạ liệt, và đằng sau những lời lẽ nghiêm khắc đó của Ngài ẩn chứa biết bao "máu và nước mắt"!
Hòa Thượng đã từng nói:
"Tôi đến đây là để chuẩn bị giáo hóa người Hoa Kỳ. Đối tượng giáo hóa của tôi là người Hoa Kỳ, không phải người Trung Hoa. Người Trung Hoa chỉ là phụ thôi.
Muốn tôi lên trời, cũng chẳng khó; giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất.
Muốn tôi chui xuống đất, cũng chẳng khó; giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất.
Muốn gà trống đẻ trứng, cũng chẳng khó; giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất.”
Từ đó chúng ta có thể nhận thức được quyết tâm giáo hóa người Hoa Kỳ của Hòa Thượng. Tuy rằng đó là một công việc vô cùng khó khăn, thế nhưng, cuối cùng Hòa Thượng đã làm được. Ngài đã lập kỷ lục về sự hiện diện của Tăng tướng và kiến tạo những đạo tràng với chế độ Tăng Già “như Pháp” ngay tại đất nước Hoa Kỳ.
Ở đây cũng kỳ vọng rằng trong tương lai, tinh thần Phật Giáo chân chánh này sẽ tiếp tục được duy trì tại các nước phương Tây. Đây là lời kêu gọi ý thức "Phật Giáo hưng vong, nhân nhân hữu trách,” để Chánh Pháp được mãi mãi tồn tại trong nhân gian; và đó cũng chính là mục tiêu của văn bản nầy.
Phần 4: Tóm Tắt Toàn Bộ Luận Án
Bản luận án này gồm có chín chương.
Chương đầu tiên là "Lời Giới Thiệu."
Chương thứ hai là "Chánh Pháp", được chia làm năm tiểu mục; chủ yếu là thảo luận các vấn đề về Chánh Pháp, Mạt Pháp, anh linh (linh hồn của trẻ con), ăn chay, khí công, phong bì đỏ, mặc giới y, và các đề tài khác, lấy những lời khai thị của Hòa Thượng để làm chuẩn, và trích dẫn thêm những chứng minh từ các kinh điển; mục đích chính là phá tan một số lý luận có tính cách “ngoại đạo theo Phật, có vẻ đúng mà sai” (lý thuyết từ những tôn giáo khác xen lẫn với Phật Giáo để trở thành một thứ có vẻ như Phật Giáo, nhưng thực chất thì không phải.)
Chương thứ ba là "Giảng Kinh", giới thiệu các kinh điển Hòa Thượng đã giảng, cũng như những công trình mà tôi mệnh danh là "ba cuốn cẩm nang" (tam quyết) của Ngài: Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sớ Giải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải.
Chương thứ tư là "Lão Tử và Trang Tử", đem phương thức khai thị "chánh ngôn nhược phản" (lời dạy mang ý nghĩa ngược lại) của Hòa Thượng phối hợp với học thuyết của Lão Tử, để độc giả càng hiểu rõ hơn về phương thức “thân giáo” và “ngôn giáo” của Hòa Thượng, thì mới không đến nỗi hiểu lầm dụng ý khổ tâm khai thị của Ngài. Đây chính là tinh thần "Đại Từ Đại Bi, gần như tàn nhẫn.”
Chương thứ năm là "Sanh Tử", phân tích gốc rễ của sanh tử và tiến thêm một bước thảo luận về vấn đề nam nữ. Đây là một vấn đề mà suốt đời Hòa Thượng không ngừng nhấn mạnh, bởi vì “vạn ác dâm vi thủ” (dâm dục là điều ác lớn nhất trong tất cả các điều ác). Do đó chương này có lẽ cũng khá “khó tiếp nhận” một chút!
Chương thứ sáu là "Bát Nhã", giới thiệu những lời đối đáp nhạy bén, sâu sắc của Hòa Thượng trước các câu hỏi của tín chúng. Những lời này có thể giúp người ta được khai mở "trí huệ của tự tánh"; bởi:
Thấy sự, hiểu rõ, vượt thế gian,
Thấy sự, mê lầm, mãi chìm đắm.
Lời thô, lời tế nhị,
Đều về đệ nhất nghĩa!
(Kiến sự tỉnh sự, xuất thế gian,
Kiến sự mê sự, đọa trầm luân,
Thô ngôn cập tế ngữ,
Giai quy đệ nhất nghĩa.)
Chương thứ bảy là "Thần Dị", nêu lên ba “thần tích” của Hòa Thượng, đồng thời nói rõ kiến giải phân biệt của Ngài về thần thông, và làm sáng tỏ những ngộ nhận của ngoại giới đối với thần thông.Chương thứ tám là "Viên Tịch", nói rõ các "nhân duyên" khác nhau của lịch đại Tổ Sư thị hiện lúc lâm chung và viên tịch; đồng thời đề xuất rằng “thần tích” cùng “đoan tướng” không hẳn là biểu hiện của sự thành tựu. Sự thành tựu chân chánh của một người phải được quyết định qua sự cống hiến và tu trì trong suốt cuộc đời, cũng như sự quan tâm về chúng sanh của người đó.
Chương thứ chín là "Kết Luận", mô tả Hòa Thượng đã quan tâm về chúng sanh như thế nào, giải quyết vấn đề giáo dục và phiên dịch kinh điển ra sao, đồng thời Ngài đã làm thế nào để dung hợp Phật Giáo Nam Truyền với Bắc Truyền.
Trên đây là đại cương của toàn bộ luận án, thành kính xin được chỉ giáo.
Phần 5: Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa
Hoà Thượng vốn họ Bạch, tên tục là Ngọc-Thư, Pháp danh là An-Từ, tự Ðộ Luân, và Tuyên Hóa là Pháp hiệu do Lão Hòa Thượng Hư Vân đặc biệt tặng cho khi Ngài thọ lãnh sứ mạng làm người kế thừa truyền Pháp đời thứ chín của Thiền Tông Quy-Ngưỡng. Ngài sinh ngày 16 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), tại tỉnh Kiết Lâm, huyện Song-Thành, tỉnh Tùng-Giang, Ðông Bắc Trung Hoa (tức Mãn Châu). Thân phụ Ngài tên Phú Hải, chuyên nghề nông; thân mẫu thuộc dòng dõi họ Hồ, sinh được tám người con, năm trai ba gái, và Ngài là út.
Thân mẫu Ngài thọ chay trường, niệm Phật chẳng hề gián đoạn. Một đêm nọ bà mộng thấy Ðức Phật A-Di-Ðà hiện thân, phóng hào quang chiếu sáng khắp thế giới, chấn động thiên địa. Giật mình tỉnh giấc, bà ngửi thấy mùi hương kỳ diệu khắp phòng, rồi sau đó hạ sanh Ngài. Ngài vừa ra đời liền khóc suốt ba ngày đêm, chính là vì đau xót cho nỗi khổ của thế giới Ta Bà này vậy.
Năm Ngài mười một tuổi, một hôm cùng chúng bạn dạo chơi, Ngài chợt trông thấy một em bé miệng ngậm, mắt nhắm, nằm bó trong đám rơm. Ngài gọi mà đứa bé chẳng đáp, rờ thì chẳng có hơi thở. Ngài lấy làm khó hiểu vô cùng nên hỏi lũ bạn. Có kẻ hiểu biết nên liền nói : "Ðứa bé đã chết rồi!" Song Ngài vẫn vô cùng ngạc nhiên, không hiểu thế nào là chết. Về nhà, Ngài thưa hỏi thân mẫu, bà dạy : "Phàm làm người, ai cũng phải chết. Có kẻ chết già, có kẻ chết vì bệnh, cũng có kẻ chết vì tai nạn. Bất luận là giầu sang hay nghèo hèn, ai ai rốt cuộc cũng phải chết cả !" Ngài lại thưa : "Như vậy, có cách gì thoát khỏi sự chết chăng ?" Bấy giờ trong nhà có vị khách xưa kia từng tu Ðạo, đỡ lời đáp rằng : "Chỉ có cách tu Ðạo, hiểu rõ tự tâm, thấu suốt bổn tánh, thì mới có thể chấm dứt sanh tử, thoát vòng luân hồi, thành tựu Chánh Giác, chứng được Vô Sanh."
Tuy lúc đó Ngài còn nhỏ tuổi, song đối với lời vị khách nói, Ngài tỉnh ngộ sâu xa, nên quyết chí xuất gia tu Ðạo. Khi Ngài mang chuyện xuất gia thưa với thân mẫu, bà dạy : "Xuất gia là điều tốt lắm, song không phải là chuyện dễ làm. Cần có thiện căn, có đại nguyện lực, phát đại Bồ Ðề tâm, thì mới có thể thành tựu Vô Thượng Ðạo. Nay con có lòng vậy, ta hết sức đồng ý! Song, nay ta đã già, mà các anh chị con đều đã tự lập; vậy con nên ở lại để phụng dưỡng cha mẹ; khi ta mất rồi, con xuất gia tu hành cũng chưa muộn."
Ngài vâng lời cha mẹ. Sau đó, hằng ngày Ngài thường theo thân mẫu lạy Phật. Lạy Phật xong, Ngài lạy cha mẹ. Rồi vì nhận thấy thế giới này còn lớn hơn cả cha mẹ, nên Ngài hướng về trời, đất, vua, sư trưởng mà lạy. Ngài lại nghĩ đến những người tốt trên thế giới mà lạy, thầm tạ ơn họ về các việc thiện họ đã làm. Nhận thấy những người ác thật đáng thương, Ngài lại vì họ mà lạy, mong sao nghiệp chướng của họ được giảm bớt và họ sớm biết hối cải. Mỗi ngày Ngài lại nghĩ thêm những người khác để lạy; nên về sau, bất kể thời tiết, mỗi ngày Ngài đều đặn lạy 837 lạy vào buổi sáng và 837 lạy vào buổi tối.
Ngày lại ngày, Ngài cung kính phụng dưỡng song thân như đối với Ðức Phật vậỵ Chẳng bao lâu tiếng hiếu thảo đồn khắp bốn phương, và mọi người đều gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con chí hiếu họ Bạch).
Năm Ngài mười chín tuổi thì gặp phải tang thân mẫu. Sau khi chu toàn việc mai táng, Ngài đến Chùa Tam Duyên lạy Lão Hòa Thượng Thường Trí làm Thầy, và xuống tóc xuất gia. Sau đó, Ngài về lại mộ phần thân mẫu thủ hiếu trong ba năm. Suốt thời gian ấy, Ngài sống trong một túp lều tranh nhỏ, ngày ngày tọa Thiền, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa và niệm danh hiệu Phật A-Di-Ðà . Rất nhiều lần Ngài ngồi Thiền rồi nhập Ðịnh, liên tiếp trong nhiều tuần lễ chẳng rời thiền sàng. Một đêm nọ, dân trong thôn gần đó hốt hoảng thấy túp lều tranh của Ngài hừng hực lửa đỏ. Ánh lửa hồng phừng thẳng lên giữa không trung và túp lều tranh thì sáng rực như ban ngày. Song, khi tới nơi mọi người thấy túp lều tranh vẫn bình lặng, và Ngài thì an nhiên, tĩnh mặc trong Thiền Ðịnh!
Có lần Ngài đang tọa Thiền thì chợt có vị khách đến viếng. Vị khách ấy, ngạc nhiên thay, chính là Lục Tổ Huệ Năng! Ðức Tổ Sư dạy Ngài rằng trong tương lai Ngài sẽ đến Mỹ Quốc để độ sinh, rằng ở Tây Phương Ngài sẽ gặp nhiều kẻ hữu duyên có thể hoằng dương Phật Pháp, và sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Mãi đến lúc Ðức Tổ Sư từ biệt quay đi rồi, Ngài mới choàng tỉnh, sực nhớ rằng Ðức Huệ Năng vốn là người đời Ðường, khoảng 1.200 năm về trước!
Năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc, tình trạng giao thông trong nước đã bắt đầu dễ dàng trở lại. Ngài bèn tìm xuống phía Nam để đến Chùa Nam Hoa ở Tào Khê, tỉnh Quảng Ðông, đảnh lễ Lão Hòa Thượng Hư Vân, và đến núi Phổ Ðà để thọ Cụ Túc Giới. Cuối cùng, trải hơn 3.000 dặm, Ngài đã được bái kiến Lão Hòa Thượng Hư Vân, bậc Ðại Thiện Tri Thức mà Ngài bấy lâu ngưỡng mộ.
Vừa nhìn thấy Ngài, Lão Hòa Thượng, lúc ấy đã 109 tuổi, liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Ngài. Khi đó, Lão Hòa Thượng nói : "Như thị, như thị!" và Ngài cũng đáp lại "Như thị, như thị !" Biết Ngài là bậc 'pháp khí', Lão Hòa Thượng Hư Vân ấn chứng sở đắc của Ngài, và Ngài chính thức trở thành vị tổ thứ chín của Thiền Tông Quy Ngưỡng. Lão Hòa Thượng Hư Vân đã bày tỏ sự tin tưởng vào Ngài qua bài kệ:
Tuyên Quy diệu nghĩa chấn gia thanh,
Hóa thừa Linh nhạc Pháp Đạo long,
Độ dĩ tứ lục truyền tâm ấn,
Luân triền vô hưu tế khổ luân.
Sau đó, Lão Hòa Thượng dạy Ngài ở lại đảm nhận chức Viện Trưởng Viện Giới Luật Chùa Nam Hoa.
Năm 1949, Ngài từ giã Chùa Nam Hoa, lên đường sang Hương Cảng, và sống trong một sơn động biệt lập. Chẳng bao lâu, có vô số tăng lữ từ Trung Hoa Ðại Lục qua Hương Cảng tị nạn và cần sự giúp đỡ của Ngài. Ứng với nhân duyên, Ngài rời sơn động, sáng lập Phật Giáo Giảng Ðường, Chùa Tây Lạc Viên và Từ Hưng Thiền Tự, cùng trợ giúp xây dựng và trùng tu nhiều đạo tràng khác. Trong suốt mười hai năm ở Hương Cảng, Ngài là tấm gương sáng khổ hạnh, tinh tấn tu Ðạo, vì Pháp quên mình. Ngài đã ảnh hưởng vô số thiện nam tín nữ, khiến họ phát tâm Bồ Ðề, quy y Tam Bảo, ủng hộ Phật Pháp.
Hòa Thượng Tuyên Hóa vốn nuôi chí nguyện đem Chánh Pháp truyền bá đến khắp nơi trên toàn thế giới, nên năm 1961, Ngài sang Úc Châu hoằng Pháp; và năm sau, 1962, Ngài đến San Francisco, Mỹ Quốc. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cơ duyên hoằng dương Ðạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Ngài tự gọi mình là Mộ Trung Tăng (nhà sư trong phần mộ), và Hoạt Tử Nhân (người đã chết nhưng còn sống).
Năm 1968, biết cơ duyên đã đến, Ngài nói :"Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh." Mùa hè năm ấy, Ngài chủ trì Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ xin xuất gia với Ngài. Từ đó, Ngài chủ trì nhiều Pháp hội khác giảng giải Tâm Kinh, Kinh Ðịa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Ðàn, v. v.. Năm 1971, Ngài giảng bộ Kinh tối cao của Ðại Thừa, Kinh Hoa Nghiêm.
Song song với việc giảng Kinh thuyết Pháp, Ngài còn làm vô số công đức độ sinh khác. Năm 1976, Ngài thành lập Vạn Phật Thánh Thành, nền tảng căn cứ địa để hoằng dương Phật Pháp tại Mỹ Quốc. Tại Thánh Thành, Ngài xây dựng chế độ tùng lâm, đào tạo Tăng Ni học chúng, tạo nhân duyên thù thắng cho sự chân chánh tu hành. Ngài chủ trương rằng tất cả Phật tử cần phải đoàn kết lại và nên dung hợp Nam ,Bắc Tông. Vì thế, nhiều dịp truyền thọ Tam Ðàn Ðại Giới tổ chức tại Vạn Phật Thánh Thành là do chư cao tăng Ðại Thừa và Tiểu Thừa hợp lực chủ trì.
Tại Vạn Phật Thánh Thành, Ngài đã làm bài kệ nói lên quyết tâm của mình:
Đống tử bất phan duyên,
Ngạ tử bất hóa duyên,
Cùng tử bất cầu duyên.
Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên,
Bao định ngã môn tam đại tông chỉ.
Xả mạng vi Phật sự,
Tạo mạng vi bổn sự,
Chánh mạng vi Tăng sự.
Tức sự minh lý, minh lý tức sự,
Thối hành Tổ Sư nhất mạch tâm truyền.
Tạm dịch:
Dù rét chết, không phan duyên.
Dù đói chết, không van nài.
Dù nghèo chết, không cầu cạnh.
Tùy theo nhân duyên, nhưng không đổi chí hướng.
Không đổi đạo phong, nhưng vẫn thuận theo ngoại cảnh.
Xả mình vì Phật sự.
Cứu người là bổn phận.
Sửa đời là việc Tăng.
Hễ gặp việc gì thì thấu suốt việc ấy
Hiểu đạo lý gì thì thực hiện đạo lý ấy
Vậy mới truyền thừa mạch huyết Tổ sư tâm truyền.
Năm 1980, Ngài thành lập Trung Tâm Cứu Tế Nạn Dân, một tổ chức cứu trợ xã hội bất vụ lợi được chính phủ Hoa Kỳ ủy quyền để cứu tế, cung cấp các lớp huấn nghệ và Anh ngữ, đồng thời giúp tái định cư người tỵ nạn từ Việt Nam, Lào, Cambodia. Trung tâm này đóng cửa vào năm 1986 theo quyết định của chính phủ.
Với tinh thần "vì Pháp quên mình," Hòa Thượng không quản khó nhọc, thường xuyên đến các đạo tràng trong và ngoài nước để hoằng dương Phật Pháp. Ngài được mọi giới kính ngưỡng vì nếp sống khổ hạnh và nghiêm trì Giới Luật của Ngài. Trong thời Mạt Pháp mà nhiều người không tôn trọng Giới Luật này, Ngài đã nêu gương sáng và khuyến khích nếp sống khổ hạnh bằng cách chỉ ăn mỗi ngày một bữa vào giờ ngọ và ban đêm thì ngủ ngồi chứ không nằm.
Bình sanh, Ngài sống nhẫn nhục, khoan dung, nhịn ăn nhiều lần để hồi hướng công đức cho chúng sanh. Cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở nước Cuba vào năm 1962 đã xảy ra không bao lâu sau khi Ngài đến Hoa Kỳ; Ngài đã tuyệt thực năm tuần lễ để hồi hướng cho nền hòa bình thế giới. Vào dịp Ngài du hành Ðài Loan năm 1989, Ngài đã nhịn ăn ba tuần lễ để hồi hướng cho dân chúng Ðài Loan. Sau đó, Ngài lại đi hoằng Pháp tại nhiều nước Châu Âu.
Mặc dầu tuổi Ngài đã cao nhưng Ngài vẫn không muốn nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Suốt ba mươi năm liên tục, Ngài đã đăng đàn thuyết Pháp và giảng luận kinh điển Phật Giáo, giương cao ngọn đèn rực rỡ của trí huệ để soi đường cho chúng sanh đang chìm đắm trong đêm tối của thời đại Mạt Pháp này. Chính trong lúc Ngài đang bệnh để gánh chịu khổ nạn cho chúng sanh, Ngài vẫn kiên trì tiếp tục đại nguyện diễn dịch kinh điển Phật Giáo.
Ngày 7 tháng 6 năm 1995 (nhằm ngày 10 tháng 5 năm Ất Hợi), Hòa Thượng Tuyên Hóa thị hiện viên tịch tại Los Angeles, Mỹ Quốc; trao lại cho các đệ tử ba trách nhiệm quan yếu : (1) tiếp tục hoằng dương Phật Pháp, (2) phiên dịch kinh điển Phật Giáo, và (3) hoàn mãn sự nghiệp giáo dục.
Vâng theo di huấn của Ngài, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đều chuyên tâm trì tụng Kinh Hoa Nghiêm và niệm Phật suốt 49 ngày kể từ hôm Ngài viên tịch. Ngày 12 tháng 6, 1995, Lễ Nhập Quan được cử hành tại Long Beach Thánh Tự; và đến ngày 16 tháng 6, kim quan của Ngài được cung thỉnh về Vạn Phật Thánh Thành. Tại đây Ðại Lễ Truy Ân được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7, và sau Thánh Lễ Trà Tỳ, tro cốt của Ngài được rải trên địa phận của Vạn Phật Thánh Thành đúng như lời di giáo của Ngài:
"Khi tôi đến, tôi không có gì cả; khi tôi đi, tôi vẫn không có gì cả. Tôi không muốn để lại dấu vết gì trên thế gian. Tôi từ hư không đến. Tôi sẽ trở về hư không!"Dù cho Ngài không muốn để lại một dấu vết nào trên thế gian này, nhưng công đức hoằng Pháp tại Tây Phương, phiên dịch kinh điển, thiết lập đạo tràng và học đường của Ngài lúc còn tại thế đã gieo hạt giống Bồ Ðề và đã gây được ảnh hưởng sâu rộng đến các tầng lớp dân chúng Tây Phương. Những dấu ấn đó của Ngài sẽ không bao giờ phai mờ với thời gian !
Ngày 23 tháng 6 năm 1996, đúng một năm sau ngày Hòa Thượng Tuyên Hóa nhập Niết Bàn, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới long trọng tổ chức Lễ Cung Thỉnh Xá Lợi Hòa Thượng Về Các Ðạo Tràng Chi Nhánh. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã vĩnh viễn ra đi, nhưng trong tâm trí mọi người vẫn âm vang lời di huấn của Ngài : "Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng !"
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp. Các thời kỳ Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất, nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết ước định thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mạt Pháp là 10.000 năm. Trong thời Chánh Pháp (chánh có nghĩa là chứng), mặc dầu Đức Phật đã diệt độ, nhưng Pháp nghi vẫn không thay đổi. Có giáo pháp, có sự hành trì, và có người chứng đắc quả vị--đó gọi là thời kỳ Chánh Pháp, và còn được mệnh danh là thời kỳ "Thiền Định kiên cố". Trong thời Tượng Pháp (tượng có nghĩa là biểu tượng), tuy vẫn có giáo pháp, có sự hành trì, nhưng số người chứng đắc quả vị thì rất ít; thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ "tự miếu kiên cố". Trong thời Mạt Pháp (mạt có nghĩa là suy vi, yếu kém), Phật Pháp trở nên suy tàn, chỉ có giáo pháp chứ không có sự hành trì, và càng không có người chứng đắc quả vị. Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ "đấu tranh kiên cố". Đây là lời giải thích thông thường về ba thời kỳ "Chánh, Tượng và Mạt" của Phật Pháp.
Thế nhưng, Hòa Thượng định nghĩa về Chánh Pháp như sau:
"Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh giả lợi, không tham của cúng dường — đó chính là Chánh Pháp trụ thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng đến tiền bạc, đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!"
Thậm chí Hòa Thượng còn giảng nghĩa một cách đơn giản hơn nữa:
"Nếu quý vị có thể không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!".
Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép: "Khi [Pháp] trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp." Trong quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói: "Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt Pháp." Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết Mạt Pháp được xuất hiện trong Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, phần Nguyệt Tạng, và trong Kinh Pháp Diệt Tận. Về sau, thuyết Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN), trong bài văn phát nguyện của Thiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (Nam Nhạc Tư Thiền Sư Lập Thệ Nguyện Văn). Thiền Sư Huệ Tư đã tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác. Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến thế gian này. Đời nhà Tùy (589-618 SCN), Thiền Sư Tín Hành đề xướng "giáo pháp ba giai đoạn" (tam giai giáo) với Nhất Thừa là giai đoạn đầu tiên, Tam Thừa là giai đoạn thứ nhì, và Phổ Pháp (toàn bộ lời dạy của Đức Phật) là giai đoạn thứ ba.
Trong đời nhà Đường (618-905 SCN), Đại Sư Đạo Trác và Đại Sư Thiện Đạo có nói rằng đương thời là đã vào thời Mạt Pháp, và chủ trương "thời giáo tương ưng" (khế hợp giáo pháp với thời đại), khuyến khích người đời tu pháp môn Niệm Phật. Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của Thập Tụng Luật, Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
Năm điều này là:
1. Tôn Trọng Chánh Giáo. Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh mà tiến tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
2. Chỉ Tức Sân Ác (đình chỉ nóng giận và ác độc). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo luôn luôn thực hành hạnh nhẫn nhục, không nóng giận, danh tiếng về đức độ lan xa làm cho mọi người đều quay về và dốc lòng kính ngưỡng; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
3. Kính Sư Thượng Tòa (tôn kính phụng sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
4. Ái Lạc Chánh Pháp (trân quý Chánh Pháp). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo trân quý thâm sâu những điều pháp nghe được từ các bậc thượng tọa, trưởng lão kỳ cựu, và vui mừng thực hành theo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
5. Thiện Hối Sơ Tập (giải thích kỹ càng cho kẻ sơ học). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo phương tiện diễn nói pháp Đại Thừa một cách khéo léo, làm cho những kẻ mới bắt đầu học Phật Pháp có thể dựa vào để tiến tu trên đường Đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
Vào thời Mạt Pháp chúng sanh không thể liên tục phân biệt đuợc chánh tà, đến nỗi nhiều người muốn vào cửa Phật nhưng đã vào lầm cửa mà tu hành. Đó là do họ thiếu "Trạch Pháp Nhãn." Mặc dầu trong thời Mạt Pháp, hiện tượng "mắt cá xen lẫn ngọc trai" trong cửa Phật không phải là ít, song nguyện lực của Hòa Thượng rất rõ ràng:
"Tôi nhất định phục hưng Chánh Pháp. Tôi chỉ cho phép Phật Giáo có Chánh Pháp chứ không có Mạt Pháp! Bất cứ nơi nào tôi đến, nơi đó sẽ có phước đức, trí huệ và được giảm bớt tai ương. Đây là nguyện lực của tôi. Do đó, không quản khả năng giới hạn của mình, tôi đi khắp nơi tuyên thuyết Chánh Pháp và hành trì Chánh Pháp."
Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép: "Trong thời Mạt Pháp sẽ có mười hai vạn (120.000) vị Đại Bồ Tát trì Pháp, khiến cho bất diệt." Từ đó có thể biết được rằng nguyện lực "không cho phép có Mạt Pháp" của Hòa Thượng há chẳng phải chính là tâm đại từ đại bi của chư Như Lai hay sao?
Hòa Thượng đã cảm khái rằng:
Phật Pháp vị diệt, Tăng tự diệt,
Đạo đức ưng tu, nhân bất tu,
Lão thật chân thành chiêu vật cơ,
Hư ngụy giảo hoạt thọ bao ưu.
Cử thế ngũ trược thanh thậm tiễn.
Chúng sanh tam túy tỉnh vô thu,
Ân cần ký ngữ Tăng thanh bối,
Chấn hưng Phật Pháp tại Tỳ Kheo.
Tạm dịch:
Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt,
Đạo đức cần tu, chẳng ai tu,
Thành thật chân chánh, bị chế diễu,
Gian ngoa xảo trá, được tán dương.
Thế giới Ngũ Trựơc híếm thanh tịnh,
Chúng sanh say Ba Độc chẳng tỉnh,
Ân cần nhắn nhủ Tăng Ni trẻ:
Chấn hưng Phật Giáo cậy Tỳ Kheo!
Trong Phật Giáo không thể có 99%--nếu chỉ một phần nhỏ trong Phật Giáo là giả dối, thì đó không còn là "Chánh Pháp" nữa! Do đó chúng ta phải phân biệt thật rõ ràng, bởi vì trong các chùa chiền đều có cả "tà pháp và ngoại đạo". Phật Giáo có câu: "Thà cả ngàn năm chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo". Nếu chúng ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (trong Kinh Lăng Nghiêm) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến thuộc của loài ma mà chính mình lại không hay không biết!
Nhân đây, người viết xin giới thiệu bảy điểm rất quan trọng trong việc phân biệt chánh tà:
1. Vị Thầy lấy việc trao đổi chồng vợ, nam nữ hoang dâm, buông thả vô độ, làm mồi nhử để thu hút đồ chúng, và xem như là phương tiện để cứu thế gian; đó là tà.
2. Vị Thầy khơi dậy lòng tham của đồ chúng bằng cách nói rằng mình có thể dùng bùa, chú, và thần tài để giúp họ trở nên giàu có; đó là tà.
3. Vị Thầy khuyến khích trực tiếp hay gián tiếp việc giết hại chúng sanh và ăn thịt chúng sanh, còn nói rằng mình có thể dùng bùa chú để cứu độ vong linh của những chúng sanh bị ăn thịt; đó là tà.
4. Vị Thầy thực hành các loại khổ hạnh kỳ dị, tự làm thương tổn để tác động chúng sanh, và gọi đó là chịu khổ thay cho chúng sanh; đó là tà.
5. Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm "công cụ" để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.
6. Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của "tín, giải, tu, chứng," còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.
7. Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà.
Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Một lần nọ, có một Phật tử hỏi:
"Hòa Thượng thường nói rằng:
Chân thật nhận lỗi mình,
Không bàn lỗi người khác,
Lỗi người là lỗi mình,
Đồng thể tức Đại Bi.
Thế nhưng tại sao Hòa Thượng lại thường công khai phê bình, bàn luận thị phi về người khác và đăng trong Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea - nguyệt san của Vạn Phật Thánh Thành)? Như vậy phải chăng là nói một đường, làm một nẻo?"
Hòa Thượng trả lời:
"Người sẽ bị đọa địa ngục là tôi chứ không phải ông. Nếu những gì tôi nói là đúng sự thật, thì đó không phải là thị phi; nếu không đúng sự thật, thì tôi chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục. Nếu có kẻ nói rằng bậc đại tu hành không bị nhân quả, thì quả báo là 500 đời làm thân chồn (hồ ly).
Nếu tôi chối bỏ nhân quả--gọi đen là trắng, gọi trắng là đen, nói đúng thành sai, nói sai thành đúng - nói những điều không đúng thật, thì tôi sẽ bị đọa địa ngục Bạt Thiệt (rút lưỡi). Nếu tôi không nói sai, thì tôi không có tội.
Mạnh Tử có nói: ‘Ta há phải thích biện luận đâu! Ta cũng bất đắc dĩ đó thôi! Nếu cái đạo của Dương Tử và Mặc Tử không tắt đi, thì cái đạo của Khổng Tử chẳng được sáng rỡ vậy!’ (1)
Tại sao tôi thích nói 'thị, phi’ (điều đúng và điều sai)? Vì trong Phật Giáo có quá nhiều 'thị, phi’!
Lại còn nào là hắc giáo (giáo phái đen), bạch giáo (giáo phái trắng), hoàng giáo (giáo phái vàng), hồng giáo (giáo phái đỏ) ... thảy đều biến thành nhiều màu sắc khác nhau, đến hoa cả mắt. Ngay cả đen cũng không biết mình là đen, trắng cũng chẳng hay mình là trắng. Cho nên, tôi muốn nói ra những điều mà người khác không dám nói; nếu quý vị có ai không hài lòng thì cũng không sao, tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi là kẻ chuyên môn đả phá tà tri tà kiến của người khác!"
Từ đoạn nói chuyện trên, chúng ta có thể thấu rõ được tâm từ bi bao la không đành lòng thấy chúng sanh bị đau khổ của Hòa Thượng. Đó gọi là "đại từ đại bi, gần như tàn nhẫn", và chính là thiện xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh của bậc Bồ Tát. Hòa Thượng có lần viết bài thơ nói lên quyết tâm của Ngài:
"Tôi muốn nói lời thật,
Không sợ bị đánh, chửi.
Giết tôi, tôi chẳng sợ,
Giải thoát, có gì ngại?"
Hòa Thượng Hư Vân đã nói:
"Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật."
Ngài còn nhấn mạnh: