English and Chinese | Vietnamese

Kỷ Niệm 40 Năm Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea)

 

Hồi Tưởng Của Các Chủ Bút và Thành Viên Ban Biên Tập

Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải: Những khởi đầu cát tường

Từ Cổ Ngữ Đến Bồ Đề Hải

Kỷ Niệm 40 Năm Kim Cang Bồ Đề Hải

Bài Học Quư Giá

Kim Cang Bồ Đề Hải: Phật Pháp Sống Động

Nhớ Lại Những Ngày Làm Chủ Bút Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải


 

Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải: Những khởi đầu cát tường

Ron Epstein

(Chủ Bút từ năm 1970 đến 1976)

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ bốn mươi của Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải, tôi gởi những lời chúc mừng chân thành tới các chủ bút và nhân viên, đồng thời với tất cả những ai trong quá khứ đă làm việc hết ḿnh cho sự thành công của tạp chí được coi như là ấn phẩm hàng đầu của Phật giáo này.

Gần đây, vị chủ bút hiện thời của nguyệt san là Pháp sư Hằng Mao đă nhắc tôi rằng tôi là vị chủ bút đầu tiên của nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải và muốn tôi viết vài lời về việc nguyệt san đă khởi đầu thế nào. Trước khi làm vậy, tôi muốn nói rơ rằng, tuy rằng cái chức danh của tôi nghe khá mỹ miều, nhưng cá nhân tôi th́ chỉ đóng góp chút ít cho sự thành công của Bồ Đề Hải. Trường hợp của tôi lúc đó phần lớn là do Ḥa Thượng (Tuyên Hóa) đă trao cho tôi đội một cái mũ cao mà tôi không xứng đáng. Trong những ngày đầu xuất bản, tất cả những ǵ tôi đă làm là thực hiện một số phiên dịch ngắn. Và rồi sau đó, thỉnh thoảng tôi đóng góp một vài bài báo hay phiên dịch. Tất cả là vậy.

Giáo Sư Epstein (giữa) tham gia lớp Giảng Kinh Lăng Nghiêm vào năm 1968. Phía trước mặt Giáo sư là một phần Kinh Lăng Nghiêm do Hoà Thượng viết theo lối thư pháp.

Ư tưởng về tạp chí Bồ Đề Hải đều là của Ḥa Thượng. Vào lúc ấy, chẳng có một tờ báo nào bằng tiếng Anh giống như vậy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Ngay từ đầu, Ḥa Thượng đă muốn một ấn phẩm song ngữ Anh – Hoa, nhưng Ngài nhận ra rằng Ngài phải chờ cho đến khi có được một nhóm người đủ khả năng để làm phần Tiếng Trung Hoa. Nếu chúng ta đọc số đầu tiên, chúng ta chắc hẳn có thể hiểu rơ về tầm nh́n của Ḥa Thượng và những vị đệ tử trẻ người Mỹ đă hiểu về điều ấy thế nào, gồm cả Tăng đoàn và cư sĩ, những người đă làm việc để đưa điều ấy trở thành hiện thực. Mặc dù bản in của số này bây giờ là một vật báu Phật Pháp hiếm có, quí vị có thể dễ dàng t́m thấy trực tuyến ở trên mạng tại địa chỉ http://www.drbachinese.org/vbs/publish/1/index.htm .

Quí vị cũng có thể t́m thấy thư pháp Hoa ngữ cho nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải - Jingang Putihai ở trên trang b́a của số này được chính đích thân Ḥa thượng viết. Khi chúng ta nh́n sâu vào sau trang b́a, chúng ta sẽ nh́n thấy những phần mà bây giờ trở thành dạng thức tiêu chuẩn của nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải. Ngay phần đầu của số đầu tiên này là những lời trích dẫn đầu tiên của phần chú giải về Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn mà Ḥa thượng đă giảng suốt mùa hè năm 1969. Tiếp theo đó là một mục đặc biệt trực chỉ, dựa trên những b́nh luận của Ḥa thượng, có tên là “Kiếm Chém Ma”, bài này đă phê phán mạnh mẽ những vị thầy dạy Pháp mạo danh và cảnh tỉnh mọi người trong việc nhận biết những yếu tố tạo nên một vị Pháp Sư Phật Giáo chân chánh và giáo pháp Phật Giáo chân chánh. Cùng với phần tiếp theo của bài này trong số thứ hai, bài báo này đă vạch trần những kẻ giả mạo ở tại địa phương - vốn đang có rất nhiều người như vậy. Khi đọc nó, một vị thủ lĩnh và những người đi theo ông ta đă tức giận xông lên tầng bốn của Giảng Đường Phật Giáo tại phố Người Hoa, chỉ để bị khuất phục bởi những vị Hộ Pháp trước khi họ có thể vào đến chùa, nên họ đă nhanh chóng rời đi ngày sau khi vừa tới, hoàn toàn run sợ, không có một điều ǵ để nói, và họ “cúp đuôi chạy mất”.

Hai bài tiếp theo, “Nghiên cứu Phật Giáo trong thời đại Khoa học” và “Tại sao xuất gia?”, bốn bài cuối: “Tin tức Phật Giáo”, “Lịch tŕnh Pháp Hội”, “Họ Ngồi 84 ngày bất động” (nói về khoá tu mùa hè năm 1969) và “Thư ngỏ từ các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ny người Mỹ”. Tất cả đều làm nổi bật nên tầm quan trọng của một Tăng đoàn thọ giới Cụ túc thanh tịnh trong giới luật, và sự tự tu hành tinh tấn –quân b́nh việc nghiên cứu học hỏi những lời giáo huấn của chư Phật và việc thiền định cao độ. “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” là phần đăng đầu tiên của Lời tựa về công tŕnh của Ḥa thượng với cùng tựa đề. Lời nói đầu này là sự phê phán đáng chú ư về lịch sử chiến tranh của nhân loại, đoạn băng ghi âm những lời b́nh luận này của Ḥa thượng không may đă bị xóa đi. Pháp sư Hằng Tĩnh sau đó bổ túc vào những ư chính. Trong các số tiếp theo, bên cạnh những bài giảng Kinh của Ḥa thượng, chúng ta thường thấy những nhận xét theo đề tài của Ḥa thượng về những sự kiện quan trọng trong ngày, hoặc trong những bài Khai thị tại chùa hay trong những bài diễn văn ở những buổi gặp gỡ mà Ngài được mời đến.

Cuối cùng, hai bài “A ha!, Thức tỉnh cuộc đời trong mộng của tôi (C̣n bạn th́ sao hả Michael?)” và “ Người học giả tu hành” là những phiên bản đầu tiên của những bài về sau là những tiểu sử ngắn gọn của Tăng sĩ và cư sĩ, đă trở thành tiêu biểu của mỗi một số nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải. Khi nh́n lại số báo đầu tiên này sau bao năm đă trôi qua, tôi có ấn tượng sâu sắc với giọng điệu nhẹ nhàng và nhiệt t́nh, đồng thời chân thành sâu sắc, đầy tự tin, xuyên suốt rất mạnh mẽ của những nhân viên nguyệt san Bồ Đề Hải trẻ tuổi. Vị chủ bút hồi đó là Stephen Lovett (c̣n được biết với tên LoWeiTe, Kuo Chan, sau này là thầy Hằng Quán). Những thành viên khác bao gồm các Pháp Sư Hằng Khiêm, Hằng Tĩnh và Hằng Thọ, và cả Tan Kuo Shih nữa (Madalena Lew), Tan Guo Cheng (Stella Tse), Ku Kuo Ti (Orne Grant), Li Kuo Ch’ien (Kim Lee), Huang Kuo Jen, và Tun Kuo Hsun (Theresa Dinwiddie).

Bồ Đề Hải đă đi một chặng đường dài trong suốt bốn mươi năm. Trước hết, nó đă dạy cho giới trẻ phương Tây về chánh Pháp; về sau những số báo song ngữ đă vươn tới Châu Á và ảnh hưởng tới sự tu hành Đạo Phật của vô số người ở đó. Trong những ngày đen tối của Đạo Phật tại Trung Quốc, những bản in (của nguyệt san Bồ Đề Hải) đă được đưa một cách không chính thức vào đại lục từ Hong Kong, và chuyền tay nhau, từ vị tăng này tới vị tăng khác. Cá nhân tôi đă được nghe họ nói về tầm quan trọng trưởng dưỡng Phật Pháp của nguyệt san này giúp họ trong suốt những thời gian khó khăn đó. Ngày nay, có rất nhiều sinh viên đại học tiếng Trung Hoa đọc báo Kim Cang Bồ Đề Hải trên mạng và họ đă được cuốn hút mạnh mẽ vào những bài giáo huấn của Ḥa thượng. Tôi hy vọng trong tương lai nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải không bao giờ mất đi định hướng của ḿnh và luôn giữ được sự thích hợp lành mạnh đầy nhiệt huyết giữa bao đổi thay.

 

Từ Cổ Ngữ Đến Bồ Đề Hải

 Tỳ Kheo Ni Hằng Hiền

(Chủ Bút từ tháng 10, 1984 đến tháng 12, 1991)

Bốn mươi năm về trước tôi là môt sinh viên học tiếng Phạn tại trường Đại Học Berkely California. Với tôi, lư do căn bản để nghiên cứu các ngôn ngữ cổ là v́ tôi muốn đạt được cái nh́n sâu sắc về trí tuệ của người xưa để hiểu các nhà triết học, thần học và các lời dạy của tôn giáo trong quá khứ. Nhưng giờ đây nh́n lại tôi nghĩ ngôn ngữ tuy là một ch́a khóa nhưng cạm bẫy của sự t́m hiểu đạo pháp từ hướng ngôn ngữ là nó tốn rất nhiều thời gian, và tôi đă ṿng vo lạc hướng khi học các ngôn ngữ.  Tuy nhiên một hôm sau một lớp học tiếng phạn về Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca), tôi đă có một cuộc thảo luận với một thành viên trong lớp.

Anh ấy tên là Ron Epstein, một người trong giống bao nhiêu sinh viên b́nh thường khác, không chú ư ǵ đến tâm linh, đang theo đuổi sự nghiệp học vấn. Có ǵ đó trong buổi thảo luận đă khiến anh ấy nhận ra là tôi rất nghiêm túc quan tâm đến con đường tâm linh, và không lâu sau đó tôi đă nhận được qua bưu điện ấn bản đầu tiên của nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải. Trong đó ông Epstein được giới thiệu là một học giả và cũng là một Phật tử thuần thành.  Anh ta là chủ tịch nhà xuất bản Kim Cang Bồ Đề Hải mới được thành lập, là nơi cho phát hành nguyệt san này. Ấn bản đầu tiên ra mắt vào tháng tư năm 1970, lúc đó báo Kim Cang Bồ Đề Hải c̣n rất nhỏ và in rất giản dị. Mọi thứ toàn bằng tiếng Anh và nó nh́n giống như các tờ “tạp chí nhỏ” khác được ưa chuộng bởi các nhà văn tân tiến thời đó. B́a ngoài tờ báo in màu vàng biểu tượng cho trung tâm và nguyên tố đất (thổ).  Tạp chí nhỏ đó thật khiến tôi sáng mắt ra, nó giúp trả lời những thắc mắc của tôi về những điều quan trọng trong thế gian này và về những chuyện cần làm trên đời. 

Điều đặc biệt nhất của báo Bồ Đề Kim Cang Hải là những câu chuyện về Ḥa Thượng Tuyên Hóa, và nó đă cho tôi biết về ngôi chùa của Ngài tại San Francisco.  Nơi đó có một nhóm người từ nhiều nước đang tu học và điều này khá quan trọng với tôi v́ những người này không bị cô lập với đại cộng đồng trí thức bên ngoài. Nhiều người trong nhóm vốn là sinh viên trường Đại Học Washington và họ đă đến San Francisco để tham dự khóa tu học Kinh Lăng Nghiêm do Ḥa Thượng Tuyên Hóa hướng dẫn. Sau này họ đă chuyển từ Seattle về học tại vùng vịnh San Francisco để được ở gần bên cạnh Ḥa Thượng cho dù khi đổi truờng đă khiến họ mất một số điểm học.  Dựa theo các bài trong tạp chí cho thấy đây là một nhóm khá ấn tượng và không lâu sau đó tôi cũng trở thành một trong số thành viên đó. Đă 40 năm trôi qua kể từ khi tôi được biết đến Ḥa Thượng và ngôi chùa của Ngài từ ấn bản đầu tiên của tờ báo Phật Giáo này.  Giờ đây các bài học tiếng Phạn (Sanscrit) hàng tháng của tôi về Kinh A Di Đà đă được in lại, lần này bằng máy điện toán và theo dạng song ngữ, cũng vừa hoàn tất trong số báo này – đúng lúc cho dịp kỷ niệm bốn mươi năm của báo Kim Cang Bồ Đề Hải.

 

Kỷ Niệm 40 Năm Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea)

Tỳ Kheo Ni Hằng Trì

Chủ Bút Anh ngữ từ tháng 9/1978 đến tháng 4/1984 và tháng 7/1984 đến tháng 3/1987) (Số báo 100-167, 170-202)

Kim Cang Bồ Đề Hải, một tờ nguyệt san Phật giáo, đã trải qua nhiều thay đổi về nhân sự cũng như hình thức để bước đến năm thứ 40 này. Tuy nhiên các phần mục nội dung đã được Hòa Thượng (Tuyên Hóa) (tổng chủ bút) quy định và điều chỉnh đều được giữ nguyên tương đối ổn định qua các năm, mang đến các bản dịch Anh ngữ Kinh điển Phật giáo đầu tiên và tốt nhất cùng với chú giải của Hòa Thượng bằng ngôn ngữ hiện đại. Chỉ riêng nội dung đó đã khiến Kim Cang Bồ Đề Hải trở thành một nguồn thông tin không bị pha trộn vô giá về giáo lý và phương pháp thực hành Phật giáo.

Ngoài công đức hiển nhiên khi làm một kho lưu trữ giáo lý, trong nhiều thập kỷ, Kim Cang Bồ Đề Hải đã được dùng làm một phương tiện giáo hóa tuyệt vời, qua đó Hòa Thượng đã đưa ra vô số cách thức phương tiện để chỉ dạy các đệ tử của mình. Chúng ta đã học được điều gì nên nói hay không nên nói và tại sao lại như vậy. Chúng ta học nói như thế nào những gì nên nói và nói vào lúc nào.

Sự lựa chọn đúng thời điểm, như được dạy trong Luật tạng, đã được chỉ dạy cho chúng ta qua báo Kim Cang Bồ Đề Hải. Chúng ta đã học cách bày tỏ quan điểm một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Chúng ta học cách bày tỏ quan điểm một cách nhẹ nhàng, quả quyết mà không yếu ớt hay vô ích. Chúng ta cũng học cách bằng cách nào, vào lúc nào, và tai sao sự yên lặng nhiều lúc có thể có mănh lực như lời nói. Chúng ta cũng học phương cách diễn đạt những ý nghĩa quan trọng ẩn trong những câu nói dường như đơn giản. Thực tế, thông qua Kim Cang Bồ Đề Hải, khi chúng ta được chỉ dạy một cách thiện xảo, chúng ta học được cách để ḿnh trở nên khéo léo thiện xảo. Và điều này chứng minh là một trong những món quà Phật pháp vĩ đại nhất mà Sư phụ đã dành tặng cho đệ tử của ngài.

Tôi nhận được bài học đặc biệt với Kim Cang Bồ Đề Hải khi trở thành người chủ bút thứ ba của tờ báo. Tôi đã kế tục một vấn đề nghiêm trọng mà người chủ bút thứ hai để lại: Kim Cang Bồ Đề Hải, đáng lẽ là tờ báo hàng tháng, lại bị chậm trễ nhiều số báo. Nhiệm vụ của tôi bắt kịp lại lịch tŕnh báo, điều đó có nghĩa rằng bằng cách nào đó tôi phải xuất bản những số báo trước trong khi vẫn tiếp tục xuất bản những số hiện tại. Tôi chọn giải quyết việc này bằng cách xuất bản một loạt số báo gồm hai số báo hay ba số báo những số báo dày được thiết kế để bắt kịp thời gian bằng việc cho ra những số báo cũ và mới cùng lúc.

Về nguyên tắc, Hòa Thượng đã đồng ý phương pháp này là một giải pháp hợp lý cho vấn đề này và là tổng chủ bút, ngài đã phê duyêt những số báo khá cồng kềnh này khi được xuất bản. Và như vậy trong vòng khoảng 6 tháng, tôi đã làm những số báo này bắt kịp lịch tŕnh và sau đó bắt đầu xuất bản những số báo đơn lẻ từ thời điểm đó cho đến khi tôi ngừng công việc chủ bút. Tôi đã nghĩ mình xứng đáng được nhận một cái vỗ vai khen nhẹ ...

Mãi sau khi tôi đã thôi chức chủ bút, một hôm Hòa Thượng nói với tôi cảm nghĩ của ngài về việc tôi đã làm. Ngài nói “Con đã lừa dối”. Lời nhận xét của ngài khiến tôi ngạc nhiên và lúng túng.

Không phải Sư phụ đă phê duyêt mi số báo mà con đã xuất bản ư?” Tôi cố gắng hỏi ngài một cách tôn trọng mà không có sự đổ lỗi hay thách thức trong giọng nói hay suy nghĩ của mình.

Ngài đáp “Thầy có chấp thuận. Nhưng thầy không đọc được tiếng Anh và cho rằng con đáng tin cậy trong công việc mình làm. Nào đâu biết rằng con sẽ gian lận.

Tôi gặng hỏi, có chút nài nỉ hơn “Như thế nào? Con đã làm gì mà gian lận?”

Bài học mà Hòa Thượng đã dạy tôi là bài học mà tôi vẫn đang học kể từ lúc đó.

Ngài nói “Con nói với thầy con muốn xuất bản hai hoặc ba số báo mỗi tháng cho đến khi bắt kịp lịch tŕnh. Ý kiến đó tốt. Nhưng việc con đã không làm đó là không cho vào mỗi số báo kết hợp đó tất cả nội dung được yêu cầu dành cho mỗi số. Ví dụ, theo chỉ dẫn của thầy, Kim Cang Bồ Đề Hải mỗi số phải bao gồm mộ bài Phật Tổ Đạo Ảnh - tiểu sử của một vị thánh tăng; một bài Gương Bồ Đề - tiểu sử một vị trong tăng đoàn; một bài Đài Bồ Đề - tiểu sử một vị cư sĩ. Nhưng con đã chuẩn bị số báo gồm hai số, ba số báo mà chỉ có mộ bài Phật Tổ Đạo Ảnh, chỉ một bài Gương Bồ Đề, chỉ một bài Đài Bồ Đề. Chẳng phải đã lừa dối độc giả hay sao? Họ nhận được một với giá gấp đôi - thậm chí gấp ba!”. A... Tôi đã không nói được gì. Sư phụ hoàn toàn đúng. Tôi đã làm việc mà Trung Hoa có câu “Thâu công giảm liệu”.

Những bài học kiểu đó thật khó học nhưng vô giá, và bài học này tôi đã mang theo suốt cuộc đời tu hành của mình, luôn ghi nhớ nếu có điều gì đáng làm thì nó đáng làm đúng đắn và triệt để. Tôi tri ân sâu sắc đến Kim Cang Bồ Đề Hải đã mang đến cho độc giả nội dung vô giá và đóng vai tṛ làm nền tảng để chúng ta đã có được những bài học vô giá.

 

Bài Học Quư Giá

Tỳ Kheo Hằng Lai (Heng Lai)

(Chuyên viên thiết kế h́nh b́a/ Giám Đốc báoVajra Bodhi Sea - Kim Cang Bồ Đề Hải) từ tháng 11 2002 đến nay)

Câu chuyện duy nhất có liên quan đến báo Vajra Bodhi Sea (Kim Cang B Đề Hải) là một bài học kinh nghiệm từ Sư phụ. Chuyện xảy ra trong thời gian tu sửa Tu viện Kim Sơn Tự đầu tiên (tại số 1731 đường 15th, khu Mission). Hồi đó, tôi c̣n là cư sĩ và đang chỉ dẫn cho các vị Tỳ Kheo Ni cách quét hợp chất nối kẽ hở (joint compound) lên tấm ván lát tường sau khi học được pháp này từ một người thiên nguyện. Cuối ngày hôm đó, Ḥa Thượng nói với tôi hăy tập trung vào việc hoàn thành b́a báo Vajra Bodhi Sea cho số tiếp tới.

Bởi vậy, ngày hôm sau, tôi chỉ chú tâm vào việc làm b́a báo Vajra Bodhi Sea. Sau đó, một vị Tỳ Kheo Ni đến và lịch sự nhờ tôi lên lầu để tiếp tục chỉ cho họ cách quét hợp chất nối kẽ hở. Tôi đă quát lên với vị ấy: “Con không có thời gian! Con c̣n phải làm cho xong b́a báo Vajra Bodhi Sea này!”. Và vị ấy lên lầu để thuật lại về phản ứng của tôi. V́ cảm thấy không được hỗ trợ, tất cả các Tỳ Kheo Ni đă cùng rời Kim Sơn Tự vào ngày hôm đó.

Sau đó, Sư phụ gọi tôi lên lầu và hỏi tại sao tôi khiến các vị Tỳ Kheo Ni phải “đ́nh công”. Tôi nói với Sư Phụ rằng tôi phải làm b́a báo Vajra Bodhi Sea. Câu trả lời này không làm Sư phụ hài ḷng và tôi bắt đầu tự quán chiếu về hành vi của tôi.. Buổi tối hôm đó, tôi lạy sám hối trước Ḥa Thượng và toàn thể đại chúng. Tôi nói rằng v́ thiếu kiên nhẫn và bất kính với các Sư tỷ của tôi đă khiến cho họ thất vọng và bỏ đi.

Các vị ấy đă tha lỗi cho tôi và Sư phụ đă chỉ cho tôi thấy cái tâm kiêu ngạo của ḿnh để tôi có thể thay đổi tốt hơn.

 

Kim Cang Bồ Đề Hải: Phật Pháp Sống Động

Viết bởi David Rounds

(Chủ Bút từ tháng 5/1984 đến tháng 6/1984) (Số báo 168-169)

Trong những ngày đầu Hòa Thượng hoằng pháp ở Hoa Kỳ, tôi ở trong một nhóm người Mỹ trẻ tuổi đa dạng tụ tập quanh ngài. Chúng tôi gắn bó với nhau bởi hai thứ. Đầu tiên, chúng tôi nhận Hòa Thượng làm đạo sư, mặc dù ít có người trong chúng tôi từng có kinh nghiệm hay kiến thức về truyền thống tâm linh Á Châu về mối quan hệ Thầy-trò. Bản thân tôi đã không biết làm một đệ tử nghĩa là gì, và tôi cũng chưa từng là một người đệ tử. Tuy nhiên, khi thấy Hòa Thượng lần thứ hai, ngay lập tức tôi biết rằng ngài là sư phụ của mình và đường đời của tôi đã bất ngờ quay 90 độ.

Một điều nữa hình thành nên tôi và các huynh đệ người Mỹ của tôi đó là chúng tôi đã dành thời gian cho phong trào chống đối văn hoá của những năm 60. Điều đó có nghĩa rằng chúng tôi có thể nói chuyện triết lý vào ban đêm nhưng sáng hôm sau rõ ràng chúng tôi không có khả năng thực tiễn và không biết làm bất kỳ thứ gì mà Hòa Thượng muốn chúng tôi làm. Phiên dịch ư? Chúng tôi có thể đã làm một chút dịch thuật ở lớp tiếng Pháp hồi trung học, nhưng đằng này dịch Kinh Phật ư? Và từ tiếng Trung Hoa sao? Nấu đồ chay và ăn chay trường? Ngồi kiết già tĩnh lặng nhiếp tâm? Thọ giới và hơn thế nữa, trì giới? Tất cả những điều đó đều hoàn toàn mới mẻ với chúng tôi, và Sư phụ đã phải dạy chúng tôi mọi điều. Ngài nói không sao nếu chúng tôi không biết cách. Dù sao chúng tôi cũng đã làm, và nếu làm không tốt đẹp thì chỉ cần học hỏi từ những sai lầm của mình và lần sau cố gắng hết sức ḿnh.

Tôi còn nhớ, không ai trong chúng tôi biết gì về xuất bản ấn phẩm hàng tháng. Tuy nhiên chúng tôi cũng đã làm. Hòa Thượng bảo chúng tôi đặt tên tờ báo là Kim Cang Bồ Đề Hải, và chúng tôi đã làm như vậy mặc dù không nhất thiết biết rơ ý nghĩa của những chữ đó. Nếu những số báo đầu tiên giống giấy giới thiệu hơn là một tờ tạp chí thì cũng không sao. Chúng tôi đã đưa ra công chúng. Chúng tôi đang nói với cả thế giới rằng có chúng tôi ở đó. Thời đó chưa có internet. C̣n có cách nào khác hơn để chúng tôi công bố điều mà chúng tôi được biết, chẳng hạn như Kinh điển và một người hiếm có nhất, một vị thầy tâm linh thật sự, đang nhận đệ tử ngay tại khu Mission của San Francisco?

Tôi biết một người thanh niên đang học về kỹ sư hóa học ở New Jersey chỉ t́nh cờ xem một số báo của Kim Cang Bồ Đề Hải trong khu vực ấn phẩm xuất bản định kỳ trong thư viện của trường Đại Học, bàn tay anh dơi theo đôi mắt, anh mở tờ báo, và Pháp căn của anh khai hoa. Anh tìm đường tới California, bái lạy Hòa thượng và xuất gia. Tôi không nghi ngờ rằng rất nhiều người khác cũng thức tỉnh t́m được cuộc sống trong Pháp vì Hòa Thượng đã yêu cầu chúng tôi xuất bản một tờ tạp chí với cái tên bất ngờ là Kim Cang Bồ Đề Hải. 

Đương nhiên bây giờ chúng tôi đều biết cách làm mọi thứ tốt hơn một chút (mặc dù vẫn còn nhiều chỗ cần cải thiện) và thế hệ trẻ hơn có những chuyên môn mà không ai trong những người đệ tử già chúng tôi có khi bắt đầu công việc. Tuy nhiên, bốn mươi năm sau, chúng tôi đã thực hiện một trong số những điều Hòa thượng muốn chúng tôi làm. Xin cảm tạ công lao và sự tận tâm của những người chủ bút tận tụy trong tăng đoàn Tỳ Kheo Ni. Kim Cang Bồ Đề Hải vẫn được phát hành hàng tháng đến các thùng thư, cho chúng ta thông tin tốt lành của Phật pháp sống động.

 

Nhớ Lại Những Ngày Làm Chủ Bút Nguyệt San Kim Cang Bồ Đề Hải

Viết bởi Tỳ Kheo Ni Hằng Vân

(Chủ Bút từ tháng 11/1993 đến tháng 8/1994) (Số báo 282-291)

Đến cuối năm 1988, Hòa Thượng đã thành lập Viện Phật Học Chánh Pháp tại Đài Loan. Từ lúc đó tôi đã phục vụ trong các chùa chi nhánh tại Đài Loan trong nhiều năm. Trong những năm ấy, hàng năm tôi đều về Mỹ và ở lại chừng một tháng. Trước hôm tôi về lại Đài Loan vào tháng 10/1993, tôi điện thoại cho Hòa thượng để chào tạm biệt. Ngài ra chỉ thị “Con ở tại Trụ Sở Điều Hành (vào lúc đó là trụ sở điều hành chính của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới; hiện có tên chính thức là Pḥng Lưu Tr Kinh Văn Pht Giáo) và làm việc với các ấn phẩm của chúng ta”. Tôi đáp “Nhưng bạch Hòa Thượng, hành lý của con đă được kiểm tra và đang được đưa lên máy bay. Con cũng không thể thay đổi vé máy bay được!” Vì sân bay gần Trụ Sở Điều Hành nên tôi đã tới đó và làm thủ tục ghi danh trước khi bay, sau đó tôi mới quay về Trụ Sở Điều Hành điện cho Hòa Thượng. Nhưng ngài cương quyết “Cứ việc hỏi lấy hành lý của con lại”. Tôi đã nghĩ sẽ không thể lấy hành lý về được nữa, nhưng thật bất ngờ, nhân viên hng máy bay đã kéo nó ra khỏi máy bay mà không một câu hỏi. Kinh nghiệm không thể nghĩ bàn ấy đã làm tôi thích thú cho đến ngày hôm nay.

Sau đó, tôi có được cơ hội làm chủ bút nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải cho những số từ 282-291. Trong suốt thời gian làm chủ bút, một số người đề nghị đổi mới về cách trình bày, thiết kế đồ họa, và các phương pháp phân phối của Kim Cang Bồ Đề Hải. Vì thế, Hòa Thượng đã đặc biệt chú ý đến các ấn phẩm Kim Cang Bồ Đề Hải trong giai đoạn đó. Sau khi hoàn thành từng số báo, ban biên tập đọc tờ báo cho Hòa Thượng nghe từng chữ một hoặc đợi ngài tự xem xét, phê bình và cuối cùng là phê chuẩn trước khi đồng ư cho in.

Vì Hòa Thượng đã biểu lộ sự cống hiến như thế đối với báo Kim Cang Bồ Đề Hải, đệ tử chúng tôi không dám sao nhăng và bất cẩn. Trong khi giữ lại các nội dung ban đầu, chúng tôi đã thêm cả mục “Kinh Của Tháng” - giới thiệu ngắn gọn một bộ Kinh được chọn ra mỗi tháng - và mục “Vạn Phật Tín Tương” dành cho Hỏi Đáp Phật Pháp. Thiết kế đồ họa mới được đưa vào, hy vọng làm phong phú thêm nội dung và hình ảnh minh họa. Với sự hợp tác của tứ chúng, Kim Cang Bồ Đề Hải được bổ sung một phong cách mới.

Từ quan điểm của một chủ bút, không khó để có được nguồn nội dung nhờ pháp bảo phong phú mà Hòa Thượng trao cho. Trong đó bao gồm các bài giảng Kinh cho mục “Chánh Pháp Ấn”, thuật lại cuộc đời các vị tổ sư và “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” cho mục “Nhân Vật”, và những pháp thoại của Hòa Thượng dành cho mục “Pháp Vũ”. Pháp tạng vô tận này được xem là cột trụ cho phần nội dung của Kim Cang Bồ Đề Hải. Những mục này được bổ sung với các bài viết khác để hoàn tất từng số báo hàng tháng.

Khía cạnh nhiều thách thức nhất đối với việc làm chủ bút báo Kim Cang Bồ Đề Hải là việc có được bài viết từ những vị trong tăng đoàn và cư sĩ cho mục “Gương Bồ Đề”, một mục viết về các vị trong tăng đoàn, và mục “Đài Bồ Đề” giới thiệu về những hành giả cư sỉ. Hai mục này đã cải tiến có được hình thức rõ ràng kể từ số báo đầu tiên, với 30 năm thành công. Trong những năm đầu của báo Cang Bồ Đề Hải, tôi đã hào hứng chờ đợi để xem ai sẽ được giới thiệu cho số báo tiếp và luôn được khuyến khích và gợi hứng bởi những câu chuyện của các thành viên trong tăng đoàn cũng như các hành giả cư sĩ trong việc tu hành và kết quả đạt được trong việc học Phật pháp của họ. Dù tiếc rằng những mục này đã không còn, tôi có thể thông cảm với những khó khăn của người chủ bút hiện tại.

Khi hồi tưởng về những ngày ở Trụ Sở Điều Hành, sự chỉ bảo và dạy dỗ của Hòa Thượng trở về trong tâm trí tôi. Hồi đó ngài mới mua Viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế, được chỉ định làm tu viện cho nam, còn Trụ Sở Điều Hành được làm tu viện cho n. Hai tu viện này tọa lạc ở thành phố Burlingame và chỉ cách nhau vài phút đi bộ. Ban đầu, chúng tôi không có điện thoại ở Trụ Sở Điều Hành nên có bất tiện trong việc thực hiện những phần việc xuất bản vì luôn có những việc không tránh khỏi nhu cầu cần điện thoại. Kết quả là có một vị cư sĩ đã đưa ra một thin ư là lắp đặt một chiếc điện thoại tại Trụ Sở Điều Hành, nhưng Hòa Thượng đã từ chối lời đề nghị. Thay vào đó, ngài yêu cầu chúng tôi sử dụng điện thoại tại Viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế, nhưng việc đó vẫn c̣n bất tiện. Theo quy củ tu viện, các ni sư cần đi hai người khi vào tu viện của chư tăng. Hòa Thượng cũng yêu cầu chúng tôi đi bộ theo hàng và giữ chánh niệm về oai nghi, và không nói chuyện khi đi cùng nhau. Sau đó, một cư sĩ khác đã đề nghị được cài đặt internet ở Trụ Sở Điều Hành, nhưng Hòa Thượng lại từ chối, ngài nói “Càng nhanh thì càng chậm”. [tốc độ của các thiết bị kỹ thuật đã mang đến sự trì trệ lớn trong sự phát triển tâm linh]. Là một người tu tập trên đường đạo và đối mặt với việc sử dụng rộng rãi của internet và điện thoại, tôi không thkm chế đưc việc suy ngẫm sâu sc về giáo lý sâu xa của Hòa Thượng.

Vào một trong những lần viếng thăm hiếm hoi của Ḥa Thượng tại Trụ Sở Điều Hành, chúng tôi vừa hào hứng vừa hồi hộp. Tôi đã nghĩ rằng Hòa Thượng sẽ hoan hỷ khi thấy chúng tôi chăm chỉ làm việc. Nhưng thật ngạc nhiên, Ngài đi chung quanh tu viện và tìm thấy vài thứ trên bàn làm việc. Ngài khiển trách chúng tôi “Chiếc bàn cần được dọn dẹp!” Quá bất ngờ, tôi nhận được “lời cảnh tỉnh” từ ngài.

Viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế và Trụ Sở Điều Hành của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đã tổ chức lễ khánh thành trong cùng một ngày, 28/5/1994. Mãi đến cuối buổi lễ khánh thành Trụ Sở Điều Hành, khi đám đông đã giải tán thì Hòa Thượng mới xuất hiện. Tôi đoán rằng có lẽ ngài cảm thấy mệt. Khi xuất hiện, ngài bước lên giảng đường trên tầng lầu 3. Một lần nữa, tôi nghĩ ngài sẽ vui mừng khi thấy công việc trang hoàng giảng đường mà chúng tôi đã thực hiện thật tốt đẹp để chào đón Ngài và những vị khách mời thuyết giảng khác. Ngoài việc đặt một tượng Phật phía trước bục phát biểu, chúng tôi cũng trang trí hai bên giảng đường bằng ảnh chư Phật và Bồ Tát. Thật bất ngờ, khi nhìn thấy những h́nh này, Ngài liền rầy chúng tôi “Các vị không biết rằng hình chư Phật và Bồ Tát không nên dùng làm vật trang trí hay sao?” Đây là lần thứ hai tôi nhận được “lời cảnh tỉnh” từ Hòa Thượng.

Giờ thì Hòa Thượng đã ra đi, không thể được “lời cảnh tỉnh” của Hòa Thượng nữa. Nhưng trên hành trình tu tập, tôi đã có được may mắn để nhận được kinh nghiệm đó.